Chế độ kiểm sát Trung Quốc

CHẾ ĐỘ KIỂM SÁT TRUNG QUỐC

 

Tiến sỹ Ngô Phi Phi  

Học viện Kiểm sát viên quốc gia Trung Quốc

 

I. Đặc điểm của chế độ Kiểm sát chủ nghĩa xã hội Trung Quốc

Trong lịch sử văn minh nhân loại, chế độ tư pháp đã trải qua quá trình phát triển lâu dài: chế độ Nhà nước xét xử đã thay thế cho việc trả thù cá nhân. Trong thẩm quyền Nhà nước, quyền tư pháp đã tách ra khỏi quyền hành chính và hình thành cơ quan tư pháp chuyên biệt, chức năng xét xử và chức năng Kiểm sát trong chế độ tư pháp được tiến hành độc lập, từ đó hình thành chế độ Kiểm sát. Với tư cách là một bộ phận quan trọng của chế độ tư pháp, chế độ Kiểm sát có chức năng thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Hiện nay, chế độ Kiểm sát hiện hành ở Trung Quốc Đại lục là chế độ Kiểm sát mang hình thái chủ nghĩa xã hội. Là một bộ phận cơ hữu của chế độ tư pháp hiện đại, chế độ Kiểm sát Trung Quốc mang tính độc lập cấp Nhà nước xây dựng trên cơ sở thể chế chính trị phù hợp với Nhà nước Trung Quốc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời cũng mang những nét đặc thù riêng của mình. Tính chất đặc thù của chế độ Kiểm sát Trung Quốc xuất phát từ bản thân chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa và truyền thống văn hóa, môi trường xã hội hết sức đặc trưng của Trung Quốc, đó cũng là sự lựa chọn tất yếu phù hợp với tình hình đất nước. Những đặc điểm chủ yếu của chế độ Kiểm sát Trung Quốc bao gồm:

1. Cơ quan Kiểm sát là cơ quan cấp Nhà nước trực thuộc Đại hội đại biểu nhân dân Trung Quốc, ngang cấp với cơ quan hành chính và cơ quan xét xử, có vị trí pháp luật độc lập

Hiến pháp Trung Quốc đã xác định chế độ chính trị cơ bản của Nhà nước Trung Quốc là chế độ Đại hội đại biểu nhân dân. Dưới Đại hội đại biểu nhân dân là cơ quan hành chính thực hành quyền hành chính, cơ quan Tòa án thực hành quyền xét xử và cơ quan Kiểm sát thực hành quyền Kiểm sát. Ba cơ quan này cùng trực thuộc Đại hội đại biểu nhân dân và do Đại hội đại biểu nhân dân phụ trách, quản lý. Trong cơ chế quyền lực Nhà nước đó, cơ quan Kiểm sát ngang bằng và hoàn toàn độc lập với cơ quan hành chính, cơ quan Tòa án, từ đó đảm bảo tính độc lập của cơ quan Kiểm sát trong quá trình thực hành quyền Kiểm sát.

Vị trí độc lập của cơ quan Kiểm sát trong Hiến pháp đã chứng minh chế độ Kiểm sát là một bộ phận quan trọng trong chế độ pháp luật chính trị Trung Quốc; phát huy vai trò không thể thay thế trong quá trình đảm bảo việc thực hiện thống nhất, nghiêm minh pháp luật của Nhà nước và xây dựng xã hội công bằng…

2. Cơ quan Kiểm sát là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước; thông qua việc thực hiện chức năng điều tra tội phạm chức vụ, thực hành quyền công tố và giám sát tố tụng duy trì sự thống nhất của pháp chế Nhà nước

Căn cứ quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện Kiểm sát Trung Quốc, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan giám sát pháp luật của Nhà nước, được sự ủy quyền của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc tiến hành giám sát việc thực thi thống nhất và nghiêm minh pháp luật của Nhà nước. Cơ quan Kiểm sát tiến hành giám sát pháp luật dựa trên hai đặc điểm cơ bản là tính Cụ thểtính Chuyên môn. Trong các biện pháp thực hành quyền giám sát pháp luật chuyên môn, cơ quan Kiểm sát Trung Quốc cũng có những chức năng pháp luật tương ứng. Theo quy định của pháp luật, chức năng cơ bản về giám sát pháp luật bao gồm:

Một là, thông qua việc tiến hành điều tra tội phạm chức vụ và các loại tội khác có liên quan, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cán bộ, công chức vi phạm, đảm bảo duy trì tính công bằng, nghiêm minh trong việc thực thi pháp luật của cơ quan Nhà nước, tránh tình trạng lạm dụng chức vụ, quyền hạn, mưu cầu lợi ích các nhân.

Hai là, chức năng công tố, đối với những vụ án đã điều tra xong, cơ quan Kiểm sát căn cứ quy định của pháp luật để đưa ra quyết định có truy tố hay không, đồng thời chuyển hồ sơ vụ án đã quyết định khởi tố cho Tòa án đúng cấp để tiến hành xét xử. Với tư cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện Kiểm sát sẽ chuyển bị can cho Tòa án để tiến hành thẩm tra, thẩm vấn và đưa ra phán quyết; đây được coi là biện pháp giám sát pháp luật đối với tội phạm thông qua thẩm quyền giám sát bằng luật Hình sự.

Ba là, chức năng giám sát tố tụng, là chức năng giám sát pháp luật đối với các hoạt động tố tụng. Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự và Luật Tố tụng hành chính đều có quy định về nguyên tắc giám sát của cơ quan Kiểm sát. Đặc điểm cơ bản của chức năng giám sát tố tụng là cơ quan Kiểm sát không xuất phát từ lợi ích của bất cứ bên đương sự tố tụng nào, cũng không xuất phát từ chủ trương tố tụng hay lợi ích của bản thân cơ quan Kiểm sát, chỉ đại diện pháp luật để thực hành quyền giám sát. Tiêu chuẩn duy nhất của giám sát tố tụng chính là pháp luật, đối tượng bị giám sát là các cơ quan thực thi pháp luật của Nhà nước, nội dung giám sát là các hoạt động thực thi pháp luật và quyết định xử lý có phù hợp với quy định của pháp luật hay không.

3. Cơ quan Kiểm sát thực hiện chế độ phụ trách trong hệ thống Viện Kiểm sát, Viện Kiểm sát cấp trên lãnh đọ Viện Kiểm sát cấp dưới

Tiến trình phát triển đặc thù của chế độ Kiểm sát Trung Quốc đã quyết định chế độ lãnh đạo của cơ quan Kiểm sát Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt so với các quốc gia khác. Ở Trung Quốc, hệ thống lãnh đạo trong nội bộ cơ quan Kiểm sát không tuân theo chế độ phụ trách độc lập của Viện trưởng Viện Kiểm sát (hoặc chế độ phụ trách độc lập của Kiểm sát viên) mà là chế độ phụ trách kết hợp giữa Viện trưởng Viện Kiểm sát phụ trách và tập thể Ủy ban Kiểm sát lãnh đạo. Viện trưởng Viện Kiểm sát và Ủy ban Kiểm sát đều có quyền lãnh đạo cơ quan Kiểm sát. Viện trưởng Viện Kiểm sát là Thủ trưởng lãnh đạo và phụ trách chung công tác của Viện Kiểm sát, Ủy ban Kiểm sát là hình thức tổ chức của lãnh đạo tập thể, tiến hành thảo luận và quyết định những vụ án trọng điểm và giải quyết những vấn đề lớn khác trong công tác Kiểm sát; làm việc theo nguyên tắc biểu quyết thiểu số phục tùng đa số, do Viện trưởng Viện Kiểm sát tổ chức nhất quán thực hiện. Hệ thống lãnh đạo nội bộ này vừa phù hợp với yêu cầu thống nhất trong hệ thống cơ quan Kiểm sát, nâng cao hiệu quả công tác lại vừa phù hợp với chế độ tập trung dân chủ được áp dụng phổ biến trong hệ thống các cơ quan nhà nước hiện nay ở Trung Quốc.

II. Tổ chức và thể chế cơ quan Kiểm sát Trung Quốc

1. Hệ thống tổ chức của cơ quan Kiểm sát

Tính chất đặc thù của chế độ dân chủ Trung Quốc quyết định việc bộ máy tổ chức của cơ quan Kiểm sát Trung Quốc có những đặc điểm riêng. Bộ máy tổ chức của cơ quan Kiểm sát Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở tương xứng với bộ máy tổ chức của cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính và cơ quan Tòa án, đồng thời cũng dựa trên nguyên tắc xây dựng cần thiết của công tác Kiểm sát. Hệ thống bộ máy tổ chức cơ quan Kiểm sát Trung Quốc bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân chuyên môn. Viện Kiểm sát nhân dân chuyên môn tại Trung Quốc chính là Viện Kiểm sát quân sự.

2. Chế độ lãnh đạo cơ quan Kiểm sát Trung Quốc

Theo quy định của Luật tổ chức Viện Kiểm sát Trung Quốc, chế độ lãnh đạo của hệ thống Viện Kiểm sát Trung Quốc cụ thể như sau: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc. Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp chịu sự giám sát của Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Đại hội đại biểu nhân dân và Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm chỉ đạo công tác đối với Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp và Viện Kiểm sát nhân dân chuyên môn, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên chỉ đạo công tác đối với Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới.

3. Bộ máy tổ chức trong nội bộ cơ quan Kiểm sát Trung Quốc

Nhằm thực hiện hiệu quả chức năng giám sát pháp luật, Viện Kiểm sát xây dựng bộ máy tổ chức nội bộ với 3 nhóm chính: Thứ nhất là bộ máy quyết sách, bao gồm Viện trưởng Viện Kiểm sát và Ủy ban Kiểm sát; Thứ hai là bộ máy nghiệp vụ, bao gồm các đơn vị thực hiện chức năng, nghiệp vụ kiểm sát; Thứ ba là bộ máy phục vụ, hỗ trợ, bao gồm các đơn vị công tác về Chính trị, thư ký và tổng hợp, tài chính tài sản, đào tạo bồi dưỡng, hợp tác quốc tế…Bộ máy tổ chức của Viện Kiểm sát do Luật Tổ chức Viện Kiểm sát quy định. Bộ máy nghiệp vụ được coi là chủ thể chính của cơ quan Kiểm sát, các Viện Kiểm sát nhân dân các cấp thường thiết lập bộ máy nghiệp vụ Kiểm sát và bộ máy nghiệp vụ tổng hợp: đơn vị thực hành quyền công tố, đơn vị giám sát điều tra, đơn vị kiểm sát tham nhũng, đơn vị kiểm sát lạm dụng chức vụ quyền hạn, đơn vị kiểm sát hành chính dân sự, đơn vị kiểm sát trại giam, đơn vị kiểm sát khiếu nại tố cáo, đơn vị thanh tra kiểm tra, đơn vị kỹ thuật. 

III. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan Kiểm sát Trung Quốc

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan Kiểm sát Trung Quốc bao gồm:

- Quyền điều tra tội phạm chức vụ;

- Quyền thẩm tra, phê chuẩn và quyết định bắt giữ;

- Quyền công tố;

- Quyền giám sát công tố (bao gồm quyền giám sát tố tụng hình sự, xét xử dân sự và tố tụng hành chính);

- Những quyền hạn khác được pháp luật cho phép.

1. Quyền điều tra tội phạm chức vụ

Quyền điều tra tội phạm chức vụ chỉ thẩm quyền của cơ quan Kiểm sát theo quy định của pháp luật tiến hành lập hồ sơ và điều tra các loại tội phạm có liên quan đến cán bộ, công chức cơ quan Nhà nước. Theo quy định tại Điều 5 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân và Khoản 2 Điều 18 Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện Kiểm sát nhân dân có quyền lập hồ sơ và tiến hành điều tra đối với các loại tội: tham nhũng hối lộ; cán bộ, công chức cơ quan Nhà nước lạm dụng chức vụ, quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm gây hậu nghiêm trọng; cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện các hành vi xâm phạm quyền dân chủ của công dân: tạm giam trái phép, tra tấn bức cung, gài bẫy hãm hại người khác để trả thù cá nhân, khám xét trái phép…Đối với những vụ án trong đó cán bộ, công chức cơ quan Nhà nước lạm dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội nghiêm trọng, đòi hỏi Viện Kiểm sát nhân dân phải trực tiếp thụ lý, cơ quan Kiểm sát sau khi có sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên cũng có thể tự lập hồ sơ và tiến hành điều tra.

2. Quyền thẩm tra, phê chuẩn và quyết định bắt giữ

 Theo quy định của Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc, đối với những vụ án hình sự đã được cơ quan công an tiến hành điều tra và cho rằng cần thiết phải bắt giữa bị can, cơ quan công an chỉ được phép tiến hành bắt giữ khi đã có văn bản phê chuẩn của Viện Kiểm sát. Đối với những vụ án Viện Kiểm sát trực tiếp thụ lý, lập hồ sơ và tiến hành điều tra thì Viện Kiểm sát sẽ có quyền quyết định bắt giữa nghi phạm nếu cần thiết.

3. Quyền công tố

Quyền công tố là đặc quyền của cơ quan Kiểm sát được Nhà nước quy định, đại diện Nhà nước thực hành quyền công tố, yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử, góp phần đảm bảo cho các hình phạt được thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước. Quyền công tố của cơ quan Kiểm sát được thể hiện bằng những nhiệm vụ sau: thẩm tra, ra quyết định khởi tố; quyết định không khởi tố và kháng nghị…những nhiệm vụ này cũng là chức năng và thẩm quyền cơ bản của cơ quan Kiểm sát, là một trong những biện pháp quan trọng để cơ quan Kiểm sát có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ giám sát việc tuân theo pháp luật của mình theo quy định của pháp luật.

4. Quyền giám sát pháp luật đối với hoạt động tố tụng hình sự

Viện Kiểm sát thực hiện Quyền giám sát pháp luật đối với hoạt động tố tụng hình sự, là một nguyên tắc quan trọng đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, đồng thời cũng là một bộ phận chủ yếu của chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân.

4.1. Giám sát việc lập hồ sơ vụ án

Theo quy định của Luật Tố tụng hình sự và Quy tắc tố tụng hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân, giám sát việc lập hồ sơ vụ án bao gồm những nội dung sau: (1) không tiến hành lập hồ sơ và điều tra những vụ án thuộc phạm vi giải quyết của cơ quan công an. (2) chỉ tiến hành lập hồ sơ và điều tra những vụ án không thuộc phạm vi giải quyết của cơ quan công an.

4.2. Giám sát hoạt động điều tra

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Trung Quốc và Quy tắc tố tụng hình sự của Viện Kiểm sát nhân dân, Viện Kiểm sát tiến hành giám sát hoạt động điều tra của cơ quan điều tra và giám sát việc áp dụng các biện pháp điều tra mang tính chất cưỡng chế và tính hợp pháp của các biện pháp cưỡng chế đó. Trọng tâm của việc giám sát hoạt động điều tra là phát hiện và điều chỉnh những hành vi sai phạm: (1) bức cung, mớm cung bị can; (2) Thực hiện những thủ đoạn phi pháp như: dùng cực hình, đe dọa, dụ dỗ, lừa đảo người bị hại, nhân chứng để thu thập chứng cứ; (3) Làm giả, che giấu, tiêu hủy, điều chỉnh hoặc tự mình sửa đổi chứng cứ; (4) cố ý làm trái pháp luật để mưu cầu tư lợi, bao che, dung túng cho các phần tử phạm tội; (5) cố ý tạo án oan, án giả, án sai; (6) Lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi phi pháp trong quá trình điều tra; (7) Trong quá trình điều tra cố ý hủy án khi không đủ điều kiện hủy án; (8) tham ô, biển thủ, điều chuyển những tài sản bị tịch thu hoặc tài khoản bị phong tỏa và tiền lãi của tài khoản đó; (9) Vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyết định, thi hành, thay đổi hoặc hủy các biện pháp cưỡng chế; (10) Vi phạm quy định về thời hạn tạm giam và thời hạn xử lý án; (11) các hành vi khác vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4.3. Giám sát hoạt động xét xử hình sự

Viện Kiểm sát tiến hành giám sát hoạt động xét xử hình sự của Tòa án nhân dân và phát hiện những sai phạm của hoạt động xét xử so với quy định của pháp luật về trình tự tố tụng. Theo quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân có quyền giám sát việc tuân theo pháp luật của hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân. Điều 169 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, Viện Kiểm sát có quyền đề nghị Tòa án sửa chữa những sai phạm so với trình tự tố tụng trong quá trình xét xử vụ án.

4.4. Giám sát việc chấp hành án phạt

Viện Kiểm sát có quyền giám sát việc thi hành bản án đã có hiệu lực của các cơ quan thi hành án. Theo quy định của pháp luật, giám sát việc chấp hành án phạt bao gồm những nội dung chủ yếu sau: (1) giám sát các bản án tử hình; (2) giám sát việc chấp hành án phạt tại trại giam; (3) giám sát việc chấp hành án phạt ngoài xã hội.

5. Quyền giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử dân sự và tố tụng hành chính

Theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Viện Kiểm sát có quyền giám sát việc tuân theo pháp luật đối với hoạt động xét xử dân sự và tố tụng hành chính. Viện Kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của trình tự giám sát xét xử đối với bản án Tòa đã tuyên và có hiệu lực nếu phát hiện sai phạm theo quy định của pháp luật. Biện pháp giám sát chủ yếu của Viện Kiểm sát đối với hoạt động xét xử dân sự, tố tụng hành chính là kháng nghị hoặc đưa ra kiến nghị với Tòa án.

6. Những quyền hạn khác được pháp luật cho phép

Ngoài những chức năng và thẩm quyền nêu trên, pháp luật còn quy định một số quyền khác của Viện Kiểm sát, Ví dụ: quyền giám sát hoạt động của đơn vị lao động cải tạo, quyền tham gia vào hoạt động trấn chỉnh trật tự trị an xã hội, quyền phòng ngừa tội phạm, quyền giải thích tư pháp của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao…

IV. Chế độ Kiểm sát viên Trung Quốc

Kiểm sát viên được bổ nhiệm, có chức danh, quyền lợi, nghĩa vụ và chức năng, thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Kiểm sát viên là người trực tiếp làm nhiệm vụ thực hành quyền kiểm sát, trình độ pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ của Kiểm sát viên có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả và chất lượng của việc thực hành các chức năng và nhiệm vụ của cơ quan Kiểm sát. Năm 1995, Luật Kiểm sát viên Trung Quốc được ban hành, quy định rõ ràng về điều kiện bổ nhiệm Kiểm sát viên và tổ chức kỳ thi sát hạch Kiểm sát viên đầu tiên. Năm 2001, Luật Kiểm sát viên Trung Quốc sửa đổi đã quy định, chỉ những cá nhân đã được tuyển chọn, có kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ pháp luật, có kinh nghiệm nghiệp vụ pháp luật có liên quan, trúng tuyển kỳ thi tư pháp quốc gia mới có tư cách, tiêu chuẩn trở thành Kiểm sát viên.

1. Điều kiện bổ nhiệm Kiểm sát viên

Luật Kiểm sát viên Trung Quốc sửa đổi năm 2001 quy định những điều kiện bổ nhiệm Kiểm sát viên như sau:

(1)                Điệu kiện cơ bản: Công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đủ 23 tuổi trở lên, trung thành với Hiến pháp nước CHND Trung Hoa; có lập trường tư tưởng chính trị, có kỹ năng nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức tốt, sức khỏe tốt;

(2)                Điều kiện nghiệp vụ: có trình độ và kiến thức pháp luật, có kinh nghiệm công tác pháp luật;

(3)                Điều kiện tư cách: Luật Kiểm sát viên Trung Quốc sửa đổi năm 2001 quy định, Nhà nước thực hiện chế độ thi tư pháp thống nhất, chỉ những cá nhân thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia mới có tư cách được bổ nhiệm Kiểm sát viên;

(4)                Điều kiện tiêu cực: Tất cả những công dân đã từng phạm tội và bị kết án hình sự, những cán bộ, công chức bị khai trừ hoặc bị buộc thôi việc đều không có tư cách được bổ nhiệm Kiểm sát viên.

2. Cấp bậc Kiểm sát viên

Hệ thống Kiểm sát viên Trung Quốc có 05 chức danh: Viện trưởng Viện Kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát, Ủy viên Ủy ban Kiểm sát, Kiểm sát viên và Trợ lý Kiểm sát viên. Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm từ chế độ cấp bậc Kiểm sát viên, Công tố viên các nước, kết hợp với chế độ quản lý hiện hành của Trung Quốc, Luật Kiểm sát viên đã quy định cấp bậc Kiểm sát viên bao gồm 4 cấp 12 bậc. Thủ tịch Đại Kiểm sát viên, Đại Kiểm sát viên (02 bậc), Kiểm sát viên cao cấp (04 bậc), Kiểm sát viên (05 bậc).

3. Bổ nhiệm và miễn nhiệm Kiểm sát viên

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, có 04 trường hợp bổ nhiệm và miễn nhiệm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân các cấp: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm. Chế độ bầu và miễn nhiệm đối với Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương cấp tỉnh, thành phố, huyện thực hiện trên cơ sở kết hợp bầu và phê chuẩn. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố, huyện do Đại hội đại biểu nhân dân địa phương các cấp bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm, nhưng phải báo cáo Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân trên 01 cấp để đề nghị Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó phê chuẩn. Viện trưởng Phân Viện hoặc Đại diện của các Viện Kiểm sát cấp tỉnh do Viện trưởng Viện Kiểm sát trên 01 cấp đề nghị Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bổ nhiệm và miễn nhiệm. Trước khi Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân trên 01 cấp phê chuẩn, việc bầu chọn của Đại hội đại biểu nhân dân cấp dưới không có giá trị. Nếu Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân trên 01 cấp đề nghị không bổ nhiệm hoặc Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân cấp đó không thông qua, thì việc bầu chọn của Đại hội nhân dân cấp dưới cũng không có giá trị. Chế độ bầu và miễn nhiệm đối với Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự thực hiện theo trình tự thủ tục đặc biệt.

Việc bầu chọn và miễn nhiệm Kiểm sát viên các cấp có 04 trường hợp: Các chức danh Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát, Ủy viên Ủy ban Kiểm sát, Kiểm sát viên của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, thành phố, quận/ huyện sẽ do Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân các cấp bầu và miễn nhiệm, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền đề nghị bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm. Phó Viện trưởng, Ủy viên Ủy ban Kiểm sát, Kiểm sát viên của Phân Viện hoặc Đại diện của các Viện Kiểm sát cấp tỉnh do Viện trưởng Viện Kiểm sát trên 01 cấp đề nghị Đại hội đại biểu nhân dân cùng cấp bổ nhiệm và miễn nhiệm. Trợ lý Kiểm sát viên cấp nào thì do Viện trưởng Viện Kiểm sát cấp đó bổ nhiệm và miễn nhiệm. Việc bổ nhiệm và bãi nhiệm Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự được tiến hành theo trình tự thủ tục và quyền hạn bổ nhiệm, bãi nhiệm dành do quân nhân sau khi đã được sự đồng ý của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

4. Đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên

Theo quy định của Luật Kiểm sát viên, được đào tạo và bồi dưỡng là một quyền lợi của Kiểm sát viên. Luật Kiểm sát viên cũng yêu cầu, cơ quan Kiểm sát phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Kiểm sát viên. Hiện nay công tác đào tạo, bồi dưỡng Kiểm sát viên chủ yếu bao gồm: bồi dưỡng năng lực lãnh đạo; đào tạo, bồi dưỡng tư cách, tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Kiểm sát viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm sát; Bồi dưỡng kỹ năng thực tiễn. Trong đó, việc bồi dưỡng năng lực lãnh đạo bao gồm bồi dưỡng năng lực lãnh đạo cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát đang đương chức, bồi dưỡng năng lực lãnh đạo cho thế hệ cán bộ kế cận; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, căn cứ vào những đặc điểm nghiệp vụ khác nhau, nhằm giải quyết những tình huống mới, vấn đề mới nổi lên trong khâu công tác tiến hành tập huấn chuyên môn nghiệp vụ; bồi dưỡng kỹ năng thực tiễn, căn cứ yêu cầu của từng mảng công tác trong cơ quan kiểm sát, áp dụng những phương pháp đa dạng, linh hoạt để tiến hành tập huấn những kỹ năng cơ bản như sử dụng máy vi tính, trình bày văn bản, công văn, ngoại ngữ…; bồi dưỡng tư cách, tiêu chuẩn để bổ nhiệm bao gồm bồi dưỡng để chuẩn bị bổ nhiệm, bồi dưỡng để thăng cấp bậc, bồi dưỡng để tiếp tục nhiệm kỳ và bồi dưỡng tiêu chuẩn cơ bản.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi