Chế độ tư pháp Trung Quốc

CHẾ ĐỘ TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

Phó giáo sư Tào Nam Giang

         Học viện Kiểm sát viên quốc gia Trung Quốc

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHẾ ĐỘ TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

I.  Khái niệm, phạm vi và hệ thống chế độ Tư pháp Trung Quốc

1. Khái niệm:

Chế độ Tư pháp Trung Quốc là một khái niệm pháp luật tổng quát về tính chất, nhiệm vụ, hệ thống cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động và chế độ công tác của hệ thống các cơ quan tơ pháp Trung Quốc.

2. Phạm vi:

Chế độ Tư pháp bao gồm chế độ xét xử (chế độ thẩm phán), chế độ kiểm sát, chế độ điều tra, chế độ chấp hành và thực thi pháp luật, chế độ trọng tài, chế độ giám định tư pháp, chế độ Luật sư, chế độ công chứng, chế độ hoà giải nhân dân...

3. Hệ thống:

Chế độ Tư pháp Trung Quốc bao gồm các chế độ cơ bản và các chế độ liên quan

Chế độ cơ bản: chế độ xét xử, chế độ kiểm sát, chế độ điều tra, chế độ chấp hành pháp luật.

Chế độ liên quan: Chế độ Luật sư, chế độ công chứng, chế độ trọng tài, chế độ giám định tư pháp...

Các chế độ cơ bản của nền Tư pháp hiện đại Trung Quốc bao gồm: Chế độ xét xử, chế độ kiểm sát, chế độ điều tra, chế độ chấp hành pháp luật.

II. Chức năng của chế độ Tư pháp Trung Quốc

1. Chức năng trừng trị pháp luật

Trung Quốc là một nước theo thể chế xã hội chủ nghĩa dân chủ chuyên chính nhân dân, cơ quan Tư pháp là công cụ của nhà nước dân chủ chuyên chính nhân dân với các chức năng chủ yếu là đánh bại mọi kẻ thù và thực hiện trừng trị pháp luật. Vì vậy, các cơ quan Tư pháp cần thiết phải vận dụng các công cụ pháp luật để tiến hành trừng trị thích đáng các phần tử phạm tội hình sự nhằm mục tiêu bảo vệ nền dân chủ chuyên chính nhân dân, duy trì trật tự trị an xã hội, bảo vệ an toàn tính mạng con người và tài sản, bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi.

Ở Trung Quốc, các cơ quan Tư pháp tiến hành điều tra, xét xử và trừng phạt các loại tội phạm theo quy định của Luật Tố tụng hình sự. Trong mỗi vụ án hình sự, cơ quan Công an tiến hành điều tra, bắt tạm giam tạm giữ, giam giữ cải tạo, dự thẩm; cơ quan Kiểm sát tiến hành công tác kiểm sát, phê chuẩn bắt giữ, trong một số vụ án cụ thể cơ quan Kiểm sát còn trực tiếp tiến hành thụ lý điều tra, truy tố hình sự để Toà án tiến hành xét xử; Toà án sau khi thụ lý hồ sơ vụ án và tiến hành xét xử, nếu xét thấy hành vi của bị cáo đã cấu thành tội phạm thì ra phán quyết bị cáo có tội và định mức hình phạt theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi bản án có hiệu lực, cơ quan hành chính Tư pháp sẽ tiến hành quản lý việc chấp hành án phạt tù.

2. Chức năng hoà giải (chức năng hoà giải các tranh chấp dân sự)

Chức năng hoà giải của chế độ Tư pháp Trung Quốc chủ yếu được thực hiện thông qua các hoạt động trọng tài của các cơ quan xét xử dân sự và trọng tài của Toà án nhân dân. Đối với các vụ án dân sự do Toà án thụ lý, Toà án sẽ căn cứ vào các quy định của Luật Dân sự, Luật tố tụng dân sự để xác minh rõ bản chất sự việc có liên quan đến vụ án, phân định rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ dân sự giữa các bên đương sự, từ đó điều chỉnh các quan hệ nhân thân, quan hệ về tài sản...nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo duy trì trật tự kinh tế - xã hội.

Cơ quan trọng tài tiến hành phân định và giải quyết các tranh chấp thương mại, tranh chấp về tài sản giữa các công dân, cá nhân, tổ chức pháp nhân, từ đó điều chỉnh các quan hệ về tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, bảo đảm duy trì trật từ kinh tế - xã hội.

3. Chức năng bảo vệ

Chức năng bảo vệ  chỉ vai trò bảo vệ và hỗ trợ các quan hệ xã hội của chế độ Tư pháp. Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tư pháp của hệ thống các cơ quan tư pháp.

Thứ nhất, Cơ quan Công an tiến hành điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân tiến hành truy tố, Toà án nhân dân tiến hành xét xử, Luật sư tiến hành bào chữa; thông qua việc thực hiện các chức năng chuyên môn của mình, các cơ quan tư pháp không chỉ xác định chính xác các loại tội phạm và trừng trị thích đáng theo quy định của pháp luật mà đồng thời còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của  người không phạm tội, bảo đảm cho họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi.

Thứ hai, Toà án nhân dân và cơ quan trọng tài thông qua việc tiến hành các hoạt động xét xử và hoạt động trọng tài, căn cứ quy định của pháp luật để xác định, thay đổi hoặc huỷ bỏ quan hệ pháp luật dân sự, đưa ra chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật dân sự, qua đó bảo vệ quyền lợi về nhân thân và tài sản của công dân, pháp nhân và tổ chức, đảm bảo duy trì trật tự kinh tế - xã hội, quản lý chặt chẽ cạnh tranh công bằng của nền kinh tế thị trường, bảo vệ an ninh quốc gia, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân.

4. Chức năng giáo dục

Chức năng giáo dục chỉ vai trò giáo dục đối với công dân của các cơ quan tư pháp.

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm việc điều tra, xác minh tội phạm được tiến hành kịp thời, chính xác, vận dụng pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác để trừng trị các phần tử phạm tội, đảm bảo những người không phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm tố tụng hình sự, giáo dục công dân tự giác chấp hành pháp luật, tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ nền pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi về nhân thân và tài sản của công dân, quyền dân chủ và các quyền khác theo quy định của pháp luật, bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi.

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự có nhiệm vụ bảo vệ các quyền lợi tố tụng của đương sự, đảm bảo cho Toà án xác minh rõ sự thật, phân định đúng sai, vận dụng pháp luật chính xác, kịp thời

 Theo quy định tại Điều 3 Luật tổ chức Toà án nhân dân, Toà án nhân dân thông qua việc tiến hành các chức năng, nhiệm vụ của mình phát huy vai trò giáo dục công dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tự giác chấp hành pháp luật, duy trì trật tự xã hội và trật tự kinh tế, đảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi.

Theo quy định tại Điều 4 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân thông qua các hoạt động nghiệp vụ kiểm sát phát huy vai trò giáo dục, giác ngộ công dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tự giác chấp hành và tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

 

III. Đặc điểm của chế độ tư pháp Trung Quốc

1.        Công tác tư pháp phải tuyệt đối kiên định theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc

                        Tầm quan trọng và tính thiết yếu của việc kiên định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Đảng Cộng sản Trung Quốc là Đảng cầm quyền của đất nước Trung Quốc. Địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc là sự lựa chọn mang tính chất lịch sử của nhân dân Trung Quốc, địa vị đó được xác lập trong quá trình sự nghiệp cách mạng trường kỳ và công cuộc xây dựng đất nước của đất nước Trung Quốc. Chính vì vậy, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải cách mở cửa hiện nay, Trung Quốc phải kiên định theo đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn, công tác tư pháp cũng không nằm ngoài quy luật đó.

1.2. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ yếu là sự lãnh đạo về mặt chính trị. Sự lãnh đạo đó được thể hiện ở những điểm sau: (1) thông qua quá trình lập pháp tiến hành cụ thể hoá đường lối, phương trâm chỉ đạo, chính sách của Đảng thành những quy định pháp luật cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tư pháp. (2) Xây dựng phương trâm, chính sách của công tác tư pháp nhằm đảm bảo cho hoạt động của công tác tư pháp luôn đi đúng hướng. (3) Khảo sát và tiến cử nhân sự cho đội ngũ cán bộ tư pháp, Cơ quan quyền lực của Nhà nước tiến hành thảo luận, quyết định và bổ nhiệm các chức danh tư pháp. (4) Tiến hành thanh tra, giám sát đội ngũ cán bộ, Đảng viên của các cơ quan Tư pháp.

2. Hệ thống các cơ quan Tư pháp được xây dựng căn cứ tình hình thực tế của đất nước Trung Quốc

Trung Quốc là một đất nước truyền thống đa dân tộc, có lịch sử lâu đời, diện tích rộng lớn, dân số lớn nhất thế giới, vì vậy giữa các địa phương trong cả nước cũng có sự khác biệt rất lớn về trình độ phát triển chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chính vì đặc điểm đó nên hệ thống các cơ quan Tư pháp Trung Quốc được xây dựng, tổ chức và hoạt động dựa trên cơ sở tình hình thực tế của đất nước.

Nhằm bảo đảm sự thống nhất của pháp chế quốc gia, Trung Quốc đã thành lập hệ thống cơ quan xét xử, Viện Kiểm sát, chính quyền nhân dân các cấp, cơ quan công an, cơ quan an ninh quốc gia, cơ quan hành chính Tư pháp thống nhất trong cả nước, trong đó: hệ thống cơ quan xét xử bao gồm Toà án nhân dân tối cao, Toà án nhân dân địa phương các cấp, Toà án quân sự và các Toà án chuyên môn; hệ thống cơ quan kiểm sát bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp, Viện Kiểm sát quân sự và các Viện Kiểm sát chuyên môn khác. Theo quy định của pháp luật, Toà án nhân dân thực hành quyền xét xử; Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát; cơ quan công an và cơ quan an ninh quốc gia thực hành quyền điều tra theo quy định của pháp luật; cơ quan hành chính tư pháp tiến hành quản lý việc giam giữ cải tạo, hoà giải, giám định tư pháp, tổ chức và hoạt động của Luật sư, hoạt động công chứng...theo quy định của pháp luật.

Các tổ chức tư pháp trong hệ thống các cơ quan tư pháp cũng có những đặc điểm riêng của mình. Ví dụ: đối với loại hình Văn phòng luật sư có Văn phòng luật sư tập thể, Văn phòng luật sư tư nhân, Văn phòng luật sư của Nhà nước. Tất cả các  loại hình Văn phòng luật sư đều phải hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan hành chính tư pháp và Hiệp hội Luật sư.

3. Nội bộ các cơ quan Tư pháp thực hiện chế độ phụ trách tập thể

Theo quy định tại Điều 11 Luật tổ chức Toà án nhân dân Trung Quốc, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân các cấp đều thực hiện chế độ tập trung dân chủ. Nhiệm vụ chính của Hội đồng thẩm phán là tổng kết kinh nghiệm xét xử, bàn thảo những vụ án trọng điểm hoặc có nhiều điểm nghi vấn, thảo luận những vấn đề có liên quan đến công tác xét xử. Theo quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Viện Kiểm sát, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp thành lập Uỷ ban Kiểm sát của cấp mình. Ủy ban Kiểm sát thực hiện chế độ phụ trách tập trung, dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng, Uỷ ban Kiểm sát thảo luận và quyết định những vụ án trọng điểm và những vấn đề công tác quan trọng có liên quan. Từ đó có thể thấy, Hệ thống Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân hoạt động, quản lý và triển khai các công tác nghiệp vụ theo chế độ phụ trách tập trung. Ưu điểm lớn nhất của chế độ phụ trách tập trung là tạo điều kiện cho việc phát huy dân chủ, việc thảo luận và quyết định những vụ án trọng điểm, những vấn đề công tác trọng tâm chính là nhằm tập trung và phát huy trí tuệ tập thể, tránh các biểu hiện chuyên quyền độc đoán.

4. Chế độ Tư pháp Trung Quốc thực hiện theo mô hình “một nhà nước hai chế độ”

Mô hình “một nhà nước hai chế độ” là một chính sách cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu hoà bình thống nhất đất nước trên cơ sở giải quyết các vấn đề còn tồn tại của lịch sử như: vấn đề Hồng Kông, Macao, Đài Loan. Chính sách này cũng thể hiện tư tưởng thực sự cầu thị một cách nhất quán của Đảng và Nhà nước Trung Quốc. Nội dung trọng tâm của chính sách “một nhà nước hai chế độ ” là xây dựng hai chế độ chính trị trên phạm vi lãnh thổ của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa: xây dựng chế độ chủ nghĩa xã hội tại Trung Quốc Đại lục; Hồng Kông, Macao, Đài Loan vẫn tiếp tục thực hiện chế độ Tư bản chủ nghĩa vốn có. Trên cơ sở của chính sách “một nhà nước hai chế độ”, chế độ Tư pháp Trung Quốc cũng có rất nhiều biến đổi, những biến đổi đó được thể hiện ở những phương diện sau:

4.1. Đặc khu hành chính có quyền tư pháp và quyền xét xử độc lập. Quyền tư pháp của Đặc khu hành chính hoàn toàn độc lập với quyền tư pháp trung ương. Toà án chung thẩm Đặc khu có quyền xét xử và đưa ra phán quyết cuối cùng đối với vụ án, quyền xét xử độc lập và đưa ra phán quyết cuối cùng đó không thuộc về Toà án nhân dân tối cao nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.

4.2. Đặc khu hành chính tự xây dựng hệ thống Toà án nhân dân của mình. Hệ thống Toà án nhân dân của Đặc khu hành chính Hồng Kông hoàn toàn khác biệt so với hệ thống Toà án nhân dân của Trung Quốc Đại lục. Vì vậy, bắt đầu từ tháng 7 năm 1997, chế độ Tư pháp Trung Quốc cũng vận hành theo mô hình “một nhà nước hai chế độ”, Trung Quốc Đại lục và Đặc khu hành chính Hồng Kông, Đặc khu hành chính Macao xây dựng và hoạt động theo hai chế độ Tư pháp hoàn toàn khác nhau. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật của chế độ Tư pháp Trung Quốc.

IV. Nguyên tắc đặc hữu của chế độ Tư pháp Trung Quốc

Trải qua quá trình xây dựng và phát triển lâu dài, chế độ Tư pháp Trung Quốc đã hình thành những nguyên tắc đặc hữu đã được pháp luật công nhận và có những quy định cụ thể. Những nguyên tắc đặc hữu đó đã trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ Tư pháp Trung Quốc. Những nguyên tắc đó bao gồm:

1. Nguyên tắc độc lập triển khai các hoạt động nghiệp vụ của Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân

                Theo quy định tại Điều 126 của Hiến pháp Trung Quốc, Toà án nhân dân độc lập tiến hành quyền xét xử theo quy định của pháp luật mà không chịu sự can thiệp của cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội hoặc bất kỳ cá nhân nào. Theo quy định tại Điều 131, Viện Kiểm sát nhân dân độc lập tiến hành quyền công tố và kiểm sát theo quy định của pháp luật mà không chịu sự can thiệp của cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội hoặc bất kỳ cá nhân nào. Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân độc lập triển khai các hoạt động nghiệp vụ của mình, không chịu sự can thiệp của bất cứ cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội hoặc cá nhân nào.

                2. Nguyên tắc hoạt động dựa trên căn cứ sự thật và quy định của pháp luật

                Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an khi tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự phải căn cứ vào sự thật, các quy định có liên quan của pháp luật và sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân. Mọi công dân hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật, và không cho phép có bất cứ đặc quyền nào. Theo quy định tại Điều 7 Bộ luật tố tụng dân sự Trung Quốc, Điều 4 Bộ luật tố tụng hành chính Trung Quốc, Tòa án nhân dân khi xét xử các vụ án dân sự, các vụ án hành chính bắt buộc phải căn cứ vào sự thật và các quy định có liên quan của pháp luật. Điều 3 Luật Luật sư Trung Quốc cũng quy định Luật sư khi hành nghề bắt buộc phải căn cứ vào sự thật và các quy định có liên quan của pháp luật.

Theo nguyên tắc này, trong quá trình triển khai các hoạt động nghiệp vụ các cơ quan Tư pháp và tổ chức Tư pháp cần đi sâu nghiên cứu, điều tra, thu thập chứng cứ đầy đủ, làm rõ chân tướng sự việc, trên cơ sở đó áp dụng một cách chính xác các quy định của pháp luật nhằm đưa ra những quyết định, khuyến nghị đúng đắn, sáng suốt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm minh, xây dựng xã hội công bằng, nghiêm minh, chính nghĩa.

3. Nguyên tắc dựa vào quần chúng nhân dân

Điều 27 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định, tất cả cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan Nhà nước phải phối hợp với nhân dân, duy trì mối liên hệ thường xuyên với nhân dân, lắng nghe những ý kiến và kiến nghị của nhân dân, đồng thời cũng chịu sự giám sát của quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu “vì nhân dân phục vụ”. Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và cơ quan công an trong khi tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết phải dựa vào sự hỗ trợ của quần chúng nhân dân. Điều 7 Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân Trung Quốc cũng quy định, Viện Kiểm sát trong quá trình triển khai các hoạt động nghiệp vụ cần phải thực sự cầu thị, duy trì liên hệ với quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp và chịu sự giám sát của quần chúng nhân dân.

Dựa vào nhân dân là truyền thống tốt đẹp của ngành Tư pháp Trung Quốc. Các cơ quan Tư pháp chỉ có thể tiến hành hiệu quả các hoạt động nghiệp vụ của mình nếu biết cách duy trì và phát triển mối liên hệ với quần chúng nhân dân, đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu nhằm có được sự ủng hộ và giúp đỡ của quần chúng nhân dân. Công tác Tư pháp nếu đặt dưới sự giám sát của quần chúng nhân dân mới có thể nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, hạn chế sai phạm, phòng chống các biểu hiện tiêu cực nảy sinh trong quá trình tiến hành tố tụng.

4. Nguyên tắc phân công phụ trách, phối hợp và chế ước lẫn nhau giữa Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án

Theo quy định tại Điều 135 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Tòa án, Viện Kiểm sát và cơ quan Công an trong quá trình thụ lý và giải quyết các vụ án hình sự phải tuân thủ nguyên tắc phân công phụ trách, phối hợp và chế ước lẫn nhau nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính xác và hiệu quả. Nội dung tương tự cũng đã được quy định cụ thể tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự. Đây cũng được coi là một nguyên tắc cơ bản trong việc chỉ đạo và duy trì mối quan hệ mật thiết giữa cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, trong tố tụng hình sự, cơ quan Công an thực hành quyền điều tra, Viện Kiểm sát thực quyền truy tố và khởi tố (đối với những vụ án trực tiếp điều tra), Tòa án thực hành quyền xét xử. Thực hiện phân công phụ trách, hỗ trợ và chế ước lẫn nhau trong tố tụng hình sự giữa ba cơ quan tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giải quyết án, đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong việc điều tra làm rõ sự thật và trừng trị thích đáng các phần tử phạm tội.

5. Nguyên tắc hòa giải

Nguyên tắc hòa giải là một nguyên tắc quan trọng mà Tòa án, cơ quan Trọng tài, Ủy ban hòa giải nhân dân áp dụng và tuân thủ trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự, đây cũng là một kinh nghiệm thành công điển hình của Trung Quốc trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự. Nguyên tắc hòa giải được quy định cụ thể trong pháp luật Trung Quốc.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án trong quá trình xét xử giải quyết các vụ việc dân sự phải tiến hành hoà giải theo nguyên tắc tự nguyện và hợp pháp, trong trường hợp hoà giải không thành phải kịp thời đưa ra phán quyết. Luật Trọng tài cũng quy định, Toà trọng tài phải tiến hành hoà giải trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng; trong trường hợp hai bên đương sự yêu cầu hoà giải, Toà trọng tài cũng phải tiến hành hoà giải theo yêu cầu. Ngoài ra, tại Trung Quốc còn có một tổ chức chuyên hoà giải để giải quyết các tranh chấp dân sự, đó là Uỷ ban hoà giải nhân dân. Uỷ ban hoà giải nhân dân là một tổ chức mang tính quần chúng, chuyên giải quyết các tranh chấp dân sự dưới sự chỉ đạo của Chính quyền nhân dân địa phương và Toà án nhân dân cấp cơ sở. Uỷ ban hoà giải nhân dân tiến hành hoà giải để giải quyết các tranh chấp dân sự theo nguyên tắc tự nguyện, hợp pháp và các quy định có liên quan của pháp luật. Nguyên tắc hoà giải được áp dụng với quy mô rộng rãi và trở thành một nguyên tắc quan trọng trong công tác Tư pháp Trung Quốc.

6. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia tố tụng

Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan Tư pháp phải bảo vệ quyền và lợi ích tốt tụng của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật, không được phép tước đoạt hoặc hạn chế quyền lợi của người tham gia tố tụng. Trong tố tụng, chỉ khi người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và lợi ích tố tụng của mình thì những quyền và lợi ích hợp pháp đó mới được thể hiện rõ ràng và bảo vệ hiệu quả theo quy định của pháp luật; chỉ khi các cơ quan Tư pháp bảo vệ đầy đủ quyền và lợi ích của người tham gia tố tụng thì cơ quan này mới có thể thu thập chứng cứ, điều tra làm rõ sự thật trong vụ án, đảm bảo cho hoạt động tố tụng được thực hiện hiệu quả, thể hiện tính công bằng, dân chủ trong tố tụng và các hoạt động tư pháp nói chung.

Theo quy định tại Điều 14 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc, Toà án và Viện Kiểm sát cần phải bảo vệ quyền tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật. Điều 8 Bộ luật tố tụng Dân sự cũng quy định, các bên đương sự trong tố tụng dân sự co quyền tố tụng bình đẳng với nhau. Tòa án nhân dân khi giải quyết các vụ việc dân sự, phải bảo vệ và tạo điều kiện cho đương sự thực hành quyền tố tụng của mình, áp dụng pháp luật một cách bình đẳng trước các đương sự.

Ngoài ra, pháp luật Trung Quốc cũng nguyên tắc tư pháp thống nhất, nguyên tắc bảo vệ quyền con người, nguyên tắc các cơ quan Tư pháp chịu sự giám sát…Các cơ quan Tư pháp trong quá trình tiến hành các hoạt động tư pháp cần phải tuân theo những nguyên tắc đã nêu trên.

V. Cải cách chế độ Tư pháp Trung Quốc

Tháng 9 năm 1997, trong báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đồng chí Giang Trạch Dân Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chỉ rõ mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp là phải đảm bảo cho các cơ quan Tư pháp tiến hành quyền xét xử và quyền kiểm sát một cách độc lập và nghiêm minh. Đây cũng được coi là mốc đánh dấu cho sự khởi đầu của tiến trình Cải cách tư pháp ở Trung Quốc. Tháng 10 năm 2007, trong báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 27 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đống chí Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ ra yêu cầu phải tiếp tục đẩy mạnh tiến trình Cải cách tư pháp, tăng cường chức năng và thẩm quyền cho các cơ quan Tư pháp, chỉnh đốn và hoàn thiện các hoạt động tư pháp, xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, hiệu quả, có uy tín, đảm bảo cho Tòa án và Viện Kiểm sát có thể độc lập thực hành quyền xét xử và quyền kiểm sát; tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng đội ngũ cán bộ chính pháp, hướng tới mục tiêu pháp luật nghiêm minh, công bằng, văn minh. Chính vì vậy, Trung Quốc cũng cần thiết phải tiếp tục đẩy mạnh tiến trình cải cách tư pháp với nội dung trọng tâm là xây dựng chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa công bằng, hiệu quả, có uy tín. Trong đó, nhiệm vụ của cải cách Tư pháp là cải cách chế độ xét xử, cải cách chế độ Kiểm sát, cải cách chế độ điều tra, cải cách chế độ giám định tư pháp, cải cách chế độ Luật sư, cải cách chế độ công chứng và xây dựng chế độ thi Tư pháp Trung Quốc…

 

CHƯƠNG II: CHẾ ĐỘ XÉT XỬ TRUNG QUỐC

I. Hàm nghĩa và tính chất của Chế độ xét xử Trung Quốc

1. Hàm nghĩa:

Chế độ xét xử Trung Quốc là một khái niệm pháp luật bao quát chỉ tính chất, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức nguyên tắc xét xử, thủ tục xét xử…của hệ thống Tòa án nhân dân.

2. Tính chất:

Chế độ xét xử là một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ Tư pháp xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.

II. Đặc trưng của chế độ xét xử Trung Quốc

Chế độ xét xử Trung Quốc bao gồm những đặc trưng cơ bản sau đây:

1. Tòa án nhân dân do cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước thành lập và giám sát

Chế độ Đại hội đại biểu nhân dân là chế độ chính trị căn bản của Trung Quốc.   Với tư cách là cơ quan quyền lực của Nhà nước, Đại hội đại biểu nhân dân thay mặt cho nhân dân thi hành quyền lực của Nhà nước theo quy định của pháp luật, trên cơ sở đó tiến hành phân công chức năng và nhiệm vụ cho hệ thống các cơ quan Nhà nước. Theo quy định của Hiến pháp Trung Quốc, cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan xét xử và cơ quan Kiểm sát đều do Đại hội đại biểu nhân dân lập ra và chịu sự giám sát, phụ trách của Đại hội đại biểu nhân dân; Chính quyền nhân dân đảm nhận việc thực hành quyền hành chính Nhà nước, Toà án nhân dân đảm nhận việc thực hành quyền xét xử, Viện Kiểm sát đảm nhận việc thực hành quyền kiểm sát và công tố.

Phạm vi giám sát của cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước đối với hệ thống Toà án rất rộng, ví dụ như: Đại hội đại biểu nhân dân có quyền kiểm tra và bàn thảo về nội dung của báo cáo công tác của Toà án, có quyền thanh kiểm tra công tác nghiệp vụ của Toà án, có quyền chất vấn Toà án, có quyền bãi miễn Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân, Chánh Toà, Phó Chánh Toà, Thẩm phán và Ủy viên Hội đồng Thẩm phán.

2. Hệ thống Toà án được tổ chức thống nhất và thực hành quyền xét xử độc lập

Cơ cấu tổ chức của hệ thống Toà án hoàn toàn thống nhất trong cả nước. Trung Quốc không thành lập Toà án hành chính độc lập mà thành lập Toà hành chính trong nội bộ Toà án nhân dân, chuyên phụ trách việc xét xử và giải quyết án hành chính. Ngoài ra, còn có các Toà án chuyên môn như Toà án quân sự, Toà án hải sự...tuy nhiên, Toà án chuyên môn cũng không phải là một hệ thống Toà án riêng biệt, Toà án nhân dân tối cao hoặc Toà án nhân dân cao cấp vẫn chính là Toà chung thẩm, có quyền đưa ra bản án cuối cùng. Hơn nữa, quyền xét xử là một đặc quyền hoàn toàn độc lập của Toà án nhân dân, bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng không có được quyền lực tương tự.

3. Hoạt động xét xử thực hiện một số nguyên tắc và chế độ đặc biệt

Từ quá trình thực tiễn lâu dài, nền Tư pháp Trung Quốc đã dần dần xác lập cho mình một số nguyên tắc và chế độ xét xử đặc biệt. Trong đó bao gồm nguyên tắc căn cứ vào sự thật và quy định của pháp luật, chế độ bồi thẩm nhân dân, chế độ Toà án hoà giải, chế độ phúc thẩm tử hình và chế độ giám sát xét xử.

III. Tính chất và nhiệm vụ của cơ quan xét xử Trung Quốc

Cơ quan xét xử của Trung Quốc là Toà án nhân dân, tính chất và nhiệm vụ của Toà án nhân dân bao gồm:

1. Tính chất

Toà án nhân dân là công cụ của nền chuyên chính dân chủ nhân dân, là cơ quan tiến hành công tác xét xử của Nhà nước.

2. Nhiệm vụ

Nhiệm vụ của Toà án nhân dân là xét xử các vụ án hình sự, án dân sự và án hành chính, đồng thời thông qua hoạt động xét xử tiến hành trừng phạt thích đáng những phần tử phạm tội, giải quyết các tranh chấp dân sự, nhằm bảo vệ nền chuyên chính vô sản, bảo đảm duy trì và xây dựng nền pháp chế xã hội chủ nghĩa và ổn định trật tự xã hội; bảo vệ tài sản của toàn dân và tài sản tập thể xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản hợp pháp của tư nhân; bảo vệ quyền công dân, quyền dân chủ và các quyền lợi khác; bảo đảm cho cách mạng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi. Toà án nhân dân với quyền lực và trách nhiệm của mình, phát huy tối đa vai trò trong việc giáo dục và giác ngộ công dân trung thành với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tắc giác tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Cụ thể gồm năm nhiệm vụ sau đây:

2.1. Xét xử các vụ án hình sự;

2.2. Xét xử các vụ án dân sự;

2.3. Xét xử các vụ án hành chính;

2.4. Chấp hành và thực hiện bản án của Toà Dân sự và Toà hình sự;

2.5. Phát huy vai trò giáo dục và trang bị kiến thức về pháp chế cho công dân thông qua quá trình tiến hành hoạt động xét xử và các hoạt động nghiệp vụ khác.

IV. Cơ cấu tổ chức, chức năng, quyền hạn của Toà án nhân dân

Theo quy định tại Điều 2 Luật tổ chức Toà án nhân dân Trung Quốc, hệ thống Toà án nhân dân được tổ chức thành Toà án nhân dân các cấp ở địa phương, Toà án nhân dân chuyên môn và Toà án nhân dân tối cao. Trong đó, Toà án nhân dân các cấp ở địa phương được phân chia thành: Toà án nhân dân cấp cơ sở, Toà án nhân dân trung cấp và Toà án nhân dân cao cấp; Toà án nhân dân chuyên môn bao gồm: Toà án quân sự, Toà án hải sự, Toà án đường sắt...Cụ thể như sau:

1.        Toà án nhân dân cấp cơ sở

Toà án nhân dân cấp cơ sở chỉ Toà án nhân dân cấp huyện. Toà án nhân dân cấp cơ sở gồm một Chánh án, các Phó Chánh án, các Chánh Toà, các Phó Chánh Toà, Thẩm phán và một số cán bộ khác. Toà án nhân dân cấp cơ sở được tổ chức thành Toà tiếp nhận thụ lý hồ sơ, Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Hành chính, Toà giám sát xét xử, Toà thi hành án...

Pháp luật quy định chức năng, quyền hạn của Toà án nhân dân cấp cơ sở bao gồm:

                        Xét xử sơ thẩm án hình sự, dân sự và hành chính (ngoại trừ những trường hợp Luật quy định cụ thể). Đối với những vụ án phức tạp, Toà án nhân dân cấp cơ sở có thể đề nghị chuyển lên Toà án nhân dân cấp trên để tiến hành xét xử;

                        Xử lý, giải quyết các tranh chấp dân sự không cần thiết phải mở phiên toà xét xử hoặc những vụ án hình sự ít nghiêm trọng;

                        Chỉ đạo công tác hoà giải của Uỷ ban hoà giải nhân dân.

2. Toà án nhân dân trung cấp

Toà án nhân dân trung cấp chỉ Toà án nhân dân cấp khu vực. Toà án nhân dân trung cấp gồm một Chánh án, các Phó Chánh án, các Chánh Toà, các Phó Chánh Toà, Thẩm phán và một số cán bộ khác. Toà án nhân dân trung cấp được tổ chức thành Toà truy tố, Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Hành chính, Toà giám sát xét xử, Toà thi hành án hoặc Cục thi hành án...Căn cứ theo yêu cầu cụ thể của từng địa phương mà Toà án nhân dân trung cấp có thể thành lập thêm một số Toà xét xử khác.

Pháp luật quy định chức năng, quyền hạn của Toà án nhân dân trung cấp bao gồm:

2.1. Toà án nhân dân trung cấp tiến hành xét xử các loại án sau đây: các án sơ thẩm thuộc phạm vi, thẩm quyền xét xử của Toà trung cấp theo quy định của pháp luật; các án sơ thẩm do Toà án nhân dân cấp cơ sở xét thấy phức tạp và chuyển lên Toà án nhân dân trung cấp xét xử; xét xử phúc thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân cấp cơ sở có kháng cáo, kháng nghị; xét xử các vụ án Viện kiểm sát có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm. Đối với những vụ án phức tạp, Toà án nhân dân trung cấp có thể đề nghị chuyển lên Toà án nhân dân cấp trên để tiến hành xét xử;

2.2.               Giám sát công tác xét xử của các Toà án nhân dân cấp cơ sở trong địa phận quản lý của mình. Đối với những bản án và phán quyết đã có hiệu lực của Toà án nhân dân cấp cơ cở, nếu phát hiện có sai phạm, Toà án nhân dân trung cấp có quyền tự tiến hành xét xử lại hoặc chỉ đạo Toà án nhân dân cấp cơ sở tiến hành xét xử tái thẩm.

3. Toà án nhân dân cao cấp

Toà án nhân dân cao cấp chỉ Toà án nhân dân cấp tỉnh. Toà án nhân dân cao cấp gồm một Chánh án, các Phó Chánh án, các Chánh Toà, các Phó Chánh Toà, Thẩm phán và một số cán bộ khác. Toà án nhân dân cao cấp được tổ chức thành Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Hành chính, Toà giám sát xét xử, Toà thi hành án hoặc Cục thi hành án...Căn cứ theo yêu cầu cụ thể của từng địa phương mà Toà án nhân dân cao cấp có thể thành lập thêm một số Toà xét xử khác.

Pháp luật quy định chức năng, quyền hạn của Toà án nhân dân cao cấp bao gồm:

2.1. Toà án nhân dân cao cấp tiến hành xét xử các loại án sau đây: các án sơ thẩm thuộc phạm vi, thẩm quyền xét xử của Toà cao cấp theo quy định của pháp luật; các án sơ thẩm do Toà án nhân dân cấp dưới xét thấy phức tạp và chuyển lên Toà án nhân dân cao cấp xét xử; xét xử phúc thẩm các bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân cấp dưới có kháng cáo, kháng nghị; xét xử các vụ án Viện kiểm sát có kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm;

2.2.         Phúc tra các án hình sự sơ thẩm mà Toà án nhân dân trung cấp đã xử tử hình mà bị cáo không kháng cáo. Thẩm tra và phê chuẩn thi hành các án tử hình do Toà án nhân dân trung cấp xử, đã hết thời hạn 02 năm hoãn thi hành án;

2.3.         Giám sát công tác xét xử của các Toà án nhân dân cấp dưới trong địa phận quản lý của mình. Đối với những bản án và phán quyết đã có hiệu lực của Toà án nhân dân cấp dưới, nếu phát hiện có sai phạm, Toà án nhân dân cao cấp có quyền tự tiến hành xét xử lại hoặc chỉ đạo Toà án nhân dân cấp dưới tiến hành xét xử tái thẩm.

4. Toà án quân sự

Hệ thống Toà án quân sự nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa gồm Toà án quân sự 03 cấp đặt dưới sự chỉ đạo của Toà án quân sự Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc. Toà án nhân dân tối cao là cơ quan cao nhất có quyền thẩm tra công tác đối với Toà án quân sự. Toà án quân sự chủ yếu tiến hành xét xử các loại tội phạm là quân nhân vi phạm các quy định pháp luật về quyền và nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, Toà án quân sự còn tiến hành xử lý các vụ án hình sự thông thường có liên quan đến quân nhân và các vụ việc tranh chấp kinh tế trong nội bộ Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc.

5. Toà án đường sắt

Toà án đường sắt là một loại hình Toà án nhân dân chuyên môn, được thành lập ở những địa phương có tuyến đường sắt đi qua. Toà án đường sắt có những chức năng và quyền hạn sau đây:

5.1. Toà án đường sắt tiến hành xét xử các vụ án hình sự xảy ra tại địa bàn có tuyến đường sắt đi qua, do cơ quan công an đường sắt điều tra và Viện kiểm sát đường sắt truy tố;

5.2. Xét xử các vụ việc dân sự, chủ yếu là giải quyết các tranh chấp kinh tế có liên quan đến giao thông vận tải đường sắt, duy tu sửa chữa đường sắt và những tranh chấp kinh tế trong nội bộ ngành đường sắt...

6. Toà án hải sự

Toà án hải sự là một loại hình Toà án nhân dân chuyên môn được thành lập nhằm mục đích thực hành quyền quản lý tư pháp đối với những vụ việc có liên quan đến biển, trong đó chủ yếu tiến hành xét xử án sơ thẩm có liên quan đến biển và thương mại biển giữa pháp nhân với công dân Trung Quốc, giữa pháp nhân, công dân Trung Quốc với pháp nhân, công dân quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác, giữa pháp nhân với công dân quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác. Toà án hải sự tương đương với Toà án nhân dân trung cấp. Đối với những trường hợp bản án của Toà án hải sự bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án nhân dân cao cấp cùng địa bàn với Toà án hải sự sẽ thụ lý xét xử.

Toà án nhân cao cấp hoặc Toà án nhân dân tối cao sẽ đóng vai trò là Toà chung thẩm đưa ra phán quyết cuối cùng đối với những bản án mà Toà án hải sự đã xử.

7. Toà án nhân dân tối cao

Toà án nhân dân tối cao nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được đặt tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc. Theo quy định tại điều 30 Luật tổ chức Toà án nhân dân Trung Quốc, Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của Nhà nước. Toà án nhân dân cao cấp gồm một Chánh án, các Phó Chánh án, các Chánh Toà, các Phó Chánh Toà, Thẩm phán và đội ngũ cán bộ hỗ trợ. Toà án nhân dân tối cao được tổ chức thành Toà Hình sự, Toà Dân sự, Toà Hành chính, Toà giám sát xét xử, Văn phòng thi hành án...

Theo quy định của pháp luật, Toà án nhân dân tối cao có chức năng và quyền hạn sau đây:

7.1.         Giám sát công tác xét xử của các Toà án nhân dân chuyên môn và hệ thống Toà án nhân dân các cấp. Đối với những bản án và phán quyết đã có hiệu lực của Toà án nhân dân cấp dưới, nếu phát hiện có sai phạm, Toà án nhân dân tối cao có quyền tự tiến hành xét xử lại hoặc chỉ đạo Toà án nhân dân cấp dưới tiến hành xét xử tái thẩm;

7.2.         Xét xử các vụ án sơ thẩm theo quy định của pháp luật, hoặc các vụ án sơ thẩm mà Toà án nhân dân tối cao xét thấy mình nên tự xét xử;

7.3.         Xét xử phúc thẩm các vụ án mà Toà án nhân dân cao cấp và Toà án nhân dân chuyên môn đã xử nhưng có kháng cáo, kháng nghị;

7.4.         Xét xử các vụ án do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị;

7.5.         Phê chuẩn các vụ án tử hình;

7.6.         Giải thích pháp luật khi áp dụng cụ thể vào công tác xét xử.

7.7.         Lãnh đạo và quản lý công tác hành chính tư pháp đối với hệ thống Toà án nhân dân các cấp trong cả nước.

V. Các cơ quan xét xử của Toà án nhân dân

Toà án nhân dân tiến hành công tác xét xử thông qua một số cơ quan nhất định, hình thức cơ quan đại diện cho Toà án nhân dân tiến hành xét xử và phán quyết này được gọi là các cơ quan xét xử. Theo quy định của pháp luật, các cơ quan xét xử của Toà án nhân dân gồm 03 loại: Toà độc nhiệm, Toà hợp nghị và Hội đồng thẩm phán.

1.        Toà độc nhiệm

Toà độc nhiệm là hình thực cơ quan xét xử trong đó chỉ có 01 Thẩm phán tiến hành xét xử mà không có sự tham gia của các thành phần khác. Theo quy định của pháp luật, Toà độc nhiệm tiến hành xét xử các loại án sau: các vụ án hình sự sơ thẩm hoặc tự tố và các vụ án hình sự đơn giản; các vụ án dân sự đơn giản; một số vụ án giải quyết theo trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật. Các vụ án do Toà độc nhiệm xét xử thường được tiến hành theo thủ tục rút gọn.

2. Toà hợp nghị

Toà hợp nghị là hình thức xét xử tập thể gồm 03 Thẩm phán trở lên. Theo quy định của pháp luật, đối với xét xử sơ thẩm, ngoài các vụ án hình sự, dân sự đơn giản hoặc các vụ án theo quy định của pháp luật do Toà độc nhiệm tiến hành xét xử ra, tất cả loại án còn lại đều do Toà hợp nghị gồm các Thẩm phán tham gia hoặc Toà hợp nghị gồm Thẩm phán và hội thẩm nhân dân tham gia tiến hành xét xử. Chính vì vây, Toà hợp nghị có thể được coi là hình thức xét xử chủ yếu của Toà án nhân dân. Phần lớn án của Toà án nhân dân đều do Toà hợp nghị xử.

Số lượng thành viên tham gia Toà hợp nghị phải là số chẵn, trong đó mọi thành viên đều chịu trách nhiệm đối với vụ án. Toà hợp nghị gồm một Thẩm phán chủ toạ, Hội thẩm nhân dân không đảm nhận vị trí Thẩm phán chủ toạ phiên toà. Khi Toà hợp nghị tiến hành nghị án, nếu có nhiều ý kiến khác nhau, sẽ quyết định theo đa số ý kiến, nhưng số ít ý kiến còn lại sẽ được ghi vào biên bản nghị án, mọi thành viên tham gia Toà nghị án sẽ phải ký tên vào biên bản đó. Sau khi nghị án, Toà hợp nghị sẽ tuyên án. Đối với những vụ án khó, phức tạp, nghiêm trọng, Toà hợp nghị gặp khó khăn trong việc đưa ra phán quyết có thể đề nghị Hội đồng Thẩm phán thảo luận để đưa ra quyết định. Sau khi Hội đồng Thẩm phán đưa ra quyết định, Toà hợp nghị sẽ phải thi hành quyết định đó.

3. Hội đồng thẩm phán

Theo quy định của Luật tổ chức Toà án nhân dân, Toà án nhân dân các cấp thành lập Hội đồng Thẩm phán nhằm thực hiện chế độ tập trung dân chủ. Nhiệm vụ của Hội đồng Thẩm phán là tổng kết kinh nghiệm công tác xét xử, thảo luận và đưa ra quyết định đối với những vụ án lớn, nghiêm trọng và các vấn đề công tác khác. Hội đồng Thẩm phán của Toà án nhân dân các cấp do Chánh án làm Chủ tịch. Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có thể tham gia Hội đồng Thẩm phán, được quyền phát biểu nhưng không được quyền biểu quyết.

Hội đồng Thẩm phán là hình thức tổ chức trong nội bộ Toà án nhân dân, có vai trò lãnh đạo tập thể đối với công tác xét xử, cũng là cơ quan xét xử cao nhất trong Toà án nhân dân. Hội nghị của Hội đồng Thẩm phán chỉ được tiến hành nếu có trên một nửa số lượng Uỷ viên của Hội đồng tham dự; Hội đồng Thẩm phán tiến hành thảo luận một vụ án trên cơ sở kết quả xét xử tại phiên toà của Toà hợp nghị, và phải lắng nghe những ý kiến của thành viên Toà hợp nghị. Khi biểu quyết, Chánh án bình quyền, bình đẳng với các Uỷ viên khác, cũng chỉ được bỏ 01 phiếu. Quyết nghị cuối cùng chỉ được đưa ra nếu thông qua một nửa số phiếu của Hội đồng Thẩm phán trở lên. Sau khi Hội đồng Thẩm phán đã đưa ra quyết nghị cuối cùng, Toà hợp nghị bắt buộc phải thi hành.

VI. Pháp quan Trung Quốc

Pháp quan Trung Quốc chỉ những người thực hành quyền xét xử của Nhà nước theo quy định của pháp luật, bao gồm: Chánh án, Phó Chánh án, Chánh Toà, Phó Chánh Toà, Thẩm phán, Trợ lý Thẩm phán của Toà án nhân dân Tối cao, Toà án nhân dân các cấp ở địa phương và Toà án nhân dân chuyên môn. Chức năng chủ yếu của Pháp quan là xét xử các vụ án, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện xét xử công bằng, hiệu quả. Nhằm xây dựng đội ngũ Pháp quan có tố chất và năng lực, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả của hoạt động xét xử, Trung Quốc đã ban hành Luật Pháp quan năm 1995, Luật Pháp quan sửa đổi năm 2001 và nhiều quy định pháp luật có liên quan khác. Luật Pháp quan và các quy định pháp luật có liên quan đã quy định rất rõ ràng về các nội dung: điều kiện bổ nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ, bồi dưỡng và thi cử, cấp bậc. phong thăng hoặc giáng hạ, khen thưởng và kỷ luật, buộc thôi việc và từ chức, phúc lợi, đạo đức nghề nghiệp của Pháp quan.

VII. Chế độ xét xử Trung Quốc

Chế độ xét xử là hệ thống các quy tắc cơ bản và trình tự do Nhà nước quy định yêu cầu Toà án nhân dân phải tuân thủ trong quá trình tiến hành hoạt động xét xử. Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, Chế độ xét xử chủ yếu bao gồm: Chế độ hai cấp xét xử, Chế độ Hội thẩm nhân dân, Chế độ tránh mặt, Chế độ biện hộ và biện luận.

1.        Chế độ hai cấp xét xử

Chế độ hai cấp xét xử là một chế độ xét xử của Trung Quốc, trong đó bản án cuối cùng được đưa ra khi vụ án sau đã qua hai cấp Toà án xét xử. Điều 12 Luật Tổ chức Toà án nhân dân quy định Toà án nhân dân áp dụng chế độ hai cấp xét xử trong hoạt động của mình. Đồng thời cũng quy định, đối với bản án sơ thẩm mà Toà án nhân dân các cấp ở địa phương đã tuyên, đương sự có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân trên một cấp theo quy định của pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân cũng có thể đưa ra kháng nghị theo trình tự quy định của pháp luật. Trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị nếu đương sự không có kháng cáo và Viện Kiểm sát không có kháng nghị thì bản ản sơ thẩm mà Toà án nhân dân các cấp ở địa phương đã tuyên sẽ có hiệu lực. Các bản án phúc thẩm mà Toà án nhân dân trung cấp, Toà án nhân dân cao cấp và Toà án nhân dân tối cao đã tuyên hoặc các bản án sơ thẩm mà Toà án nhân dân tối cao đã tuyên đều là những bản án chung thẩm có hiệu lực pháp luật.

2. Chế độ Hội thẩm nhân dân

Chế độ Hội thẩm nhân dân là chế độ xét xử trong đó Thẩm phán và Hội thẩm viên nhân dân cùng tham gia Toà hợp nghị để tiến hành xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật. Điều 10 Luật tổ chức Toà án nhân dân quy định, Toà hợp nghị do các Thẩm phán tham gia hoặc Thẩm phán và Hội thẩm viên nhân dân cùng tham gia tiến hành xét xử sơ thẩm các vụ án mà Toà án nhân dân đã thụ lý hồ sơ.

Nhằm hoàn thiện chế độ Hội thẩm nhân dân, tạo điều kiện cho công dân tham gia phiên toà theo quy định của pháp luật, thúc đẩy xây dựng nền tư pháp công bằng, Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc đã thông qua “Quy định nhằm hoàn thiện chế độ Hội thẩm nhân dân”, trong đó quy định cụ thể về điều kiện tham gia, nhiệm kỳ, phạm vi xét xử được tham gia, danh sách Hội thẩm viên nhân dân được tham gia phiên toà, quyền lợi và nghĩa vụ của Hội thẩm viên nhân dân, khen thưởng và kỷ luật đối với Hội thẩm viên nhân dân...Điều kiện để công dân được đảm nhiệm vai trò Hội thẩm viên nhân dân bao gồm:

                  Trung thành với Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa;

                  Đủ 23 tuổi trở lên;

                  Phẩm chất đạo đức tốt, có lập trường tư tưởng đúng đắn;

                  Có sức khoẻ tốt.

Ngoài ra, cũng có quy định Ủy viên Uỷ ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân, cán bộ Tư pháp công tác tại Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an, cơ quan an ninh quốc gia, cơ quan hành chính Tư pháp, Luật sư đều không được đảm nhận vai trò Hội thẩm viên nhân dân.

3. Chế độ tránh mặt

Chế độ tránh mặt chỉ trường hợp Thẩm phán có mối quan hệ đặc biệt với  những cán bộ có liên quan đến quy trình xét xử hoặc đương sự có liên quan đến vụ án, nếu trực tiếp tham gia xét xử có thể gây ảnh hưởng tới tính công bằng của việc xét xử, vì thế không được phép tham gia xét xử vụ án tại phiên toà. Pháp luật Trung Quốc có những quy định rất cụ thể về lý do tránh mặt, phạm vi tránh mặt, trình tự thủ tục tránh mặt...

            Lý do tránh mặt: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hành chính quy định: Thẩm phán trong các trường hợp sau đây bắt buộc phải tránh mặt, không tham gia xét xử tại phiên toà, đồng thường đương sự cũng có quyền đề nghị Thẩm phán trong những trường hợp này tránh mặt,không tham gia xét xử tại phiên toà, đó là những trường hợp sau: Thẩm phán là người thân trong gia đình của đương sự, người đại diện tham gia tố tụng; Thẩm phán có thể gây ảnh hưởng có lợi hoặc có hại đối với vụ án; Thẩm phán có quan hệ đặc biệt khác với đương sự, có thể làm ảnh hưởng tới tính công bằng của quá trình xét xử vụ án; Thẩm phán đã từng đóng vai trò làm nhân chứng, người giám định, người biện hộ hoặc người đại diện tham gia tố tụng của vụ án.

            Phạm vi tránh mặt: Phạm vi đối tượng trực tiếp phải tránh mặt là Thẩm phán, trợ lý Thẩm phán, Hội thẩm viên nhân dân, ngoài ra còn có Uỷ viên Hội đồng Thẩm phán, và những người tham gia khác như Thư ký, Phiên dịch, người giám định, người khám nghiệm...

            Thẩm tra và quyết định tránh mặt: đối với đề nghị phải tránh mặt của đương sự, Toà án nhân dân phải ra quyết định bằng văn bản hoặc khẩu lệnh trong vòng 03 ngày kể từ khi đương sự đưa ra đề nghị phải tránh mặt. Nếu người bị đề nghị tránh mặt không đồng ý, có thể yêu cầu phúc tra khi nhận được quyết định tránh mặt lần đầu tiên. Trong thời gian phúc tra, người bị đề nghị tránh mặt vẫn được quyền tiếp tục tham gia công tác trong quy trình xét xử. Sau khi nhận được yêu cầu phúc tra, Toà án nhân dân phải đưa ra quyết định trong vòng 03 ngày đồng thời thông báo kết quả cho người đề nghị phúc tra biết.

4. Chế độ biện luận và biện hộ

Chế độ biện luận và biện hộ là chế độ được pháp luật Trung Quốc quy định, trong đó đương sự tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể tiến hành tranh tụng hoặc phản bác ý kiến của đối phương về sự thật của vụ án và việc áp dụng Luật đối với vụ án. Trong xét xử hình sự, chế độ đó được gọi là chế độ biện hộ, còn trong xét xử dân sự và xét xử hành chính được gọi là chế độ biện luận.

4.1. Chế độ biện hộ

Trong tố tụng hình sự, bị can và người biện hộ của mình căn cứ sự thật và quy định của pháp luật, hoàn toàn có quyền phản bác lời cáo buộc của đối phương nhằm chứng minh bị can vô tội hoặc tội nhẹ hơn cáo buộc, và đạt được phán quyết vô tội hoặc tội nhẹ, miễn giảm trách nhiệm hình sự từ Toà án.

 Điều 8 Luật Tổ chức Toà án nhân dân quy định, bị can bị cáo có quyền được biện hộ. Bị cáo có thể tự biện hộ hoặc uỷ thác cho Luật sư biện hộ cho mình. Trong trường hợp xét thấy cần thiết, Toà án có thể chỉ định người biện hộ cho bị cáo. Theo quy định tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền được biện hộ, Toà án phải có nghĩa vụ đảm bảo quyền được biện hộ của bị cáo được thực hiện. Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc cũng quy định, trách nhiệm của người biện hộ là căn cứ sự thật và quy định của pháp luật, đưa ra những tài liệu và quan điểm nhằm chứng minh bị can, bị cáo vô tội, tội nhẹ hoặc có thể giảm tội, miễn trừ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

4.2. Chế độ biện luận

Trong tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, dưới sự chủ trì của Toà án các bên đương sự có quyền trình bày quan điểm, căn cứ của mình về sự thật của vụ án và những vấn đề tranh luận, các bên đương sự có quyền tiến hành tranh tụng và phản bác ý kiến của đối phương để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật tố tụng dân sự, trong quá trình Toà xét xử các vụ án dân sự, các bên đương sự có quyền biện luận. Điều 9 Bộ luật tố tụng hành chính Trung Quốc cũng quy định, các bên đương sự khi tham gia tố tụng hành chính có quyền biện luận.

5. Chế độ giám sát xét xử

Chế độ giám sát xét xử còn gọi là chế độ tái thẩm, trong đó Toà án tiến hành xét xử lại bản án đã có hiệu lực theo quy định của pháp luật. Về tính chất, đây thực chất là một trình tự bổ sung cho chế độ hai cấp xét xử.

Ba phương thức để khởi động trình tự giám sát xét xử:

5.1. Toà án tự khởi động trình tự giám sát xét xử. Trong trường hợp Toà án tự phát hiện ra những sai phạm trong các bản án, phán quyết đã có hiệu lực, Toà án có nghĩa vụ chủ động tiến hành trình tự giám sát xét xử, tức là tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự tái thẩm;

5.2. Viện Kiểm sát khởi động trình tự giám sát xét xử. Trong trường hợp Viện Kiểm sát phát hiện ra những sai phạm trong các bản án, phán quyết của Toà đã có hiệu lực, Viện Kiểm sát sẽ tiến hành kháng nghị, Toà án phải tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự tái thẩm;

5.3. Đương sự đề nghị tiến hành xét xử tái thẩm. Đối với những bản án đã có hiệu lực pháp luật, nếu có sai phạm, đương sự cho rằng kết quả của bản án không đúng với sự thật hoặc không thoả đáng theo quy định của pháp luật, đương sự hoàn toàn có quyền đề nghị tiến hành xét xử lại. Sau khi thẩm tra, nêu đủ điều kiện tái thẩm, Toà sẽ mở phiên toà xét xử lại vụ án theo trình tự tái thẩm.

VIII. Cải cách chế độ xét xử Trung Quốc

1.        Cải cách thể chế quản lý hoạt động xét xử, đảm bảo cho Toà án có thể độc lập thực hành quyền xét xử của mình.

2.        Áp dụng biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao tố chất, năng lực tổng thể cho đội ngũ Thẩm phán, thúc đẩy xây dựng nên tư pháp công bằng.

3.  Cải cách và hoàn thiện chế độ Pháp quan, ngăn chặnc các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động tư pháp.

 

CHƯƠNG III: CHẾ ĐỘ ĐIỀU TRA TRUNG QUỐC

I. Hàm nghĩa và tính chất của Chế độ điều tra Trung Quốc

Chế độ điều tra là khái niệm pháp luật tổng quát bao gồm các nội dung về tính chất, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan điều tra, nguyên tắc hoạt động điều tra và cơ chế hoạt động cơ bản của cơ quan điều tra Trung Quốc. Chế độ điều tra Trung Quốc là một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ Tư pháp xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.

II. Cơ quan điều tra Trung Quốc

Cơ quan điều tra Trung Quốc bao gồm Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Cơ quan an ninh quốc gia, Cục chống buôn lậu Hải quan, Cơ quan bảo vệ quân đội và Trại giam.

1.        Cơ quan Công an

Cơ quan Công an là cơ quan điều tra chủ yếu của Trung Quốc, chịu trách nhiệm điều tra phần lớn số lượng án trong tố tụng hình sự. Tố tụng hình sự đã trao cho Cơ quan Công an quyền lực điều tra trên quy mô rộng. Cơ quan Công an có quyền khởi tố điều tra đối với những vụ án thuộc quyền quản lý của mình. Trong Quá trình điều tra, Cơ quan Công an có quyền thẩm vấn những kẻ bị tình nghi phạm tội, lấy lời khai của nhân chứng và người bị hại, tiến hành khám nghiệm, kiểm tra, tìm kiếm, tạm giữ tài liệu vật chứng, giám định tìm hiểu những tài khoản bị phong toả...Cơ quan Công an có quyền áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế như: Triệu tập để thẩm vấn, bảo lãnh, cho tại ngoại, bắt tạm giữ, cưỡng chế kiểm tra, cưỡng chế tạm giữ...Cơ quan Công an cũng có quyền đề nghị Viện Kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt giữ và triển khai thực hiện, có quyền quyết định và thực hiện lệnh truy nã.

Bộ Công an nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là cơ quan Công an cao nhất của Trung Quốc, chịu trách nhiệm chỉ huy công tác nghiệp vụ của ngành Công an trong cả nước. Cơ quan Công an các cấp ở địa phương bao gồm: Cơ quan Công an cấp tỉnh, cơ quan Công an cấp Khu vực, cơ quan Công an cấp huyện, ngoài ra còn thành lập một số cơ quan Công an chuyên môn khác như: Công an đường sắt, Công an hàng không dân dụng, Công an lâm nghiệp…Trạm cảnh sát là cơ quan công an cấp cơ sở. Quan hệ giữa Cơ quan Công an cấp trên và Cơ quan Công an cấp dưới là quan hệ lãnh đạo và bị lãnh đạo.

2. Viện Kiểm sát nhân dân

Bộ luật tố tụng hình sự cho phép Viện Kiểm sát thực hành quyền điều tra nhằm mục đích đảm bảo chức năn giám sát một cách hiệu quả đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước. Những đối tượng mà Viện Kiểm sát tiến hành điều tra chủ yếu là những loại tội phạm có liên quan đến cán bộ công chức trong quá trình thi hành công vụ, và những loại tội phạm có liên quan đến việc lạm dụng chức vụ quyền hạn của cán bộ công chức.

Hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân được tổ chức thành Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp tại địa phương và các Viện Kiểm sát chuyên môn. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan Kiểm sát cao nhất, chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác đối với Viện Kiểm sát nhân dân địa phương các cấp và các Viện Kiểm sát chuyên môn, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên chỉ đạo công tác đối với Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới.

3. Cơ quan an ninh quốc gia

Cơ quan an ninh quốc gia là cơ quan bảo vệ an ninh của đất nước, mang trọng trách đấu tranh chống gián điệp và đặc vụ. Theo quy định tại Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan an ninh quốc gia thụ lý giải quyết các vụ án hình sự làm tổn hại tới an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật; Cơ quan an ninh quốc gia có chức năng và quyền hạn tương đương với Cơ quan Công an.

Cơ quan an ninh quốc gia là một bộ phận của Chính quyền địa phương các cấp và chịu sự lãnh đạo của Chính quyền địa phương các cấp. Bộ an ninh nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là Cơ quan an ninh cao nhất của Nhà nước, chịu trách nhiệm lãnh đạo và quản lý công tác an ninh quốc gia trong cả nước. Ủy ban nhân dân các tỉnh thành lập Sở an ninh quốc gia, các địa phương dưới cấp tỉnh tùy vào yêu cầu thực tế của địa phương để quyết định thành lập Cơ quan an ninh quốc gia của địa phương mình.

4. Cục chống buôn lậu Hải quan

Bắt đầu từ năm 1998, Hải quan các cấp của Trung Quốc thành lập Cục chống buôn lậu, chịu trách nhiệm điều tra các vụ án có liên quan đến tội phạm buôn lậu. Trong lĩnh vực điều tra tội phạm buôn lậu, Cục chống buôn lậu Hải quan có chức năng và quyền hạn tương đương với Cơ quan Công an.

5. Cơ quan bảo vệ quân đội và Trại giam

Điều 225 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc quy định, Cơ quan bảo vệ quân đội chịu trách nhiệm tiến hành điều tra những vụ án hình sự xảy ra trong nội bộ quân đội. Đối với những vụ án xảy ra trong trại giam, Trại giam sẽ tiến hành điều tra. Theo quy định này, Cơ quan bảo vệ quân đội và Trại giam là những cơ quan điều tra án đặc biệt trong quân đội và Trại giam, trong những trường hợp đó, Cơ quan bảo vệ quân đội và Trại giam có chức năng và quyền hạn tương đương với Cơ quan Công an.

Nhiệm vụ chủ yếu của Cơ quan điều tra Trung Quốc là thu thập chứng cứ, xác minh làm rõ sự thật; tìm kiếm, tập hợp những đối tượng tình nghi phạm tội; phòng chống tội phạm; bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tập thể, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân không bị xâm phạm; bảo vệ nền dân chủ chuyên chính nhân dân.

III. Chế độ thụ lý hồ sơ vụ án và khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra Trung Quốc

1. Tiếp nhận thông tin, tài liệu có liên quan đến vụ án

Theo quy định tại Điều 84 Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc, bất cứ cá nhân, tập thể nào khi phát hiện những dấu hiệu phạm tội hoặc đối tượng tình nghi phạm tội cũng đều phải có nghĩa vụ và quyền khai báo, tố giác với các Cơ quan Tư pháp. Người bị hại có quyền khai báo, tố giác với các Cơ quan Tư pháp về thông tin, đối tượng tình nghi phạm tội xâm phạm quyền lợi nhân thân hoặc tài sản của mình. Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự quy định, Cơ quan điều tra phải có nghĩa vụ tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm. Trong trường hợp không thuộc địa bàn, phạm vi quản lý của mình, Cơ quan điều tra tiếp nhận thông tin phải chuyển thông tin, hồ sơ cho cơ quan chủ quản xử lý và thông báo cho người khai báo tố giác được biết; Đối với những trường hợp không thuộc địa bàn, phạm vi quản lý của mình, nhưng thực tế yêu cầu phải có biện pháp khẩn trương và nhanh chóng thì Cơ quan điều tra tiếp nhận thông tin cần có biện pháp xử lý kịp thời, sau đó chuyển giao lại cho cơ quan chủ quản để tiếp tục xử lý.

2. Thẩm tra thông tin, tài liệu đã tiếp nhận

Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra sau khi tiếp nhận thông tin, tài liệu khai báo, tố giác, tự thú, phải nhanh chóng tiến hành thẩm tra trong phạm vi quản lý của mình. Trong quá trình thẩm tra, Cơ quan điều tra có thể yêu cầu người khai báo, người tố giác bổ sung thông tin; Cơ quan điều tra cũng có thể tự tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ, khi cần thiết có thể áp dụng các biện pháp điều tra thông thường như: khám nghiệm, kiểm tra, thẩm vấn, giám định, lấy lời khai của nhân chứng…

3. Xử lý thông tin, tài liệu đã tiếp nhận

Cơ quan điều tra sau khi tiến hành thẩm tra thông tin, tài liệu khai báo, tố giác tội phạm, xét thấy đủ điều kiện khởi tố tức là có dấu hiệu phạm tội, phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật, thì phải lập tức ra quyết định khởi tố. Đối với những trường hợp không đủ điều kiện khởi tố, thì không được phép ra quyết định khởi tố, đồng thời thông báo rõ lý do không khởi tố vụ án cho người khai báo, người tố giác biết. Nếu người khai báo, người tố giác không chấp thuận thì có quyền đề nghị phúc tra.

IV. Chế độ áp dụng thủ tục điều tra

Cơ quan điều tra sau khi ra quyết định khởi tố vụ án phải tiếp tục tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật. Khi áp dụng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, phải tuyệt đối nghiêm chỉnh chấp hành các điều kiện và thủ tục theo quy định của pháp luật.

1. Thẩm vấn đối tượng tình nghi phạm tội

Thẩm vấn đối tượng tình nghi phạm tội là một hoạt động nghiệp vụ điều tra trong đó Điều tra viên tiến hành lấy lời khai của đối tượng bị tình nghi phạm tội về thông tin vụ án và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án bằng hình thức hỏi đáp.

Hoạt động thẩm vấn đối tượng tình nghi phạm tội chỉ được tiến hành bởi Điều tra viên. Khi thẩm vấn đối tượng, số lượng Điều tra viên phải từ 02 người trở lên. Trong quá trình thẩm vấn, Điều tra viên không được phép bức cung, đe dọa, dụ dỗ, lừa gạt hoặc sử dụng bất kỳ thủ đoạn phi pháp khác để lấy lời khai của đối tượng. Điều tra viên tiến hành thẩm vấn phải làm biên bản thẩm vấn đối tượng bị tình nghi phạm tội, ghi chép đúng sự thật; sau khi thẩm vấn hoàn thành đối tượng bị thẩm vấn được phép đọc lại biên bản. Đối với những đối tượng không có khả năng đọc hiểu, Điều tra viên phải đọc biên bản cho đối tượng bị thẩm vấn nghe. Nếu nội dung biên bản có sai sót, đối tượng bị thẩm vấn có thể yêu cầu bổ sung hoặc cải chính. Nếu đối tượng bị thẩm vấn thừa nhận nội dung biên bản không có sai sót thì phải ký tên hoặc đóng dấu lên biên bản đó. Điều tra viên tiến hành thẩm vấn cũng phải ký tên vào biên bản thẩm vấn. Trong trường hợp đối tượng bị tình nghi phạm tội đề nghị viết bản tự thuật thì Cơ quan điều tra phải chấp thuận đề nghị đó. Sau lần bị thẩm vấn đầu tiên hoặc kể từ ngày bị áp dụng những biện pháp mạnh trong quá trình thẩm vấn, đối tượng bị thẩm vấn có quyền mời hoặc gặp mặt Luật sư để được tư vấn, hỗ trợ về mặt pháp luật hoặc đại diện mình tiến hành khiếu nại, tố cáo. Đối với những đối tượng đã bị bắt, Luật sư có quyền bảo lãnh cho thân chủ của mình.

2. Thẩm vấn nhân chứng và người bị hại

Thẩm vấn nhân chứng cũng là một hoạt động thuộc nghiệp vụ điều tra, trong đó Điều tra viên lấy lời khai của nhân chứng về tình hình thực tế của vụ án bằng hình thức hỏi đáp theo quy định của pháp luật.

Hoạt động thẩm vấn nhân chứng phải được tiến hành bởi Điều tra viên. Điều tra viên tiến hành thẩm vấn phải làm biên bản thẩm vấn nhân chứng, ghi chép đúng sự thật; sau khi thẩm vấn hoàn thành, nhân chứng được phép đọc lại biên bản. Đối với những nhân chứng không có khả năng đọc hiểu, Điều tra viên phải đọc biên bản cho nhân chứng nghe. Nếu nội dung biên bản có sai sót, nhân chứng có thể yêu cầu bổ sung hoặc cải chính. Nếu nhân chứng thừa nhận nội dung biên bản không có sai sót thì phải ký tên hoặc đóng dấu lên biên bản đó. Điều tra viên tiến hành thẩm vấn cũng phải ký tên vào biên bản thẩm vấn. Đối với những nhân chứng chưa đủ 18 tuổi, có thể thông báo cho đại diện pháp nhân của nhân chứng đó tới tham dự thẩm vấn.

Thẩm vấn người bị hại là một hoạt động thuộc nghiệp vụ điều tra, trong đó Điều tra viên lấy lời khai của người bị hại trực tiếp để tìm hiểu quá trình bị hại và thông tin về đội tượng tình nghi phạm tội bằng hình thức hỏi đáp theo quy định của pháp luật. Thủ tục thẩm vấn người bị hại hoàn toàn giống với thủ tục thẩm vấn nhân chứng.

3. Khám nghiệm, kiểm tra

Hoạt động khám nghiệm, kiểm tra là một hoạt động nghiệp vụ điều tra trong đó Điều tra viên tiến hành khám nghiệm và kiểm tra hiện trường, tang vật, nhân thân, tử thi có liên quan đến hành vi phạm tội. Đây là một hoạt động nghiệp vụ điều tra nhằm phát hiện, thu thập và cố định những tang vật, dấu vết còn lại tại hiện trường nơi diễn ra vụ án. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, hoạt động khám nghiệm, kiểm tra có thể được chia thành: khám nghiệm hiện trường, kiểm nghiệm vật chứng, khám nghiệm tử thi, kiểm tra nhân thân và thí nghiệm điều tra.

4. Khám xét

Khám xét là một hoạt động thuộc nghiệp vụ điều tra, trong đó Điều tra viên tiến hành khám xét, kiểm tra nhân thân, đồ vật, chỗ ở…của đối tượng bị tình nghi phạm tội, những người có khả năng che dấu kẻ phạm tội hoặc chứng cứ phạm tội. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều tra viên trước khi tiến hành khám xét phải xuất trình Quyết định khám xét. Khi Điều tra viên tiến hành khám xét, phải có sự hiện diện của người bị khám xét, người thân, hàng xóm và những người làm chứng khác. Việc khám xét đối tượng là phụ nữ phải do cán bộ nữ tiến hành. Quá trình khám xét phải được ghi vào biên bản khám xét; Điều tra viên, đối tượng bị khám xét, người thân, hàng xóm và những nhân chứng khác phải ký tên hoặc đóng dấu vào biên bản khám xét. Nếu người bị khám xét hoặc người thân của người bị khám xét trốn tránh, từ chối ký tên, đóng dấu vào biên bản thì phải ghi chú rõ ràng vào biên bản khám xét. Trong trường hợp tiến hành bắt giữ hoặc tạm giữ, nếu gặp phải tình huống khẩn cấp theo quy định của pháp luật thì có thể tiến hành khám xét khẩn cấp không cần Quyết định khám xét.

5. Tịch thu vật chứng, tài liệu

Tịch thu vật chứng, tài liệu là một hoạt động thuộc nghiệp vụ điều tra, trong đó Cơ quan điều tra tiến hành cưỡng chế tịch thu, phong tỏa, giữ nguyên hiện trạng các đối với những vật chứng, văn bản, tài liệu có liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật. Mục đích của việc tịch thu vật chứng, tài liệu là nhằm bảo toàn cho vật chứng. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, việc tịch thu vật chứng, tài liệu phải do Điều tra viên tiến hành, phạm vi tịch thu chỉ giới hạn đối với những vật phẩm, văn bản, tài liệu có ý nghĩa là chứng cứ liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra phải bảo quản, cất giữ những vật chứng nguyên vẹn, không được phép sử dụng vào mục đích khác hoặc tiêu hủy vật chứng. Đối với những vật chứng, văn bản, tài liệu bị tịch thu, Cơ quan điều tra phải tiến hành rà soát rõ ràng và kê khai đầy đủ ngay tại hiện trường với sự chứng kiến của người sở hữu vật chứng và các nhân chứng khác. Điều tra viên lập bản kê khai danh mục vật chứng bị tịch thu. Điều tra viên, người sở hữu vật chứng và các nhân chứng cùng ký tên hoặc đóng dấu vào bản kê khai. Bản kê khai danh mục các vật chứng bị tịch thu được lập thành 02 bản có giá trị như nhau, một bản giao cho người sở hữu vật chứng, một bản lưu vào hồ sơ vụ án. Cơ quan điều tra có quyền tịch thu bưu kiện, điện báo của đối tượng bị tình nghi phạm tội; có quyền kiểm tra, phong tỏa tài khoản và các giao dịch tại ngân hàng của đối tượng bị tình nghi phạm tội theo quy định của pháp luật. Tài khoản và giao dịch ngân hàng của đối tượng bị tình nghi phạm tội nếu đã bị phong tỏa một lần thì không được phép phong tỏa lần thứ 2. Những vật chứng, văn bản, tài liệu, bưu kiện, điện báo bị tịch thu hoặc tài khoản và các giao dịch ngân hàng đã bị phong tỏa sau khi điều tra xác minh cho thấy không có liên quan tới vụ án thì phải được tháo dỡ phong tỏa, trả lại cho chủ sở hữu hoặc bưu điện trong thời hạn 03 ngày.

6. Giám định

Giám định là một biện pháp nghiệp vụ điều tra, trong đó Cơ quan điều tra để hiểu rõ bản chất của vụ án chỉ định hoặc mời những chuyên gia có kiến thức chuyên môn tiến hành kiểm nghiệm, phân biệt những vấn đề mang tính khoa học chuyên môn có liên quan đến vụ án và đưa ra kết luận giám định phục vụ hoạt động điều tra. Hoạt động giám định phải tuân thủ những quy định sau đây:

Đối tượng được Cơ quan điều tra chỉ định hoặc mời giám định phải có năng lực và tư cách giám định. Cơ quan điều tra phải đặt ra những điều kiện cụ thể yêu cầu Giám định viên phải đạt được. Giám định viên phải tuân theo những quy định của pháp luật về công tác giám định trong quá trình tiến hành giám định. Giám định viên sau khi tiến hành giám định phải viết kết luật giám định và ký tên vào bản kết luận đó. Những trường hợp giám định thương tật có nhiều ý kiến khác nhau cần thiết phải giám định lại hoặc giám định bệnh tâm thần do Bệnh viện được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định tiến hành. Giám định viên sau khi tiến hành giám định phải viết kết luật giám định và ký tên vào bản kết luận, có đóng dấu của bệnh viện. Giám định viên nếu cố ý làm giám định giả hoặc sai lệnh sẽ phải chịu mọi trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan điều tra phải thông báo kết quả giám định được dùng làm chứng cứ cho người bị tình nghi phạm tội và người bị hại biết. Nếu người bị tình phạm tội và người bị hại yêu cầu, Cơ quan điều tra phải tiến hành giám định lại hoặc giám định bổ sung. Thời hạn giám định bệnh tâm thần đối với người bị tình nghi phạm tội không được tính vào thời hạn điều tra vụ án.

7. Biện nhận

Biện nhận là hoạt động nghiệp vụ điều tra, trong đó Điều tra viên để làm rõ bản chất vụ án, trong trường hợp cần thiết có thể cho người bị hại, nhân chứng và đối tượng bị tình nghi phạm tội nhận diện, phân biệt các vật chứng, tài liệu, tử thi, hiện trường, đối tượng bị tình nghi khác… có liên quan tới hành vi phạm tội. Khi tiến hành biện nhận phải tuyệt đối tuân theo những quy định có liên quan của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an.

8. Truy nã

Truy nã là một biện pháp nghiệp vụ điều tra, trong đó Cơ quan Công an sử dụng Lệnh truy nã để thông báo bắt những đối tượng tình nghi phạm tội đã bị bắt giữ nhưng đã bỏ trốn. Khi tiến hành truy nã phải tuyệt đối tuân thủ những quy định có liên quan của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an.

V. Chế độ sử dụng biện pháp cưỡng chế trong điều tra

Trong các thủ tục điều tra, sử dụng biện pháp cưỡng chế là một biện pháp nghiệp vụ, trong đó Cơ quan điều tra áp dụng những biện pháp hạn chế tạm thời hoặc tước đoạt quyền tự do nhân thân đối với đối tượng tình nghi phạm tội nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động điều tra được tiến hành thuận lợi, ngăn chặn những trường hợp trốn tránh bị điều tra phát sinh. Cụ thể bao gồm 05 biện pháp sau: triệu tập để thẩm vấn, bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, bắt tạm giữ.

1. Triệu tập để thẩm vấn

Triệu tập để thẩm vấn là biện pháp thuộc nghiệp vụ điều tra, trong đó Cơ quan điều tra cưỡng chế bắt buộc đối tượng tình nghi phạm tội phải có mặt tại một địa điểm chỉ định để trả lời thẩm vấn. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra khi triệu tập đối tượng tình nghi phạm tội phải xuất trình Quyết định triệu tập. Khi đối tượng bị triệu tập đến địa điểm chỉ định, Cơ quan điều tra yêu cầu đối tượng điền thời gian đến nơi chỉ định vào Quyết định triệu tập, đồng thời lập tức tiến hành thẩm vấn. Sau khi thẩm vấn kết thúc, đối tượng tình nghi phạm tội phải điền thời gian kết thúc thẩm vấn vào Quyết định triệu tập. Thời gian triệu tập liên tục không được quá 12 giờ đồng hồ, không được phép biến tướng biện pháp triệu tập liên tục thành tạm giam đối tượng bị tình nghi phạm tội.

2. Bảo lãnh

Bảo lãnh là một biện pháp nghiệp vụ mà Cơ quan điều tra áp dụng trong quá trình điều tra, trong đó Cơ quan điều tra yêu cầu đối tượng bị tình nghi cam kết không bỏ trốn và có mặt ngay khi triệu tập. Sau khi áp dụng biện pháp bảo lãnh, đối tượng tình nghi phạm tội có thể được hoạt động tự do trong một phạm vi hạn chế nhất định, nếu đối tượng vi phạm những quy định pháp luật về bảo lãnh, thì đây có thể được coi là một điều kiện cấu thành để ra Quyết định bắt giữ.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đối tượng tình nghi phạm tội , bị cáo và đại diện pháp nhân, người thân của đối tượng bị tình nghi phạm tội, bị cáo đang bị tạm giam có quyền đề nghị bảo lãnh. Bảo lãnh do Cơ quan Công an tiến hành. Đối tượng bị tình nghi phạm tội được bảo lãnh phải tuân thủ các quy định sau đây:

                        Không được phép di dời khỏi huyện, thành phố nơi cư trú khi chưa được sự cho phép của Cơ quan thi hành bảo lãnh;

                        Phải có mặt kịp thời khi được triệu tập;

                        Không được phép can thiệp hoặc làm nhiễu động việc làm chứng của nhân chứng dưới bất kỳ hình thức nào;

                        Không tiêu hủy chứng cứ, không tạo chứng cứ giả hoặc thông đồng, câu kết với đối tượng khác để tạo lời khai giả. Thời gian bảo lãnh là 01 năm, bảo lãnh không được phép làm gián đoạn công tác điều tra vụ án.

3. Cấm đi khỏi nơi cư trú

Cấm đi khỏi nơi cứ trú là một biện pháp nghiệp vụ điều tra, trong đó Cơ quan điều tra căn cứ quy định của pháp luật tiến hành hạn chế phạm vi hoạt động của đối tượng tình nghi phạm tội nhằm tránh trường hợp đối tượng tình nghi trốn tránh điều tra hoặc gây trở ngại cho hoạt động điều tra. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đối tượng bị tình nghi, bị cáo được hưởng tại ngoại phải tuân thủ những quy định sau đây:

                        Không được phép di dời khỏi nơi cư trú khi chưa được sự cho phép của Cơ quan thi hành tại ngoại; đối với những trường hợp không có chỗ ở cố định, không được phép di dời khỏi nơi cư trú đã được chỉ định khi chưa được cho phép của Cơ quan thi hành tại ngoại;

                        Không được phép gặp người khác khi chưa được cho phép của Cơ quan thi hành tại ngoại;

            Phải có mặt kịp thời khi được triệu tập;

                        Không được phép can thiệp hoặc làm nhiễu động việc làm chứng của nhân chứng dưới bất kỳ hình thức nào;

                        Không tiêu hủy chứng cứ, không tạo chứng cứ giả hoặc thông đồng, câu kết với đối tượng khác để tạo lời khai giả. Đối tượng tình nghi, bị cáo đang được hưởng tại ngoại nếu vi phạm những quy định trên, tình tiết nghiêm trọng sẽ bị bắt giữ. Thời gian cho hưởng tại ngoại không quá 06 tháng, thời gian cho tại ngoại không được phép làm gián đoạn công tác điều tra vụ án.

4. Tạm giam

Tạm giam là một biện pháp nghiệp vụ, trong đó Cơ quan điều tra căn cứ quy định của pháp luật tiến hành tước đoạt tự do nhân thân tạm thời đối với tội phạm hoặc đối tượng tình nghi phạm tội trong những tình huống đặc biệt khẩn cấp theo quy định của pháp luật. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan Công an trong những tình huống dưới đây có thể tiến hành tạm giam tội phạm hoặc đối tượng tình nghi phạm tội:

4.1. Bị phát hiện khi đang chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc vừa thực hiện xong hành vi phạm tội;

4.2. Người bị hại hoặc những người chứng kiến tại hiện trường chỉ rõ đối tượng thực hiện hành vi phạm tội;

4.3. Phát hiện thấy những chứng cứ phạm tội trên người đối tượng hoặc tại nơi ở của đối tượng;

4.4. Những đối tượng sau khi thực hiện hành vi phạm tội đang định tự sát, bỏ chạy hoặc đang lẩn trốn;

4.5. Có khả năng sẽ tiêu hủy chứng cứ, tạo chứng cứ giả hoặc thông đồng, câu kết với đối tượng khác để tạo lời khai giả;

4.6. Những đối tượng không khai đúng họ tên, địa chỉ cư trú hoặc nhân lai lịch thân không rõ ràng;

4.7. Những biểu hiện của việc phạm tội nhiều lần, tại nhiều địa bàn, phạm tội có tổ chức.

Tạm giam do Cơ quan Công an tiến hành. Khi tiến hành tạm giam người, Cơ quan Công an phải xuất trình Quyết định tạm giam. Sau khi tiến hành tạm giam,  Cơ quan Công an phải thông báo lý do tạm giam, địa điểm tạm giam cho người bị tạm giam và người thân, đơn vị công tác trong vòng 24 giờ, trừ trường hợp ảnh hưởng tới quá trình điều tra hoặc không không thể thông báo được. Nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ đối tượng đang tạm giam, trong vòng 30 ngày Cơ quan Công an phải đề nghị Viện Kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt giữ.

5. Bắt giữ

Bắt giữ là một biện pháp nghiệp vụ mang tính cưỡng chế, trong đó Cơ quan điều tra căn cứ quy định của pháp luật tiến hành tước bỏ tạm thời quyền tự do nhân thân bằng hình thức giam giữ nhằm đề phòng đối tượng tình nghi phạm tội trốn tránh bị điều tra hoặc gây cản trở cho quá trình điều tra, đề phòng trường hợp những đối tượng này gây tổn hại cho xã hội.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra mặc dù đã áp dụng những biện pháp như bảo lãnh, cấm đi khỏi nơi cư trú đối với những đối tượng tình nghi phạm tội, bị cáo đã có bằng chứng rõ ràng chứng minh hành vi phạm tội và có thể xử phạt tù, nhưng vẫn chưa đủ để ngăn chặn những tổn hại cho xã hội, thì phải khẩn trương tiến hành bắt giữ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, Cơ quan Công an phải có văn bản đề nghị phê chuẩn bắt giữ, và chuyển kèm văn bản này cùng hồ sơ vụ án án, chứng cứ…cho Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp để thẩm tra và phê chuẩn bắt giữ. Sau khi Viện Kiểm sát thẩm tra hồ sơ và chứng cứ vụ án, nếu cần thiết phải tiến hành bắt giữ đối tượng, Viện trưởng Viện Kiểm sát sẽ phê chuẩn quyết định bắt giữ. Những vụ án nghiêm trọng, án lớn phải đệ trình Ủy ban Kiểm sát thảo luận quyết định. Sau khi thẩm tra hồ sơ vụ án và xét đề nghị phê chuẩn bắt giữ của Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát căn cứ yêu cầu thực tế để ra Quyết định phê chuẩn bắt giữa hoặc không phê chuẩn bắt giữ. Đối với những trường hợp không phê chuẩn bắt giữ, Viện Kiểm sát phải thông báo rõ lý do, những trường hợp cần điều tra bổ sung Viện Kiểm sát cũng cần thông báo cho Cơ quan Công an. Nếu xét thấy Quyết định không phê chuẩn bắt giữ của Viện Kiểm sát có sai phạm Cơ quan Công an có quyền yêu cầu phúc tra, tuy nhiên vẫn phải ngay lập tức thả người đang bị tạm giam. Nếu yêu cầu phúc tra của Cơ quan Công an không được chấp nhận, Cơ quan Công an có thể tiếp tục đệ trình phúc tra lên Viện Kiểm sát nhân dân trên 01 cấp. Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên phải lập tức tiến hành phúc tra và đưa ra quyết định cụ thể về việc có cần sửa đổi lại Quyết định của Viện Kiểm sát cấp dưới hay không, đồng thời thông báo kết quả phúc tra cho Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới và Cơ quan Công an để thi hành. Khi tiến hành bắt giữ, Cơ quan Công an phải xuất trình Lệnh bắt giữ. Sau khi tiến hành bắt giữ, Cơ quan Công an phải thông báo lý do bắt giữ, địa điểm bắt giữ cho người bị bắt giữ và người thân, đơn vị công tác trong vòng 24 giờ, trừ trường hợp có ảnh hưởng tới quá trình điều tra hoặc không không thể thông báo được.

VI. Chế độ kết thúc điều tra

Kết thúc điều tra là một thủ tục tố tụng, trong đó Cơ quan điều tra sau khi tiến hành một loạt các biện pháp điều tra, xét thấy vụ án đã sáng tỏ, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đủ chứng minh đối tượng có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, quyết định kết thúc điều tra, đồng thời đưa ra kết luận và hướng giải quyết vụ án.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Những vụ án sau khi đã kết thúc điều tra, tùy vào tình hình thực tế của vụ án, Cơ quan Công an phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát để thẩm tra quyết định truy tố, hủy án hoặc không truy tố.

VII. Cải cách chế độ điều tra Trung Quốc

1.              Cải cách thể chế điều tra hiện hành, quy phạm và kiểm soát quyền điều tra, tăng cường giám sát và chế ước hoạt động điều tra;

2.              Điều chỉnh quan hệ giữa truy tố và điều tra, giữa Kiểm sát và Công an; thực hiện theo nguyên tắc truy tố chỉ đạo điều tra, Kiểm sát giám sát Công an;

3.              Xác lập vị trí chủ động của bị can trong tố tụng, tăng quyền lợi của bị can và người bào chữa trong hoạt động tố tụng;

4.              Thực hiện lấy lời khai và thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật, xây dựng nguyên tắc hủy bỏ những chứng cứ không hợp lệ.

 

CHƯƠNG IV: CHẾ ĐỘ THI HÀNH

I. Hàm nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của Chế độ thi hành án Trung Quốc

1. Hàm nghĩa:

Chế độ thi hành án là một khái niệm pháp luật tổng quát về những quy định pháp luật phải được tuân theo trong quá trình thi hành các văn bản pháp luật đã có hiệu lực. Chế độ thi hành là hệ thống những quy định pháp luật về căn cứ, thủ tục, phương pháp thực thi pháp luật và trình tự, phương thức, phương pháp được áp dụng khi giải quyết các vấn đề có liên quan trong quá trình thực thi pháp luật. Chế độ thi hành bao gồm 03 bộ phận cấu thành quan trọng, đó là: Chế độ thi hành án hình sự, Chế độ thi hành án dân sự và Chế độ thi hành án hành chính.

2. Tính chất:

Chế độ thi hành là một bộ phận cấu thành quan trọng của Chế độ Tư pháp xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.

3. Nhiệm vụ:

                Chế độ thi hành có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính xác, kịp thời những nội dung pháp luật đã được xây dựng trong các văn bản pháp luật đã có hiệu lực. Thông qua việc thực thi các văn bản pháp luật đã có hiệu lực, góp phần thực hiện mục tiêu trừng trị thích đáng người có tội, bảo vệ nhân dân, duy trì trật tự xã hội và nền pháp chế xã hội chủ nghĩa.

                II. Đối tượng thi hành

                Đối tượng thi hành bao gồm: Tòa án, Công an, Trại giam, Cơ quan hành chính. Các cơ quan này có nhiệm vụ sau đây:

1.        Tòa án

Chịu trách nhiệm thi hành các bản án tử hình, phạt hành chính, tịch thu tài sản, thi hành các quyết định và bản án tố tụng dân sự kèm theo các bản án hình sự; chịu trách nhiệm thi hành các bản án và phán quyết đối với các vụ việc dân sự, hải sự, thương mại biển; thi hành các quyết định của Trọng tài; thi hành các văn bản đã được công chứng; thi hành các phán quyết của các vụ việc hành chính và những quyết định khác của cơ quan hành chính.

2. Công an

Chịu trách nhiệm thi hành các bản án hoặc quyết định về quản chế, giam giữ cải tạo ngắn hạn, tướt đoạt quyền lợi chính trị.

3. Trại giam

Chịu trách nhiệm thi hành các bản án tử hình được hoãn thi hành án 02 năm, án tù trung thân, án tù có thời hạn trong trại giam.

4. Một số cơ quan hành chính

Cơ quan hành chính có thể căn cứ quy định của pháp luật để tiến hành cưỡng chế thi hành các biện pháp hành chính mà Cơ quan hành chính đã đưa ra.

 

III. Đặc trưng của Chế độ thi hành ở Trung Quốc

Những đặc trưng cơ bản của chế độ thi hành Trung Quốc bao gồm:

1. Quy định pháp luật phong phú

Trong hệ thống pháp luật Trung Quốc, các quy định pháp luật về thi hành pháp luật khá phong phú, vừa có nội dụng Luật cơ bản như Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hành chính, lại vừa có nội dung luật thông thường như Luật Trọng tài, Luật Trại giam, Luật Công chứng…Ngoài ra, trong một số Luật hình thức cũng có những quy định liên quan đến thi hành.

2. Nhiều đối tượng thi hành

Theo quy định của pháp luật, các cơ quan thi hành bao gồm: Tòa án, Công an, Trại giam, Cơ quan hành chính.

3. Nhiều căn cứ thi hành

3.1. Các bản án, quyết định và các văn bản pháp luật khác của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

3.2. Các phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của Cơ quan trọng tài Trung Quốc;

3.3. Các văn bản, giấy tờ công chứng có hiệu lực bắt buộc thi hành của Cơ quan Công chứng;

3.4. Một số quyết định hành chính đã có hiệu lực của Cơ quan hành chính.

4. Sự khác biệt về thủ tục thi hành

Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hành chính Trung Quốc đã có những quy định không đồng nhất về thủ tục thi hành, vì vậy tồn tại sự khác biệt khá lớn giữa thủ tục thi hành án hình sự, thủ tục thi hành án dân sự và thủ tục thi hành án hành chính.

IV. Cải cách chế độ thi hành Trung Quốc

1. Xây dựng Bộ luật thi hành bắt buộc thống nhất

Bộ luật cần quy định cụ thể và rõ ràng về các vấn đề: cán bộ thi hành, cơ quan chịu trách nhiệm thi hành, nguyên tắc thi hành, phạm vi thi hành, quản lý việc thi hành, thủ tục thi hành, biện pháp thi hành, việc chi trả các chi phí trong quá trình thi hành, trách nhiệm trước pháp luật đối với những hành vi làm cản trở quá trình thi hành…

2. Thực hiện chế độ công khai thi hành

Việc thực thi của các hoạt động Tư pháp phải được tiến hành công khai với toàn xã hội, trong đó bao gồm việc mời quần chúng nhân dân tới hiện trường để chứng kiến, cho phép phóng viên, nhà báo phỏng vấn, đăng bài, đưa tin…

3. Từng bước cải thiện các biện pháp thi hành

Tăng cường và hoàn thiện các biện pháp thi hành, làm cho các biện pháp thi hành trở nên đơn giản, dễ thực hiện, có hiệu quả và chiều sâu.

4. Trao quyền giám sát việc thi hành của Tòa án cho Viện Kiểm sát

Với tư cách là một cơ quan giám sát việc tuân theo pháp luật của Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân có quyền tiến hành giám sát tình hình công tác thi hành của Tòa án nhân dân.

 

CHƯƠNG V: CHẾ ĐỘ TRỌNG TÀI TRUNG QUỐC

I. Hàm nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của Chế độ trọng tài

Chế độ trọng tài Trung Quốc là một khái niệm tổng quát về các quy định pháp luật về các nguyên tắc cơ bản có liên quan đến hoạt động trọng tài, cơ quan trọng tài, Tòa trọng tài, trọng tài viên, Thỏa thuận trọng tài, thủ tục trọng tài…Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, nước Trung Quốc mới đã xây dựng Chế độ trọng tài thống nhất trong cả nước, xây dựng các quy định pháp luật và các quy tắc trọng tài tương ứng, thành lập hệ thống các cơ quan trọng tài tương đương. Chế độ trọng tài Trung Quốc đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế thương mại một cách công bằng và kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, tạo điều kiện cho sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa.

II. Cơ quan trọng tài Trung Quốc và phạm vi trọng tài

Cơ quan trọng tài của Trung Quốc là Ủy ban trọng tài. Ủy ban trọng tài bao gồm Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên. Ủy ban trọng tài có thể mời hoặc thuê trọng tài viên, Tòa trọng tài với các thành viên là các trọng tài viên sẽ chịu trách nhiệm phán quyết các vụ án. Theo quy định của Luật trọng tài Trung Quốc, phạm vi trọng tài là các tranh chấp về hợp đồng giữa các công dân, pháp nhân và các tổ chức khác hoặc các tranh chấp về quyền và lợi ích có liên quan đến tài sản. Tuy nhiên, các tranh chấp sau đây không thuộc diện phán quyết của hoạt động trọng tài: (1) hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ, chăm sóc phụng dưỡng, tranh chấp về thừa kế; (2) Những tranh chấp hành chính thuộc phạm vi giải quyết của các Cơ quan hành theo quy định của pháp luật.

III. Nguyên tắc cơ bản của hoạt động trọng tài Trung Quốc

Nguyên tắc cơ bản của hoạt động trọng tài là hệ thống các quy tắc chuẩn cơ bản về hành vi đã được quy định trong Luật Trọng tài mà các tổ chức trọng tài, các cá nhân tham gia trọng tài bắt buộc phải tuân thủ khi tiến hành các hoạt động trọng tài. Luật Trọng tài quy định những nguyên tắc cơ bản sau đây:

1.        Nguyên tắc tự nguyện. Việc đề nghị trọng tài, kế thừa những thỏa thuận hòa giải đã đạt được từ hoạt động trọng tài đều phải xuất phát từ sự tự nguyện của một bên hoặc cả hai bên đương sự.

2.        Nguyên tắc trọng tài độc lập. Trong quá trình tiến hành trọng tài, cơ quan trọng tài phải được độc lập và không chịu sự can thiệp của bất kỳ cá nhân, cơ quan hành chính, đoàn thể xã hội nào theo quy định của pháp luật.

3.        Nguyên tắc căn cứ vào sự thật và những quy định có liên quan của pháp luật.

4.        Nguyên tắc bình đẳng về địa vị nhưng đối lập về quyền lợi và nghĩa vụ giữa Trọng tài và đương sự.

5.        Nguyên tắc biện luận. Dưới sự chủ trì của Tòa trọng tài, đương sự có quyền trình bày quan điểm của mình cũng như phản bác, tranh tụng với đối phương về các vấn đề có liên quan đến bản chất vụ án.

6.        Nguyên tắc Tòa án giám sát. Trong quá trình trọng tài hoặc trong giai đoạn thi hành phán quyết trọng tài, Tòa án có quyền tiến hành thẩm tra đề nghị của đương sự hoặc phán quyết của của cơ quan trọng tài, sau đó ra Quyết định tương ứng.

IV. Chế độ cơ bản của trọng tài Trung Quốc

Chế độ cơ bản là quy trình cơ bản để các tổ chức trọng tài và các cá nhân tham gia tiến hành các hoạt động trọng tài. Theo quy định của Luật trọng tài, chế độ cơ bản của trọng tài bao gồm:

1. Chế độ một phán quyết cuối cùng. Sau khi phán quyết của Ủy ban trọng tài đối với các tranh chấp có đề nghị được trọng tài có hiệu lực, nếu đương sự không được phép tiếp tục đề nghị được trọng tài đối với tranh chấp đó, cũng như không được quyền khiếu nại lên Tòa án.

2. Chế độ thời hiệu trọng tài. Thời hiệu trọng tài là thời hạn theo quy định của pháp luật cho phép đương sự đề nghị Cơ quan trọng tài bảo vệ quyền lợi của mình.

2.1. Chế độ thời hiệu trọng tài thông thường. Trường hợp tiến hành trọng tài đối với các tranh chấp hợp đồng hoặc các tranh chấp về quyền và lợi ích tài sản, thời hạn đề nghị trọng tài là 02 năm.

2.2. Chế độ thời hiệu trọng tài đặc biệt. Trường hợp tranh chấp phát sinh do tiêu thụ sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lượng mà không công khai chi tiết đó của sản phẩm cho khách hàng, thời hạn đề nghị trọng tài là 01 năm. Trường hợp tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, thời hạn đề nghị trọng tài là 04 năm. Thời hiệu trọng tài đặc biệt có giá trị ưu thế hơn thời hiệu trọng tài thông thường.

3. Chế độ đại diện trọng tài

Trường hợp khi đương sự, đại diện pháp nhân ủy thác cho luật sư hoặc một người đại diện khác tiến hành hoạt động trọng tài.

4. Chế độ tránh trọng tài

Trong trường hợp Trọng tài viên có quan hệ có lợi hoặc có hại cho vụ án, có thể ảnh hưởng tới tính công bằng của phán quyết trọng tài, Trọng tài viên có không được tham gia công tác phán quyết vụ án đó mà phải thay thế bằng một Trọng tài viên khác.

V. Thủ tục trọng tài

1. Đề nghị và thụ lý trọng tài. Các bên đương sự căn cứ nhu cầu tự nguyện của cả hai bên về việc đạt được Thỏa thuận trọng tài và với tư cách cá nhân có quyền đề nghị Ủy ban trọng tài giải quyết tranh chấp giữa hai bên. Sau khi nhận được đề nghị trọng tài, Ủy ban trọng tài tiến hành thẩm tra theo quy định của Luật Trọng tài và đưa ra quyết định có thụ lý giải quyết hay không. Ủy ban trọng tài cần thông báo quyết định cho đương sự. Nếu quyết định thụ lý, Ủy ban trọng tài khẩn trương tiến hành công tác chuẩn bị.

2. Thành lập Tòa trọng tài. Tòa trọng tài là một cơ quan xét xử trong quá trình trọng tài, có quyền xét xử và phán quyết.

3. Mở phiên tòa xét xử. Luật Trọng tài quy định, Trọng tài phải tiến hành mở phiên tòa. Dưới sự chủ trì của Tòa trọng tài, phiên tòa tiến hành điều tra và biện luận, hòa giải đề giải quyết, và đưa ra quyết định cuối cùng. Tòa trọng tài phải Quyết định phán quyết bằng văn bản, quyết định có hiệu lực ngay kể từ ngày ban hành.

4. Hủy quyết định của trọng tài. Trong trường hợp quy định của pháp luật, nếu đương sự có đề nghị, sau khi Tòa án thẩm tra, Tòa quyết định hủy quyết định đã ra của Trọng tài theo quy định của pháp luật. Do Quyết định của Trọng tài là một phán quyết cuối cùng đối với đương sự, nên khó tránh khỏi trường hợp quyết định trọng tài có sai sót, trong trường hợp đó hủy quyết định trọng tài được coi là một biện pháp để sữa chữa những sai phạm trong quá trình trọng tài.

CHƯƠNG 6: CHẾ ĐỘ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP TRUNG QUỐC

I. Hàm nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của Chế độ Tư pháp Trung Quốc

1. Hàm nghĩa: là hệ thống các quy định pháp luật và quy chế hành chính về Cơ quan giám định, Giám định viên Tư pháp, đăng ký giám định, quyền lợi và nghĩa vụ, thủ tục giám định, quản lý giám sát và trách nhiệm pháp luật có liên quan đến giám định tư pháp.

2. Tính chất: Chế độ giám định tư pháp là một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ Tư pháp xã hội. Chế độ giám định tư pháp cũng thuộc phạm trù của chế độ tố tụng và chế độ chứng cứ.

3. Nhiệm vụ: Chế độ giám định tư pháp có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho việc thực thi pháp luật. Mục đích của việc các Cơ quan giám định và giám định viên căn cứ quy định về chế độ giám định tiến hành giám định chứng cứ vụ án và các vấn đề mang tính chuyên môn có liên quan đến vụ án là nhằm cung cấp những chứng cứ xác thực nhất cho hoạt động tố tụng, phát huy vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thực thi pháp luật một cách nghiêm minh.

II. Những đặc trưng của Chế độ giám định tư pháp Trung Quốc

1. Tính tầng lớp của những căn cứ pháp luật của Chế độ giám định tư pháp Trung Quốc

1.1. Quyết định về vấn đề quản lý hoạt động giám định tư pháp của Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc;

1.2. Những quy định có liên quan đến giám định tư pháp trong Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hành chính;

1.3. Những quy định hành chính có liên quan do Bộ Tư pháp ban hành: “Các biện pháp quản lý đăng ký của cơ quan giám định Tư pháp”, “Các biện pháp quản lý đăng ký Giám định viên Tư pháp”;

1.4. Những văn bản dưới Luật về quản lý hoạt động giám định Tư pháp do Chính quyền một số địa phương ban hành.

2. Tính độc lập của chủ thể giám định Tư pháp

2.1. Pháp luật tố tụng Trung Quốc coi Giám định viên là đối tượng độc lập tham gia tố tụng; Kết luận giám định Tư pháp được sử dụng riêng cho mục đích làm chứng cứ cho hoạt động tố tụng;

2.2. Giữa các cơ quan tiến hành giám định không có bất cứ mối quan hệ lệ thuộc nào; khi được ủy quyền tiến hành các hoạt động nghiệp vụ giám định tư pháp, các cơ quan giám định không chịu sự hạn chế, ảnh hưởng của bất cứ phạm vi hay khu vực nào;

2.3. Hoạt động giám định Tư pháp thực hiện theo chế độ Giám định viên phụ trách, Giám định viên phải độc lập tiến hành các hoạt động nghiệp vụ giám định, chịu trách nhiệm về các quan điểm và kết luận giám định mà mình đưa ra, đồng thời phải ký tên hoặc đóng dấu vào Biên bản giám định.

3. Tính thống nhất của chế độ quản lý giám định tư pháp

Theo quy định của Quy định quản lý giám định tư pháp Trung Quốc năm 2005, Cơ quan hành chính Tư pháp Quốc Vụ viện chịu trách nhiệm quản lý công tác đăng ký Cơ quan giám định và Giám định viên, Cơ quan hành chính Tư pháp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm nhận công tác đăng ký, vào tên danh mục và thông báo tên các Cơ quan giám định và Giám định viên. Cơ quan điều tra căn cứ vào yêu cầu thực tế để quyết định việc thành lập cơ quan giám định và không được phép tiếp nhận hoặc sử dụng các cá nhân/tổ chức ủy thác hành nghề giám định tư pháp ngoài xã hội. Tòa án và cơ quan hành chính tư pháp không được thành lập cơ quan giám định tư pháp.

III. Cơ quan giám định tư pháp và Giám định viên

1.                    Giám định viên là những cá nhân vận dụng những kiến thức chuyên môn, khoa học kỹ thuật để tiến hành giám định, phân biệt, phân tích và đưa ra kết luận giám định về những vấn đề mang tính chuyên môn có liên quan đến quá trình tố tụng.

2.                    Cơ quan giám định tư pháp là những pháp nhân hoặc tổ chức hành nghề giám định pháp y, giám định vật chứng, giám định âm thanh hình ảnh và các nghiệp vụ giám định khác. Cơ quan giám định là Tổ chức nghề nghiệp của các Giám định viên Tư pháp. Việc quản lý giám định Tư pháp thực hiện theo chế độ quản lý kết hợp giữa quản lý hành chính và quản lý nghề nghiệp. Cơ quan hành chính Tư pháp tiến hành chỉ đạo, quản lý, giám sát và kiểm tra hoạt động nghiệp vụ giám định của các Giám định viên và Cơ quan giám định Tư pháp theo quy định của pháp luật. Hiệp hội giám định Tư pháp tiến hành tự quản lý theo quy định của pháp luật.

IV. Thủ tục giám định Tư pháp Trung Quốc

Thủ tục giám định Tư pháp là Hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn quy định về phương thức, phương pháp, trình tự mà Cơ quan giám định Tư pháp và các Giám định viên phải tuân theo trong quá trình tiến hành hoạt động giám định. Quy tắc chung về thủ tục giám định Tư pháp do Bộ Tư pháp ban hành năm 2007 đã quy định cụ thể về các thủ tục giám định Tư pháp. Cơ quan giám định Tư pháp và các Giám định viên phải tuân thủ những thủ tục sau đây trong quá trình tiến hành hoạt động giám định:

1. Ủy thác và thụ lý giám định Tư pháp

Mọi Ủy thác giám định tư pháp đều do Cơ quan giám định tư pháp thụ lý.Cơ quan giám định tư pháp căn cứ quy định của pháp luật có thể tiếp nhận Ủy thác giám định của Cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án cũng có thể tiếp nhận Ủy tác giám của đương sự trong tố tụng hoặc đại diện pháp nhân khác. Sau khi thẩm tra hồ sơ, tài liệu Ủy thác giám định, Cơ quan giám định có quyền quyết định có thụ lý Ủy thác hay không. Trong trường hợp đồng ý thụ lý Ủy thác giám định, bên ủy thác và bên tiếp nhận ủy thác phải ký kết biên bản ủy thác giám định Tư pháp.

2.Thực hiện giám định Tư pháp

Sau khi tiếp nhận Ủy thác, Cơ quan giám định tư pháp phải lựa chọn và chỉ định Giám định viên có đủ tư cách giám định lĩnh vực có liên quan trong Ủy thác tiến hành giám định. Cơ quan giám định phải nghiêm túc thực hiện theo quy định bảo quản kỹ thuật, phải tuân theo thủ tục giám định, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật khi sử dụng các tư liệu giám định.

3. Xuất trình Biên bản giám định Tư pháp

Sau khi hoàn thành công tác giám định theo Ủy thác, Cơ quan giám định Tư pháp phải xuất trình Biên bản giám định Tư pháp cho người ủy thác. Biên bản giám định Tư pháp bao gồm Bản ý kiến kết luận giám định Tư pháp và Báo cáo giám định Tư pháp.

4. Giám định viên ra tòa làm chứng

Giám định viên có nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa để làm chứng. Sau khi nhận được thông báo của Tòa án, Giám định viên phải ra tòa làm chứng, trả lời các câu hỏi có liên quan đến việc giám định đã tiến hành.

V. Cải cách Chế độ giám định Tư pháp Trung Quốc

1. Xây dựng Luật Giám định Tư pháp;

2. Thành lập Hiệp hội giám định Tư pháp toàn quốc và ở các địa phương để thực hiện quản lý các Cơ quan giám định và các Giám định viên, hoàn thiện và tăng cường quản lý Cơ quan giám định và các Giám định viên.

3. Xây dựng Quy tắc thu phí giám định Tư pháp thống nhất trong cả nước.

CHƯƠNG VII: CHẾ ĐỘ LUẬT SƯ

I. Hàm nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của Chế độ Luật sư Trung Quốc

1. Hàm nghĩa và tính chất: Chế độ luật sư là một khái niệm khái quát chỉ nguyên tắc hành nghề, điều kiện hành nghề, cơ quan hành nghề luật sư, quyền lợi và nghĩa vụ của luật sư, trách nhiệm trước pháp luật của luật sư, chế độ quản lý đối với luật sư, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của luật sư và phương thức thực hiện các dịch vụ pháp luật đối với đương sự. Chế độ luật sư Trung Quốc là một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa Trung Quốc.

2. Nhiệm vụ: quy chuẩn hóa hoạt động nghề nghiệp của luật sư, bảo đảm việc tuân thủ pháp luật của luật sư khi hành nghề, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho công cuộc xây dựng dân chủ và pháp chế, nâng cao ý thức pháp luật của công dân, duy trì nền tư pháp công bằng, xã hội ổn định.

II. Đặc trưng của chế độ luật sư Trung Quốc

1.                    Tiền đề của Chế độ luật sư chính là sự công nhận Nhà nước đối với sự tồn tại của chế độ luật sư. Hoạt động của luật sư trực tiếp có ảnh hưởng tới lợi ích của giai cấp thống trị và sự ổn định của trật tự chính trị, vì vậy sự ra đời và nguyên tắc hoạt động của luật sư phải được pháp luật Nhà nước công nhận.

2.                    Nhiệm vụ của luật sư theo quy định của pháp luật là cung cấp những dịch vụ pháp luật cho đương sự. Luật sư là người hoạt động pháp luật chuyên nghiệp có chức năng và nhiệm vụ  cung cấp những dịch vụ pháp luật cho đương sự bằng những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của mình. Luật sư không đại diện cho Nhà nước để thực hành bất cứ loại quyền lực nào, mà cung cấp dịch vụ có thù lao dành cho đương sự.

3.                    Hoạt động của luật sư phải tiến hành trong phạm vi cho phép của pháp luật. Luật sư phải tuân thủ những quy định của pháp luật khi hành nghề, không được phép đi ngược lại hoặc vượt qua phạm vi quy định của pháp luật. Nội dung công việc của luật sư là dựa trên tiền đề ủy thác của đương sự, mục đích hoạt động của luật sư là bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Đối với những yêu cầu hợp pháp của đương sự, luật sư phải ủng hộ và bảo vệ, còn đối với những yêu cầu không hợp pháp của đương sự, luật sư không có nghĩa vụ ủng hộ và bảo vệ.

III. Luật sư Trung Quốc

Theo quy định của Luật luật sư Trung Quốc, luật sư là những người đã có chứng chỉ hành nghề luật sư, dưới sự ủy thác hoặc chỉ định  tiến hành cung cấp các dịch vụ pháp luật cho đương sự. Chứng chỉ hành nghề luật sư là một văn bản hợp pháp do cơ quan hành chính tư pháp cấp cho phép luật sư hành nghề. Hiện nay, Trung Quốc có hơn 130.000 luật sư, hơn 13.000 văn phòng luật sư. Năm 2010, các văn phòng luật sư đã tiến hành giải quyết hơn 2 triệu án tố tụng và hơn 1,2 triệu án phi tố tụng, tiến hành tư vấn pháp luật cho hơn 5,5 triệu vụ việc.

IV. Cơ quan hành nghề luật sư và chế độ quản lý

1.        Cơ quan hành nghề luật sư

Theo quy định của Luật luật sư, các văn phòng luật sư chính là các cơ quan hành nghề luật sư. Văn phòng luật sư là đơn vị cơ bản tổ chức hoạt động của các luật sư và tiến hành quản lý và chỉnh đốn hoạt động của luật sư. Hoạt động của luật sư được tiến hành dưới sự chỉ định của Văn phòng luật sư; khi luật sư hành nghề, luật sư hoạt động với danh nghĩa của Văn phòng. Văn phòng luật sự chịu mọi trách nhiệm phát sinh trong quá trình hành nghề của luật sư. Các Văn phòng luật sư được thành lập trên cơ sở sự cho phép của cơ quan hành chính tư pháp. Việc quản lý của cơ quan hành chính tư pháp và Hiệp hội luật sư đối với đội ngũ luật sư được thực hiện thông qua việc quản lý trực tiếp của Văn phòng luật sư đối với các luật sư của mình.

2. Chế độ quản lý luật sư

Chế độ quản lý luật sư là chế độ quản lý kép. Tầng quản lý chính là tầng quản lý hành chính của cơ quan hành chính tư pháp Nhà nước, tầng quản lý phụ là tầng quản lý chuyên môn của Hiệp hội luật sư toàn quốc. Điều 4, Luật luật sư quy định, cơ quan hành chính tư pháp tiến hành giám sát, lãnh đạo hoạt động của luật sư, Văn phòng luật sư và Hiệp hội luật sư. Cơ quan hành chính tư pháp Trung Quốc gồm 04 cấp: Cấp trung ương là Bộ Tư pháp, cấp tỉnh là Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, cấp khu vực là Cục (Phòng) Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân Khu vực, cấp huyện là Cục Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện. Bộ Tư pháp là cơ quan hành chính tư pháp cấp trung ương, phụ trách quản lý vĩ mô đối với công tác hành chính tư pháp trong cả nước. Thông qua việc xây dựng phương trâm, chính sách và các quy định có liên quan, Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý hoạt động của đội ngũ luật sư. Cơ quan hành chính tư pháp cấp tỉnh, khu vực và huyện phụ trách việc thực hiện và chấp hành các chính sách, quy định của Bộ Tư pháp và Cơ quan hành chính cấp trên ban hành, quản lý đội ngũ luật sư. Cơ quan hành chính tư pháp các cấp đều thành lập bộ phận quản lý luật sư nhằm tiến hành giám sát và quản lý hoạt động của đội ngũ luật sư.

Hiệp hội luật sư toàn quốc Trung Quốc và Chi hội ở các địa phương là tổ chức nghề nghiệp tự quản lý, tự giáo dục trong nội bộ, nhằm bổ sung những thiếu sót trong quá trình quản lý của Cơ quan hành chính tư pháp.

V. Nguyên tắc hành nghề cơ bản của luật sư Trung Quốc

1. Nguyên tắc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và nguyên tắc kỷ luật nội bộ;

2. Nguyên tắc dựa trên căn cứ sự thật và những quy định có liên quan của pháp luật;

3. Nguyên tắc chịu sự giám sát của Nhà nước, xã hội và đương sự.

4. Nguyên tắc hành nghề theo quy định pháp luật và được pháp luật bảo vệ.

VI. Cải cách chế độ luật sư Trung Quốc

1.        Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư;

2.        Hoàn thiện chế độ quản lý luật sư, thực hiện tự quản lý;

3.        Nâng cao năng lực và trình độ tổng thể của luật sư;

4.        Thúc đẩy sự phát triển của các Văn phòng luật sư, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng dịch vụ.

 

CHƯƠNG VIII: CHẾ ĐỘ CÔNG CHỨNG TRUNG QUỐC

I. Hàm nghĩa, tính chất và nhiệm vụ của Chế độ Công chứng Trung Quốc

1. Hàm nghĩa, tính chất:

Chế độ công chứng là khái niệm tổng quát chỉ hệ thống các quy định pháp luật mà đương sự và công chứng viên phải tuân theo trong quá trình tiến hành các hoạt động công chứng. Theo quy định tại Điều 2 Luật Công chứng Trung Quốc, Công chứng là hoạt động chứng thực của cơ quan công chứng đối với tính xác thực và tính hợp pháp của các văn bản và sự thật có mang tính pháp luật theo trình tự quy định và dựa trên đề nghị của công dân, pháp nhân và tổ chức. Chế độ công chứng là một bộ phận cấu thành quan trọng của chế độ tư pháp xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, thuộc phạm trù luật thủ tục dân sự, là chế độ chứng minh tư pháp mang tính dự phòng.

2.        Nhiệm vụ:

Tiêu chuẩn hóa hoạt động công chứng, bảo đảm cho cơ quan công chứng và các công chứng viên thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật, đề phòng các tranh chấp có thể xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, pháp nhân và tổ chức.

II. Đặc trưng của chế độ công chứng Trung Quốc

1. Đặc tính của chủ thể công chứng. Hoạt động công chứng được các cơ quan công chứng do Nhà nước thành lập tiến hành thống nhất theo trình tự quy định. Cơ quan công chứng căn cứ vào sự thật và quy định của pháp luật, độc lập thực hiện các hoạt động nghiệp công chứng, và không chịu sự can thiệp phi pháp của bất cứ cá nhân hay tập thể nào.

2. Đặc tính của đối tượng và nội dung công chứng. Đối tượng của hoạt động công chứng là các hành vi pháp luật dân sự không có tranh chấp, các văn bản có giá trị pháp luật. Nội dung công chứng là tính xác thực và tính hợp pháp của các đối tượng công chứng.

3. Đặc thù của hiệu lực công chứng. So với các văn bản có giá trị chứng minh, chứng thực khác, các văn bản công chứng có hiệu lực pháp lý đặc thù, điều đó thể hiện ở:

3.1. Có hiệu lực chứng cứ. Các cơ quan tư pháp, cơ quan trọng tài, cơ quan hành chính…phải công nhận các hành vi pháp luật, sự thật và văn bản, giấy tờ đã qua công chứng như một chứng cứ.

3.2. Có hiệu lực bắt buộc. Nếu người nợ không thực hiện giấy tờ ghi nợ đã được cơ quan công chứng chứng thực và có hiệu lực bắt buộc thi hành, thì chủ nợ có quyền đề nghị Tòa áp dụng biện pháp bắt buộc thi hành.

3.3. Hành vi pháp luật có hiệu lực. Đối với những vụ việc, giấy tờ, văn bản pháp luật quy định đương sự phải tiến hành công chứng, nếu chưa qua công chứng vụ việc hay văn bản giấy tờ đó không có giá trị pháp luật, cũng như không được thay đổi hay xóa bỏ.

3.4. Có hiệu lực rộng rãi. Văn bản, giấy tờ đã qua công chứng có hiệu lực pháp luật và được cả xã hội và quốc tế công nhận.

4. Đặc tính của thủ tục công chứng. Quá trình xin công chứng và thực hiện công chứng phải tiến hành theo trình tự thủ tục quy định. Những trường hợp công chứng vi phạm quy định về trình tự thủ tục công chứng sẽ không có hiệu lực. Luật công chứng, Quy tắc thủ tục công chứng …đã có những quy định rất cụ thể về thủ tục công chứng.

III. Cơ quan công chứng và công chứng viên

1. Cơ quan công chứng

Cơ quan công chứng là cơ quan chứng thực được thành lập theo quy định của pháp luật, độc lập thực hiện chức năng công chứng, chịu mọi trách nhiệm dân sự có liên quan đến văn bản công chứng. Theo quy định của Luật công chứng, các cơ quan công chứng được thành lập trên cơ sở cơ quan hành chính tư pháp Nhà nước tiến hành thẩm tra và phê chuẩn. Cơ quan công chứng của Trung Quốc là Phòng công chứng, đội ngũ làm việc tại Phòng công chứng bao gồm các công chứng viên, trợ lý công chứng viên, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm.

2. Công chứng viên

Công chứng viên là cán bộ có chứng chỉ hành nghề công chứng, thực hiện các nghiệp vụ công chứng tại các Phòng công chứng, đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật, được cơ quan hành chính tư pháp Nhà nước thẩm tra, bổ nhiệm.

IV. Chế độ quản lý công chứng Trung Quốc

Chế độ công chứng Trung Quốc áp dụng chế độ quản lý kép. Tầng quản lý chính là tầng quản lý hành chính của cơ quan hành chính tư pháp Nhà nước, tầng quản lý phụ là tầng quản lý chuyên môn. Theo quy định của Quy chế Hiệp hội công chứng Trung Quốc, một trong những chức năng, nhiệm vụ của Hiệp hội công chứng là giúp Chính phủ quản lý và chỉ đạo công tác công chứng trong toàn quốc.

Năm 1990, Hiệp hội công chứng Trung Quốc thành lập. Hiệp hội công chứng là một tổ chức nghề nghiệp tự quản lý, hoạt động theo quy định của Quy chế Hiệp hội công chứng, giám sát hoạt động nghiệp vụ của các công chứng viên.

V. Phạm vi hoạt động của cơ quan công chứng Trung Quốc

1. Các nội dung công chứng:

1.1. chứng thực hành vi pháp luật;

1.2. chứng thực sự thật có giá trị pháp luật;

1.3. chứng thực văn bản, giấy tờ có giá trị pháp luật;

1.4. bảo toàn chứng cứ;

1.5. chứng thực những vụ việc khác theo quy định của pháp luật.

2. Nghiệp vụ công chứng

Nghiệp vụ công chứng chỉ những hoạt động nghiệp vụ do cơ quan công chứng tiến hành. Ví dụ: đăng ký tài sản cầm cố, đặt cọc, tư vấn pháp luật công chứng…

3. Công chứng có liên quan đến Hồng Kông, Ma cao, Đài Loan và nước ngoài.

VI. Thủ tục công chứng

Các thủ tục cụ thể về đề nghị và thụ lý công chứng, thẩm tra công chứng, xuất trình văn bản công chứng, các quy định đặc biệt về không được phép công chứng hoặc đình trỉ công chứng, đăng ký công chứng, lập hồ sơ và lưu, giải quyết tranh chấp trong công chứng…được quy định rất cụ thể trong Quy tắc thủ tục công chứng. Cơ quan công chứng, công chứng viên và các đương sự công chứng phải tuân thủ các thủ tục và trình tự đã được quy định trong quá trình tiến hành các hoạt động công chứng./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi