Những vấn đề cơ bản về tổ chức – thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Mặc dù đã trải qua gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002  của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới ", gần 5 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 " và hơn 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng (tháng 4/2006), nhưng rõ ràng là cho đến nay công cuộc cải cách tư pháp (CCTP) ở Việt Nam vẫn còn có những nhược điểm nhất định chưa đáp ứng đúng với tinh thần của ba (03) văn kiện đã nêu của Đảng (nói riêng) và cũng chưa phù hợp với các luận điểm được thừa nhận chung về mục tiêu, yêu cầu và những nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức - thực hiện quyền tư pháp (QTP) trong một Nhà nước pháp quyền (NNPQ) đích thực (nói chung) như: l) Các cơ quan Điều tra chưa được thu gọn và tinh giản về một mối đúng như tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW; 2) Hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) vẫn chưa được tổ chức một cách thực sự độc lập và khoa học để thực hiện tốt hoạt động tố tụng tư pháp; 3) Chưa triển khai việc “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp" [1] v.v... Chính vì vậy, trong giai đoạn xây dựng NNPQ đích thực ở Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản có tính học thuật về tổ chức - thực hiện QTP mang tính biện chứng và khoa học ở nước ta hiện nay có ý nghĩa lý luận - thực tiễn quan trọng trên ba (03) bình diện chủ yếu sau:

1.1. Về mặt lập pháp, từ trước đến nay, trong tất cả các quy phạm pháp luật của Việt Nam vẫn chưa hề có một văn bản pháp luật (VBPL) thực định nào của Nhà nước Việt Nam mà trong đó nhà làm luật chính thức ghi nhận định nghĩa pháp lý của một loạt các phạm trù và nội hàm của từng khái niệm chủ yếu có liên quan đến tổ chức - thực hiện QTP như: 1) Tổ chức - thực hiện QTP là gì ?; 2) Các mục tiêu, các yêu cầu (đòi hỏi) của việc tố chức - thực hiện QTP là gì?; 3) Những nguyên tắc cơ bản và nội hàm chính của từng nguyên tắc tố chức - thực hiên QTP là như thế nào v.v...

1.2. Về mặt thực tiễn, xuất phát từ thực trạng nêu trên nên hiện nay trong việc tổ chức - thực hiện quyền lực Nhà nước đôi khi ngay giữa các cơ quan của bộ máy công quyền và các công chức của bộ máy đó vẫn còn có những cách hiểu chưa thống nhất, không chính xác về mặt khoa học, thậm chí còn nhầm lẫn, đồng nhất và đôi khi còn coi cả các dạng hoạt động thuộc nhánh quyền lực hành pháp của các cơ quan bảo vệ pháp luật (BVPL) như: Thanh tra, điều tra, truy tố, thi hành án, v.v... cũng là dạng hoạt động thuộc nhánh quyền lực tư pháp của các cơ quan Tòa án (xét xử). Trong khi đó, thực tiễn sinh động của các NNPQ tại các nước văn minh và phát triển cao trên thế giới hàng trăm năm qua (và đặc biệt là trong thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI) đã cho phép khẳng định một cách có căn cứ, khách quan và đảm bảo sức thuyết phục rằng: Nếu như QTP trong bất kỳ một quốc gia nào không được tổ chức một cách độc lập và khoa học để thực hiện tốt hoạt động tố tụng tư pháp (tài phán), cũng như sự kiểm tra của nhánh quyền lực thứ ba này đối với hai nhánh quyền lực còn lại (lập pháp và hành pháp) nhằm bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như sự vận hành có hiệu quả của cơ chế kiểm trachế ước nhau của ba nhánh quyền lực ấy nhằm góp phần biến các nguyên tắc được thừa nhận chung trong NNPQ vào đời sống hiện thực, thì không thể nói gì đến sự thành công của công cuộc CCTP và thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp xây dựng NNPQ.

1.3.Về mặt lý luận, khi bàn về tình hình nghiên cứu vấn đề thì cho đến nay có thể khẳng định: Trong khoa học pháp lý (KHPL) nói chung và các chuyên ngành KHPL về tư pháp nói riêng ở Việt Nam mặc dù đã có các bài viết của các nhà khoa học - luật gia mà ở các mức độ nhất định có đề cập đến một hoặc một vài khía cạnh về QTP; tuy nhiên, rõ ràng là, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ nào đề cập toàn diện đến việc soạn thảo một hệ quan điểm có tính chất học thuật của những vấn đề lý luận cơ bản về ba nội dung nêu trên.

2. Như vậy, thực trạng trên đây đang đặt ra trước KHPL nói chung và các chuyên ngành KHPL về tư pháp (nói riêng) ở Việt Nam hiện nay một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách: Phải nghiên cứu để soạn thảo một hệ quan điểm của những vấn đề lý luận có tính chất học thuật về tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam sao cho đáp ứng kịp thời các nhu cầu cấp bách của thực tiễn xã hội và phù hợp với những điều kiện cụ thể (về kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa - pháp lý, lịch sử - truyền thống, v.v) của đất nước trong giai đoạn phát triển tương ứng hiện nay. Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn, phức tạp và nhiều khía cạnh của những vấn đề lý luận về QTP (nói chung) và tổ chức - thực hiện QTP nói riêng trong giai đoạn xây dựng NNPQ nên trong phạm vi một bài viết đăng trên tạp chí khoa học này, chúng tôi chỉ có thể đề cập đến những vấn đề mà theo quan điểm của chúng tôi là cơ bản và quan trọng hơn cả. Có nghĩa là, những vấn đề đó nhất thiết phải tạo thành một hệ quan điểm của những vấn đề lý luận mang tính học thuật với tư cách là những bộ phận cấu thành (BPCT) cơ bản của học thuyết về QTP trong NNPQ mà bất kỳ một nhà luật học nào thực sự vì Tổ quốc, vì nhân dân và thực sự mong muốn xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam đều không thể không thừa nhận như: 1) Các luận điểm về tổ chức - thực hiện QTP trong NNPQ; 2) Các mục tiêu của việc tổ chức - thực hiện QTP; 3) Các yêu cầu của việc tổ chức - thực hiện QTP và 4) Khái niệm và hệ những nguyên tắc cơ bản (vì trong bài này chưa đi sâu vào phân tích nội hàm của từng nguyên tắc) của việc tổ chức - thực hiện QTP.

3. Với phương pháp luận khoa học của việc tiếp cận vấn đề như trên, dưới đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu ba nhóm vấn đề với tư cách là các BPCT cơ bản của học thuyết về CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam.

II. NỘI DUNG

1.      Các luận điểm về tổ chức - thực hiện QTP trong NNPQ.

Hiện nay, trong KHPL Việt Nam và nước ngoài tuy có nhiều ý kiến khác nhau về tổ chức - thực hiện QTP, nhưng theo chúng tôi, về cơ bản, khi bàn về vấn đề này thì cần phải đạt được sự nhận thức và khoa học thống nhất trên hai bình diện (theo hai nghĩa) rộng và hẹp như sau:

1.1. Trên bình diện (theo nghĩa) rộng, thì tổ chức - thực hiện QTP trong NNPQ là việc thành lập và kiện toàn theo luật định không chỉ hệ thống Tòa án mà cả hệ thống các cơ quan BVPL, hệ thống các cơ quan bổ trợ tư pháp (BTrTP) cũng như hoạt động thực tiễn và đội ngũ cán bộ của ba hệ thống các cơ quan này, đồng thời, xây dựng các quy định của pháp luật có liên quan nhằm đạt được kết quả cuối cùng với tính chất là các chế định pháp lý và các giá trị tinh thần cao quý nhất của nền văn minh nhân loại trong NNPQ.

1.2. Trên bình diện (theo nghĩa) hẹp thì tổ chức thực hiện QTP trong NNPQ là việc thành lập và kiện toàn theo luật định chỉ có hệ thống Tòa án, cũng như hoạt động thực tiễn của nó (Tòa án) và đội ngũ Thẩm phán, đồng thời xây dựng các quy định của pháp luật có liên quan nhằm đạt được kết quả cuối cùng với tính chất là các chế định pháp lý và các giá trị tinh thần cao quý nhất của nền văn minh nhân loại trong NNPQ.

2. Các mục tiêu của việc tổ chức thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam.

Từ trước đến nay, vấn đề này hầu như vẫn chưa được soạn thảo về mặt lý luận trong KHPL nói chung và các chuyên ngành KHPL về tư pháp nói riêng của nước ta. Mặt khác, chúng ta cần phải có sự nhận thức một cách khoa học thống nhất và biện chứng rằng, công cuộc CCTP ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng NNPQ hiện nay chính là một quá trình cải biến cách mạng lâu dài, khó khăn và phức tạp liên quan thiết thực nhất đến việc tổ chức - thực hiện QTP (nói riêng) và các lĩnh vực Nhà nước và pháp luật (nói chung), nên định nghĩa khoa học của khái niệm đang nghiên cứu có thể được hiểu như sau: Mục tiêu của việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam là những kết quả cuối cùng với tính chất là các chế định pháp lý và các giá trị tinh thần cao quý nhất của nền văn minh nhân loại chỉ có trong NNPQ mà nhân dân ta mong muốn phấn đấu đạt được bằng việc triển khai thắng lợi công cuộc CCTP trên đất nước mình. Xuất phát từ khái niệm này, việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam hiện nay, theo quan điểm của chúng tôi, phải góp phần đạt được năm mục tiêu là:

Thứ nhất, bằng việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ phải góp phần nâng cao ý thức pháp luật để đảm bảo tốt sự nhận thức khoa học thống nhất trong giới luật học nói riêng và trong toàn xã hội nói chung về sự cần thiết tất yếu của các khái niệm, các phạm trù và các chế định pháp lý có liên quan đến lĩnh vực tư pháp như 1) Sự độc lập thực sự của quyền tư pháp, 2) Tòa án Hiến pháp, 3) Chế định kiểm tra Hiến pháp, 4) Sự kiểm tra của quyền tư pháp (Tòa án) đối với quyền lập pháp và quyền hành pháp, 5) Sự tôn trọng thực sự từ phía quyền lực Nhà nước và sự bảo vệ bằng hệ thống Tòa án công minh, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật đối với các quyền và tự do của con người và của công dân, v.v...

Thứ hai, bằng việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ phải góp phần làm cho nhánh quyền lực tư pháp được tổ chức một cách khoa học, khả thi và độc lập để đảm bảo việc thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 1) Hoạt động tố tụng về Hiến pháp đối với các văn bản vi hiến và các hành vi được thực hiện trên cơ sở các văn bản vi hiến; 2) Sự kiểm tra của nó (quyền tư pháp) đối với tính hợp hiến của các văn bản do các cơ quan quyền lực Nhà nước, các tổ chức xã hội, các lực lượng vũ trang nhân dân và những người có chức vụ ban hành - sự kiểm tra của Toà án đối với hai nhánh quyền lực khác (quyền lập pháp và quyền hành pháp); 3) Sự vận hành có hiệu quả và đồng bộ của cơ chế phối hợp, phân công và chế ước của ba nhánh quyền lực (lập pháp, hành pháp và tư pháp) nhằm góp phần biến các nguyên tắc được thừa nhận chung của NNPQ vào đời sống hiện thực.

Thứ ba, bằng việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ phải góp phần làm cho: l) Cơ sở của quyền lực Nhà nước thực sự là ý chí của nhân dân - chủ quyền của nhân dân phải cao hơn chủ quyền của Nhà nước; 2) Hiến pháp và các luật phải là tối thượng trong toàn bộ hoạt động thực tiễn của bộ máy công quyền; 3) Các quyền và tự do của con người và của công dân được đảm bảo trong các cơ chế pháp lý hữu hiệu và đồng bộ tránh khỏi sự lạm quyền, độc đoán và tùy tiện của các quan chức trong bộ máy công quyền - các quyền và tự do ấy phải được ghi nhận chính xác về mặt lập pháp, thi hành đầy đủ trên thực tế về mặt hành pháp và bảo vệ vững chắc về mặt tư pháp.

Thứ tư, bằng việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ phải góp phần: l) Làm cho tình hình vi phạm pháp luật (trong đó có tình hình tội phạm) giảm thiểu tối đa; 2) Làm cho hệ thống tư pháp của đất nước phải đủ sức đấu tranh có hiệu quả chống lại các tội phạm xuyên quốc gia và tội phạm quốc tế vì hòa bình và an ninh trong khu vực và trên thế giới, 3) Xây dựng cho được và củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân vào sức mạnh của hệ thống tư pháp (nói riêng) và bộ máy Nhà nước (nói chung), cũng như vào pháp chế, hiệu lực và sự công mình của pháp luật trong NNPQ.

Thứ năm, bằng việc tổ chức – thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ phải góp phần đổi mới và làm cho hệ thống pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện để hệ thống đó: l) Không chỉ phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước (về kinh tế - xã hội, văn hóa, lịch sử truyền thống, tâm lý - đạo đức, v.v...) mà còn phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế, 2) Có đủ khả năng tạo ra các căn cứ pháp lý khả thi cho sự hội nhập có hiệu quả của hệ thống tư pháp quốc gia với hệ thống tư pháp tương ứng của các nước trong khu vực và trên thế giới, 3) Làm cho hoạt động của các cơ quan BVPL và Tòa án thực sự ngang tầm trong bối cảnh đất nước đã gia nhập WTO.

3. Các yêu cầu (đòi hỏi) của việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam.

Đây cũng chính là các đặc điểm cơ bản của việc tổ chức - thực hiện QTP trong NNPQ cũng như phạm trù "mục tiêu" đã nêu trên, đây cũng chính là vấn đề mà từ trước đến nay chưa được soạn thảo về mặt lý luận trong KHPL nói chung và các chuyên ngành KHPL về tư pháp nói riêng của nước ta. Tuy nhiên, trên cơ sở khái niệm đã được nêu trên, cũng như từ thực tiễn tổ chức và thực hiện QTP trong các NNPQ ở các nước văn minh và phát triển cao trên thế giới trong những năm cuối thế kỷ XX-đầu thế kỷ XXI, đồng thời căn cứ vào những điều kiện cụ thể của nước ta và quá trình CCTP trong những năm qua cho phép khẳng định rằng, việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải đáp ứng được năm (05) yêu câu (đòi hỏi) cơ bản sau đây:

3.1. Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải được triển khai sao cho phù hợp không chỉ với xu thế hội nhập của cộng đồng quốc tế nói chung, mà cả các quy luật phát triển khách quan (về kinh tế xã hội, chính trị, pháp luật, văn hóa, lịch sử truyền thống, v.v...) của đất nước nói riêng.

3.2. Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam phải dựa trên ba nguyên tắc được thừa nhận chung của NNPQ với tính chất là nên tảng quan trọng nhất như: 1) Tôn trọng và bảo vệ các quyền và tự do của con người, 2) Đảm bảo thực sự tính tối thượng và hiệu lực trực tiếp của các luật (mà trước hết là Hiến pháp) trong hoạt động tư pháp và; 3) Phân công quyền lực để đảm bảo cơ chế kìm hãm và đối trọng (kiểm tra và chế ước) của ba nhánh quyền lực Nhà nước.

3.3. Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam phải phù hợp với quá trình tổ chức và thực hiện QTP trong NNPQ là độc lập, quyền tư pháp không bị phụ thuộc vào hai nhánh quyền lực khác (lập pháp và hành pháp), chỉ do các Tòa án thực hiện và bằng hoạt động xét xử (tài phán) về: Hiến pháp (l), hành chính (2), hình sự (3), dân sự (4) và kinh tế(5).

3.4. Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam phải được triền khai theo các nguyên tắc tố tụng tư pháp tiến bộ và dân chủ được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế là: l) Pháp chế; 2) Dân chủ; 3) Độc lập của Thẩm phán; 4) Xét xử tập thể ; 5) Xét xử công khai; 6) Xét xử bằng miệng; 7) Xét xử trực tiếp và liên tục; 8) Đảm bảo quyền tự do sử dụng tiếng dân tộc đối với người không biết ngôn ngữ tiến hành tố tụng; 9) Tranh tụng và; l0) Bình đẳng trước pháp luật và Tòa án của các bên tham gia tố tụng.

3.5. Cuối cùng, việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam phải phù hợp với nguyên tắc nhân đạo nên không cho phép thành lập các Tòa án đặc biệt, đồng thời phải được tiến hành đồng bộ với việc cải cách hệ thống các cơ quan BVPL và các cơ quan - tổ chức bổ trợ tư pháp (BTrTP).

4. Khái niệm nguyên tắc tổ chức thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam và hệ thống các nguyên tắc này. Cũng như hai phạm trù đã nghiên cứu trên đây ("mục tiêu “yêu cầu”) phạm trù “nguyên tắc” tổ chức - thực hiện CTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam thực chất cũng chưa được soạn thảo đầy đủ và cụ thể về mặt lý luận trong KHPL Việt Nam, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm đang nghiên cứu có thể được hiểu: Nguyên tắc tổ chức - thực hiện QTP là tư tưởng chỉ đạo và là định hướng cơ bản của triển khai công cuộc CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ mà thông qua đó thể hiện nội dung chủ yếu và các lợi ích xã hội tương ứng của hệ thống tư pháp, đồng thời, phản ánh mối quan hệ của nhánh quyền lực tư pháp với hai nhánh quyền lực khác (lập pháp và hành pháp), cũng như các quy luật phát triển khách quan tác động đến toàn bộ quá trình CCTP của đất nước. Như vậy, từ khái niệm đã được đưa ra trên đây và từ việc nghiên cứu các quy luật khách quan đang tồn tại ở Việt Nam (về kinh tế xã hội, chính trị, văn hóa, lịch sử - truyền thống, v.v) tác động đến quá trình CCTP của đất nước, đồng thời, phân tích các quan hệ xã hội - pháp lý đang tồn tại và hình thành trong giai đoạn xây dựng NNPQ cho phép xác định hệ thống 07 nguyên tắc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ như sau:

Nguyên tắc thứ nhất: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải dựa trên các tư tưởng pháp lý tiến bộ được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và tuân theo các nguyên tắc cơ bản được thừa nhận chung của NNPQ.

Nguyên tắc thứ hai: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam phải nhằm hướng tới việc bảo vệ một cách vững chắc và hữu hiệu các quyền và tự do của con người và của công dân với tư cách là các giá trị xã hội cao quý nhất.

Nguyên tắc thứ ba: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải được tiến hành bằng các cơ chế dân chủ, công khai và minh bạch để đảm bảo sự thể hiện cao nhất, đầy đủ nhất ý chí và chủ quyền của nhân dân.

Nguyên tắc thứ tư: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải dựa trên sự phân tích một cách khách quan, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục các quan hệ xã hội đang tồn tại và sẽ phát triển trong xã hội, cũng như hiệu quả xã hội của các quy phạm và các chế định pháp luật thuộc lĩnh vực tư pháp được các cơ quan BVPL và Tòa án áp dụng trong thực tiễn.

Nguyên tắc thứ năm: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải dựa trên những luận chứng khoa học thể hiện sự kết hợp hài hòa các luận điểm KHPL về tư pháp của Việt Nam với các thành tựu tiên tiến của các chuyên ngành KHPL về tư pháp trên thế giới nhằm đáp ứng kịp thời các đòi hỏi cấp bách của hoạt động tư pháp trong việc đấu tranh phòng và chống các vi phạm pháp luật và tội phạm, cũng như những yêu cầu thiết thực của công cuộc CCTP hiện nay (Về tổ chức cán bộ, thầm quyền, chức năng và nhiệm vụ, v.v…) trong các cơ quan BVPL và Tòa án.

Nguyên tắc thứ sáu: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải dựa trên các giá trị pháp luật truyền thống của dân tộc, đồng thời, đảm bảo sự phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp nhằm hỗ trợ tích cực cho quá trình thực thi các Hiệp định về tương trợ pháp lý giữa nước ta với các nước khác, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong xu hướng chung và tất yếu của hội nhập với cộng đồng quốc tế.

Nguyên tắc thứ bảy: Việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cần phải đảm bảo ở mức cao nhất cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước bằng một loạt các thiết chế như: 1) Chế định kiểm tra Hiến pháp; 2) Sự độc lập đích thực và sự kiểm tra của nhánh quyền lực tư pháp đối với hai nhánh quyền lực khác (lập pháp và hành pháp); 3) Sự phối hợp và chế ước lẫn nhau.

III. KẾT LUẬN

Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản mang tính chất học thuật về tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam cho phép đi đến một số kết luận chung dưới đây:

Một là, thực tiễn của các NNPQ trên thế giới hàng trăm năm qua và thực tiễn quốc tế đương đại trong thế kỷ XX - những năm đầu thế kỷ XXI đã và đang minh chứng một cách có căn cứ rằng, trong bất kỳ một NNPQ đích thực nào, quyền tư pháp mà hiện diện là Toà án cũng được coi và cần phải được coi là trung tâm và là hệ thống cấu thành quan trọng nhất của bộ máy quyền lực Nhà nước, đồng thời đó chính là “linh hồn và "thanh lá chắn thép" trong sự nghiệp cao cả của việc bảo vệ vững chắc và hữu hiệu sự công bằng xã hội, các quyền và tự do của con người, cũng như các lợi ích của xã hội và của Nhà nước để góp phần khẳng định các nguyên tắc được thừa nhận chung của NNPQ với tính chất là những giá trị xã hội cao quý nhất của nền văn minh nhân loại.

Hai là, việc tổ chức - thực hiện QTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam chỉ có thể thành công nếu chúng ta tổ chức tốt và thực hiện một cách đồng bộ một loạt các cơ chế pháp lý chủ yếu quan trọng của một NNPQ đích thực để đảm bảo cho sự độc lập thực sự của nhánh QTP như: l) Sự kiểm soát quyền lực Nhà nước bằng chế định kiểm tra Hiến pháp; 2) Sự kiểm tra của nhánh QTP đối với nhánh quyền lập pháp và nhánh quyền hành pháp trong Nhà nước ta; 3) Sự bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân bằng hệ thống Tòa án.

Ba là, công cuộc CCTP nói chung và chiến lược CCTP nói riêng đến năm 2020 trong giai đoạn xây dựng NNPQ trên đất nước Việt Nam sẽ còn phải trải qua chặng đường dài đầy khó khăn và phức tạp, đòi hỏi sự bền bỉ và kiên định vì lý tưởng NNPQ mà Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã long trọng tuyên bố trước toàn thế giới. Chính vì vậy, để đảm bảo cho thắng lợi cuối cùng của lý tưởng cao đẹp ấy, chúng ta (nhất là các nhà luật học) phải nỗ lực hết sức mình để cùng với toàn thể nhân dân thực hiện thành công chiến lược CCTP đến năm 2020 mà Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã ban hành, đồng thời, xây dựng và thực thi được "cơ chế phán quyết (tức là tài phán bằng sự kiểm tra của nhánh QTP) đối với các vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” mà Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ ra.

Bốn là, việc thực hiện đúng, đầy đủ và nhất quán Chiến lược CCTP đến năm 2020 mà Đảng đã vạch ra sẽ động chạm đến các lợi ích cục bộ của nhiều Bộ, ngành và cơ quan, thậm chí cả một số người có chức vụ cao trong bộ máy Nhà nước ở tất cả các cấp từ Trung ương đến các địa phương. Do đó, tất cả các Bộ, Ngành và những người có liên quan trong các cơ quan BVPL và Tòa án từ Trung ương đến địa phương phải biết đặt lợi ích của Tổ quốc, nhân dân và Đảng lên trên hết để làm đúng lời Bác Hồ dạy, thực sự là "công bộc" - "đầy tớ" của nhân dân nhằm gạt bỏ các thói quen - tật xấu và tiến tới loại trừ các hiện tượng tiêu cực đang diễn ra trong cuộc sống đời thường

Năm là, để đảm bảo cho thành công của Chiến lược CCTP đến năm 2020 thì thông qua các nghiên cứu về tổ chức - thực hiện QTP, các nhà luật học của Việt Nam cần phải khẩn trương triển khai soạn thảo đầy đủ học thuyết (tức là hệ quan điểm của những vấn để mang tính học thuật) về CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam bằng một số công việc cấp bách phải làm trên ba lĩnh vực chủ yếu:

- Về mặt thực tiễn, cần phải tiến hành tổng kết hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án để đưa ra được các số liệu chính xác và đầy đủ về thực trạng  đội ngũ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực của cán bộ trong hệ thống của từng cơ quan.

- Về mặt lý luận, cần phải tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề mà thực tiễn xã hội nói chung và thực tiễn pháp lý nói riêng (nhất là thực tiễn hoạt động của các cơ quan BVPL và Tòa án) đang đặt ra đồng thời, phải phân tích, lý giải và làm rõ để đưa ra các luận cứ khoa học xác đáng, khách quan, đảm bảo sức thuyết phục cho việc hoạch định đường lối, đề ra chủ trương và xây dựng các chính sách thích hợp của Đảng và Nhà nước.

Về mặt lập pháp, từ các kết quả của việc tổng kết thực tiễn và trên cơ sở các thành tựu của việc nghiên cứu lý luận cần phải soạn thảo các văn bản pháp luật khả thi để điều chỉnh một cách đồng bộ và hợp lý các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực tương ứng của quá trình CCTP trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam.

 


[1] Xem Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006. Tr.127.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi