Cơ quan Công tố và việc tranh tụng tại các nước Australia và New Zealand

Nhà nước Australia được tổ chức theo mô hình Liên bang. Hiến pháp của Liên bang Australia quy định rõ thẩm quyền của chính quyền Liên bang, các bang và vùng lãnh thổ. Các bang và vùng lãnh thổ có hệ thống chính quyền và pháp luật riêng.

Cơ quan Công tố Liên bang Australia được thành lập năm 1983, có hệ thống từ cấp liên bang đến 6 bang và vùng lãnh thổ. Cơ quan Công tố Australia là cơ quan trực thuộc Tổng Chưởng lý nhưng có quyền độc lập trong công tác chuyên môn của mình; có chức năng thực hành quyền công tố tại phiên toà hình sự và thực hiện thủ tục thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm về cho Nhà nước. ở Australia hoạt động công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra của cảnh sát; tuy nhiên, công tố có thể tư vấn cho cảnh sát trong công tác điều tra những vụ án lớn và phức tạp. Những tội phạm thuộc thẩm quyền truy tố và xét xử của Liên Bang là những tội xâm phạm lợi ích của Liên bang như trốn thuế, nhập cư trái phép, buôn bán ma tuý…; những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án Bang là những tội thông thường không xâm phạm lợi ích Liên Bang như cướp của, giết người, trộm cắp… Cơ quan Công tố Liên Bang và ở mỗi Bang đều trực thuộc Bộ Tư pháp Liên Bang hoặc Bang nhưng hoàn toàn độc lập trong hoạt động thực hiện chức năng của mình. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ có thể đề ra chính sách, đường lối hoạt động cho hệ thống cơ quan Công tố và hầu như không được can thiệp vào hoạt động cụ thể của các Công tố viên. Hàng năm, Viện công tố phải có báo cáo trước Quốc hội về mọi hoạt động của mình nhưng được thông qua trình bày của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Sự độc lập của Viện công tố nói chung được thể hiện qua sự độc lập trong hoạt động của mỗi công tố viên. Tính độc lập và tự chịu trách nhiệm là hai đặc điểm quan trọng nhất trong hoạt động của mỗi công tố viên nói riêng và của toàn hệ thống cơ quan Công tố nói chung.

Cơ quan Công tố có chức năng thực hành quyền công tố tại phiên toà hình sự và phối hợp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Hoạt động truy tố của cơ quan Công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra của cảnh sát. Việc truy tố phải trên cơ sở chứng cứ đã được chứng minh đầy đủ và không còn mảy may nghi ngờ đối với hành vi phạm tội và người phạm tội. Các biện pháp ngăn chặn quan trọng do Toà án áp dụng (phê chuẩn) và hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra. Người bị tạm giữ, tạm giam được quyền im lặng khi cảnh sát thẩm vấn. Nếu họ tự nguyện khai báo thì lời khai của họ có thể được sử dụng là chứng cứ chống lại họ trước Toà và Cảnh sát phải thông báo cho họ trước khi thẩm vấn. Nguyên tắc thà bỏ lọt 10 người phạm tội còn hơn truy tố oan một người vô tội được vận dụng triệt để. Việc truy tố một người phạm tội ra trước Toà án để xét xử được xem xét trên lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng. Cơ quan Công tố còn có chức năng thực hiện thủ tục thu hồi tài sản liên quan đến tội phạm để yêu cầu Toà án xét xử tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Việc này được thực hiện thông qua một thủ tục tố tụng dân sự, theo đó trách nhiệm chứng minh nguồn gốc tài sản là hợp pháp thuộc về người phạm tội.

Trong tố tụng tranh tụng, quy tắc về chứng cứ có ý nghĩa quyết định đến quá trình tranh tụng tại phiên toà. Vì vậy luật chứng cứ quy định rất cụ thể, chặt chẽ loại chứng cứ nào có thể được đưa ra trước những người có thẩm quyền quyết định. Quy tắc chứng cứ được đặt ra nhằm bảo đảm sự công bằng trong tố tụng qua việc cấm sử dụng những nguồn chứng cứ không đáng tin cậy, sai lệch hoặc có thể dẫn đến định kiến cho những người có thẩm quyền phán quyết. Ví dụ, Công tố viên không được đưa ra tình tiết hay có lời nói ám chỉ để Bồi thẩm đoàn biết nhân thân bị cáo đã từng có tiền án, tiền sự mà chỉ có thể cung cấp những thông tin này cho thẩm phán ở giai đoạn quyết định hình phạt, lượng hình, tức sau khi Bồi thẩm đoàn đã tuyên bị cáo có tội. Luật chứng cứ điều chỉnh trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản và đưa ra chứng cứ tại phiên toà. Trách nhiệm, nghĩa vụ của Cảnh sát, Công tố phải công khai mọi chứng cứ buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà tranh tụng, Công tố có nghĩa vụ phải cung cấp tất cả những chứng cứ buộc tội cho Luật sư bào chữa, nhưng Luật sư bào chữa không có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ cho phía Công tố, tuy vậy trên thực tế những chứng cứ ngoại phạm của thân chủ thì thường cũng được Luật sư cung cấp cho Công tố trước khi xét xử để các bên có thể xem xét quyết định.

Một đặc điểm rất đáng chú ý trong hệ thống tranh tụng ở Australia là pháp luật quy định rất cụ thể, chi tiết thủ tục xét xử sơ bộ ở Toà án cơ sở trước khi đưa vụ án ra xét xử chính thức tại phiên toà có Bồi thẩm đoàn. Đối với những vụ án hình sự có tính chất nghiêm trọng, thủ tục xét xử sơ bộ ở Toà án cấp cơ sở là bắt buộc. Tại Toà án này mọi chứng cứ buộc tội do cơ quan Cảnh sát thu thập và cơ quan Công tố sử dụng để truy tố người phạm tội ra trước Toà án được đưa ra xem xét thận trọng. Công tố viên, Luật sư bào chữa có quyền trình bày, đưa ra chứng cứ để bảo vệ lập luận, quan điểm của mình. Trường hợp bị cáo nhận tội thì vụ án được xét xử luôn theo chế độ một thẩm phán để quyết định về hình phạt đối với bị cáo. Trường hợp bị cáo không nhận tội và đề nghị đưa ra xét xử tại Toà án có bồi thẩm đoàn thì vụ án được chuyển cho Toà án cấp trên để chuẩn bị xét xử theo thủ tục có Bồi thẩm đoàn. Tại phiên toà xét xử có Bồi thẩm đoàn các bên buộc tội và Luật sư bào chữa đưa ra những chứng cứ, nhân chứng của mình để chứng minh cho quan điểm của mình và có thể kiểm tra chéo những nhân chứng mà các bên đưa ra. Bồi thẩm đoàn quyết định người bị đưa ra truy tố, xét xử có phạm tội hay không phạm tội. Nếu Bồi thẩm đoàn quyết định người bị đưa ra xét xử có tội thì thẩm phán quyết định tội danh và hình phạt. Nếu Bồi thẩm đoàn quyết định người bị đưa ra xét xử không có tội thì vụ án được đình chỉ - cơ quan Công tố, bị hại không được kháng nghị, kháng cáo phúc thẩm về quyết định đó của Bồi thẩm đoàn.

Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng thủ tục xét xử có Bồi thẩm đoàn tham gia và các phán quyết của Bồi thẩm đoàn ở hệ thống luật án lệ là không còn phù hợp với xã hội phát triển, bởi cơ chế xét xử như vậy không những gây tốn kém về kinh tế cho Nhà nước, lãng phí về công sức cho xã hội mà còn nhiều bất cập. Bồi thẩm đoàn do không có trình độ hiểu biết pháp luật nhất định nên đôi khi có những quyết định không chính xác.

Hệ thống tranh tụng ở Australia có một số điểm đáng chú ý: Do tính chất khắc nghiệt của việc tranh tụng tại phiên toà có bồi thẩm đoàn tham gia, việc các bên buộc tội và gỡ tội tìm mọi cách để thuyết phục bồi thẩm đoàn nghiêng về ý kiến của mình là khá gay go, phức tạp, đôi khi lại tuỳ thuộc vào tài khéo thuyết phục của các bên. Mặt khác, cơ quan Cảnh sát và Công tố nhiều khi không thể tìm ra đủ chứng cứ để có thể chiến thắng tại phiên toà khi họ muốn buộc tội bị cáo. Vì vậy, có những cơ chế khuyến khích bị cáo nhận tội hoặc cho phép mặc cả để bị can nhận tội… đổi lại bị can có thể được miễn truy tố về một hoặc một số hành vi phạm tội hay được giảm hình phạt sau này. Việc mặc cả nhận tội được diễn ra giữa cơ quan Cảnh sát và Công tố với bị can, bị cáo cùng Luật sư của họ. Thông thường Cảnh sát, Công tố viên sẽ nói cho bị can, bị cáo biết họ đã có những bằng chứng gì về bị can, bị cáo, trên cơ sở đó bị can, bị cáo sẽ tham khảo ý kiến Luật sư của họ và cân nhắc có nhận tội hay tiếp tục không khai báo để ra Toà sẽ phản bác lại. Về thủ tục mặc cả nhận tội: các bên phải lập bằng văn bản nhưng văn bản này không để trong hồ sơ vụ án hình sự. Khi có việc thoả thuận mặc cả giữa Công tố viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo thì thường là lợi ích của bị cáo được ưu ái và có thể sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của xã hội, của cộng đồng, vi phạm nguyên tắc công bằng xã hội. Theo các chuyên gia của cơ quan Công tố Australia thì về lý thuyết thẩm phán Toà án có thể bác bỏ thoả thuận không đúng đắn này nhưng thực tế thường không xảy ra. Cơ chế này tác động tới trình tự tố tụng vì khi bị cáo nhận tội dù ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào, toàn bộ thủ tục tố tụng đối với bị cáo sẽ được thay đổi theo hướng không còn tranh tụng nữa và khi đó thẩm phán sẽ kiểm tra lại hồ sơ và quyết định hình phạt.

Ở New Zealand không có cơ quan Công tố độc lập mà Nhà nước phối hợp cùng với các Văn phòng Luật sư để trao cho các Văn phòng này thực hành quyền công tố tại phiên toà hình sự ở các Toà án, từ Toà án cấp cơ sở đến Toà án tối cao. ở New Zealand có 16 Văn phòng Luật sư kiểu này, họ là các Công ty luật được Nhà nước ký hợp đồng và giao cho họ thẩm quyền đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công tố tại phiên toà đồng thời làm nhiệm vụ tư vấn cho các cơ quan Nhà nước trong việc truy tố…

Hệ thống Toà án ở New Zealand được tổ chức thành 4 cấp: Toà án cấp cơ sở, Toà án cấp cao, Toà án cấp phúc thẩm và Toà án tối cao. Toà án cấp cơ sở giải quyết 95% số vụ án xảy ra ở New Zealand, đó là các vụ án hình sự do một thẩm phán xét xử, thẩm phán Toà án này có thẩm quyền xét xử đến 20 năm tù, các tranh chấp dân sự dưới 250.000 Đô la New Zealand. Toà án cấp cao xét xử các vụ án có bồi thẩm đoàn và các tranh chấp dân sự có giá trị trên 250.000 đô la New Zealand; Toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị của Toà án cấp cao; Toà án tối cao xét xử những vụ án có kháng cáo, kháng nghị của Toà án cấp dưới nhưng có liên quan đến việc giải thích pháp luật và các bản án đó trở thành khuôn mẫu án lệ cho Toà án cấp dưới áp dụng trong hoạt động xét xử.

Điểm chú ý trong hệ thống xét xử ở New Zealand là việc xét xử sơ bộ trước khi xét xử chính thức được chuẩn bị rất kỹ. Có nghĩa là trước khi đưa vụ án ra xét xử chính thức ở thủ tục có bồi thẩm đoàn thì việc xét xử sơ bộ để xem xét, đánh giá chứng cứ và áp dụng các biện pháp tư pháp khác đối với người phạm tội được xem xét rất thận trọng.

Khi có hành vi phạm tội xảy ra - cảnh sát là cơ quan thực hiện việc điều tra tội phạm và người phạm tội và cảnh sát là cơ quan duy nhất thực hiện việc điều tra tội phạm. Cơ chế xét xử sơ bộ cho phép cơ quan thực hiện quyền công tố trong quá trình tư vấn cho Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Toà án, chỉ áp dụng biện pháp xử lý hình sự khi có đầy đủ chứng cứ buộc tội và việc buộc tội phải phục vụ lợi ích của cộng đồng. Nếu xét thấy không cần thiết phải truy tố để xử lý hình sự thì có thể tư vấn cho Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế, giáo dục khác như lao động công ích. Trước khi đưa ra truy tố, các bên có thể thoả thuận, thương lượng với nhau về việc áp dụng các biện pháp tư pháp sao cho phù hợp và có hiệu quả. Luật sư Nhà nước thực hiện chức năng công tố có thể thương lượng, thoả thuận cùng với Luật sư bào chữa, bị hại, bị cáo về việc có truy tố hay không truy tố. Việc truy tố một vụ việc ra trước Toà án để xét xử phải nhằm mục đích giải quyết những trường hợp có tính chất bức xúc trong xã hội và có tính chất phòng ngừa chung.

Khi xét xử các vụ án hình sự, trước khi thẩm phán quyết định hình phạt thường tham vấn ý kiến của cơ quan quản lý nhà tù ở New Zealand về mức hình phạt sẽ được áp dụng đối với bị cáo đó. Mặc dù đây không phải là điều kiện có tính chất bắt buộc đối với thẩm phán nhưng có ý nghĩa tham khảo rất quan trọng và là một thủ tục bắt buộc đối với các thẩm phán trước khi quyết định hình phạt. Bởi vì ngoài các điều kiện để quyết định hình phạt đối với người phạm tội do pháp luật quy định, việc tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý, giáo dục người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng, vì thông qua việc cải tạo, giáo dục người phạm tội trong các trại giam, cơ quan này có thể thấy rõ được việc áp dụng hình phạt như thế nào để cải tạo, giáo dục người phạm tội có hiệu quả…

Qua đợt khảo sát, nghiên cứu tại Australia và New Zealand, chúng tôi xin kiến nghị và đề xuất về việc Viện kiểm sát nước ta có thể xúc tiến việc đàm phán hợp tác với phía Australia về một số chương trình sau:

1. Tiếp tục cử cán bộ Viện kiểm sát sang đào tạo thạc sỹ luật tại Trường đại học Monash. Đây là cơ sở đào tạo có uy tín và có kinh nghiệm trong việc đào tạo sinh viên quốc tế. Sinh viên Việt Nam đã và đang theo học ở trường này tương đối nhiều - riêng Viện kiểm sát nhân dân đã có 7 người tốt nghiệp thạc sỹ luật tại trường này, hiện đang công tác tại các đơn vị trong ngành và đã phát huy được trình độ năng lực sau khi được đào tạo.

2. Xúc tiến việc hợp tác với cơ quan Công tố Australia về việc Viện kiểm sát Việt Nam cử cán bộ sang học tập, nghiên cứu kinh nghiệm của cơ quan Công tố Australia trong phòng ngừa tội phạm, nhất là nghiên cứu, học tập kinh nghiệm của cơ quan Công tố Australia trong quan hệ với cơ quan phòng ngừa tội phạm của Chính phủ về việc cung cấp các thông tin tội phạm như hoạt động rửa tiền, trốn thuế, chứng minh tài sản bất minh…

3. Hợp tác với Uỷ ban tư pháp bang New South Wales của Australia trong việc sử dụng công nghệ thông tin về thống kê tư pháp. Đây là cơ sở có kinh nghiệm và uy tín trong việc xây dựng, cung cấp các số liệu thông tin trên mạng và nâng cao kỹ năng hoạt động thống kê tư pháp và hoạt động tư pháp.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi