Chế định quyền con người với việc sửa đổi Hiến pháp: tiếp cận từ sự bổ sung, phát triển lý luận của Đảng ta

1. Chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân

Hiến pháp xác lập chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể, tiền đề và mục đích cao nhất của quá trình lập hiến và lập pháp. Thực tiễn quốc gia và bối cảnh quốc tế có những biến chuyển lớn lao trong suốt hơn 20 năm qua kể từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc Đổi mới. Nhận thức lý luận của Đảng ta cũng có những sự điều chỉnh, bổ sung và phát triển mạnh mẽ; thể hiện đậm nét qua các kỳ Đại hội của Đảng. Yêu cầu về việc sửa đổi Hiến pháp phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và trong tình hình mới là một nguyện vọng chính đáng, tha thiết của toàn thể nhân dân và là nhu cầu cấp thiết. Chính vì vậy, Ðại hội Ðảng XI đã xác định một trong những nhiệm vụ ưu tiên là “khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992… phù hợp với tình hình mới”1.

Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Chủ quyền tối cao trong nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước cũng như toàn bộ hệ thống chính trị nói chung thuộc về nhân dân. Cách đây hơn 60 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiều quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra… quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011- gọi tắt là Cương lĩnh năm 2011) của Đảng ta một lần nữa tái khẳng định nguyên tắc kim chỉ nam và bất di, bất dịch trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam là “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân…”3. Quan điểm này của Đảng xuyên suốt mọi đường lối cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước nhằm bảo đảm không ngừng các quyền và tự do cơ bản của mỗi người dân Việt Nam. Đây cũng chính là nguyên tắc nền tảng cho việc lập Hiến và lập pháp. Nó cũng là một nguyên tắc phản ánh tinh thần nhân văn và tiến bộ của nhân loại đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm lĩnh hội và vận dụng sáng tạo, triệt để vào thực tiễn Việt Nam. Đó là “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”4 và nguyên tắc “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền”. Vì vậy, Điều 1 của Hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp 1946) đã khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.

Sự phát triển nhận thức của Đảng ta về chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân còn thể hiện ở chỗ mở rộng sự tham gia vào đời sống chính trị - xã hội (không gian chính trị) của nhân dân không chỉ trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước, của toàn bộ hệ thống chính trị, mà còn bên ngoài Nhà nước, ngoài hệ thống chính trị. Đó là thông qua các tổ chức xã hội, tổ chức cộng đồng và thông qua việc thực hành dân chủ trực tiếp của người dân bằng các hình thức khác nhau.

Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân ủy quyền cho các cơ quan Nhà nước thông qua những người đại diện cho mình. Chủ quyền tối cao của nhân dân, một phần quan trọng (nếu như không nói là quan trọng nhất) chuyển thành quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, do đặc tính cố hữu của thiết chế nhà nước và thiết chế chính trị nói chung, chủ quyền tối cao của nhân dân không bao giờ (và sẽ không thể như vậy) chuyển toàn bộ hay “nhập” hoàn toàn vào quyền lực nhà nước. Trái lại, nhân dân vẫn luôn “giữ” lại hay “sở hữu vốn có” phần còn lại cái chủ quyền mà không trao trọn cho Nhà nước hay thiết chế chính trị nói chung. Những quyền thiêng liêng ấy, là bất khả xâm phạm, và nó được hiện hữu ở những không gian chính trị bậc hai (ở tầng sâu thẳm) lẩn khuất qua các khuôn mẫu đạo đức, văn hóa, tâm linh, ứng xử và giao tiếp xã hội rộng mở của nhân dân. Hiển nhiên, điều này tất yếu đưa đến việc nhân dân cần nhiều hình thức khác nhau để hiện thực hóa các quyền.

Một trong những hình thức trực tiếp thực hành chủ quyền tối cao hay quyền dân chủ của nhân dân đó là thông qua sự tham gia rộng rãi của họ vào đời sống chính trị - xã hội một cách trực tiếp ở các hình thức phi thiết chế nhà nước và phi chính trị. Các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân, từ thiện, cộng đồng tự quản,… là các trụ cột cốt yếu của thiết chế xã hội nói chung mà ở đó sự thiếu vắng bất cứ thành tố nào đều hạn chế khả năng mở rộng và hiện thực hóa đầy đủ các quyền và tự do cơ bản của công dân.

 

2. Sự bổ sung, phát triển lý luận của Đảng ta về quyền con người

Lần đầu tiên Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) sử dụng các khái niệm “phẩm giá” với tính cách là nội dung then chốt của các quyền con người cũng như bổ sung cụm từ “bảo vệ”, “bảo đảm” (bên cạnh cụm từ “tôn trọng”) vào trong nguyên tắc hiện thực hóa các quyền con người. Chẳng hạn, Cương lĩnh năm 2011 xác định “xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”5. Cương lĩnh năm 2011 đã bổ sung quan điểm “con người là chủ thể phát triển”, “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”, cũng như khẳng định “bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân”6. Rõ ràng, Cương lĩnh đã thể hiện một bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về quyền con người, theo đó không chỉ xem các quyền con người trong giới hạn bởi các quyền công dân, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò và nghĩa vụ của Nhà nước trong việc tôn trọng và bảo đảm (bảo vệ và thực hiện) các quyền con người và quyền công dân. Đây chính là sự phản ánh đậm nét nguyên tắc nền tảng của quyền con người: quyền con người chỉ ra chủ thể của quyền (tức các cá nhân và nhóm xã hội) được hưởng; đồng thời chỉ ra trách nhiệm mà chủ thể nghĩa vụ (Nhà nước) phải đáp ứng, như Cương lĩnh năm 2011 khẳng định “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người”7.

Cương lĩnh năm 2011 đã khẳng định một sự bứt phá trong quan điểm của Ðảng ta về con đường hiện thực hóa các quyền tự do và dân chủ của nhân dân. Trên cơ sở kế thừa và phát triển những luận điểm có tính nguyên tắc được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng trước đó, Cương lĩnh năm 2011 đặc biệt nhấn mạnh đến cách thức và con đường mà nhờ đó nhân dân thực hành được các quyền tự do, dân chủ của mình một cách rộng rãi và hiệu quả. Cương lĩnh năm 2011 khẳng định, “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”8. Như vậy, Cương lĩnh năm 2011 đã vạch ra đường lối đúng đắn cho việc xác lập nguyên tắc Hiến định và luật định đó là không ngừng mở rộng và tăng cường các quyền dân chủ của nhân dân thông qua hình thức trực tiếp và đại diện. Tăng cường hình thức dân chủ trực tiếp, được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, hàm ý bao gồm những chế định đối với các quyền tự do và dân chủ theo đó làm tiền đề cho việc thực hành dân chủ trực tiếp. Chẳng hạn, đó là quyền phúc quyết của nhân dân trước những vấn đề trọng đại của đất nước và liên quan trực tiếp đến họ (bao gồm quyền được trưng cầu ý kiến về việc sửa đổi Hiến pháp); quyền bãi miễn, miễn nhiễm đối với các đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân; quyền được tham gia sâu rộng vào các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, từ thiện và cộng đồng để không ngừng hiện thực hóa quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ quyền tối cao của nhân dân còn được xác lập trong nhận thức mới của Đảng ta về vai trò và chức năng của Nhà nước. Theo đó, Nhà nước ta là “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân”9. Đây có thể xem như là thông điệp mạnh mẽ cho việc sửa đổi Hiến pháp 1992 tới đây. Các chế định về quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi cần đặc biệt khẳng định rõ chức năng phục vụ nhân dân của Nhà nước ta. Đồng thời chế định cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân, bao gồm quyền khiếu nại, tố cáo, quyền phúc quyết và quyền bãi miễn, miễn nhiệm, quyền tiếp cận thông tin và quyền giám sát của nhân dân đối với các hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. Bước chuyển về mặt nhận thức lý luận của Đảng từ việc xem vai trò và chức năng chính yếu của nhà nước là quản lý sang phục vụ là một sự đột phá về phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, khẳng định chủ quyền tối cao của nhân dân và việc thực hành quyền dân chủ của nhân dân. Đây cũng chính là cách tiếp cận lấy con người là trung tâm, là chủ thể quyền của mọi chính sách, chương trình hay sự phát triển nói chung; đồng thời cũng chính là nguyên tắc tiếp cận dựa trên quyền con người mà cộng đồng quốc tế và các nước trên thế giới đã và đang áp dụng. “Nhà nước phục vụ nhân dân” trước hết là một Nhà nước xem nhân dân là chủ thể tối cao của mọi quyền lực, là xuất phát điểm cũng như đối tượng và mục đích hướng đến của mọi chính sách hay quá trình phát triển, bao gồm cả quá trình lập hiến và lập pháp.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước sẽ quyết định đến việc bảo đảm quyền con người. Quan điểm đúng đắn của Đảng ta một lần nữa được tái khẳng định trong Cương lĩnh 2011, đó là: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự  phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”10. Nền dân chủ XHCN được thiết kế dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, trong khi nhấn mạnh đến nguyên tắc thống nhất trên cơ sở phân công, phối hợp của quyền lực nhà nước, nguyên tắc kiểm soát giữa các cơ quan (trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp) phải được xem là nguyên tắc song trùng. Chính vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần đặc biệt lưu ý đến việc kiểm soát quyền lực nhằm hạn chế sự lạm dụng, tha hóa trở thành lực lượng cản trở hay tước đi các quyền và tự do cơ bản của người dân. Tăng cường vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ then chốt trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Nền dân chủ XHCN và các quyền, tự do cơ bản của nhân dân chỉ thực sự được xác lập và hiện thực hóa đầy đủ nếu như mọi quyền lực công đều được giám sát chặt chẽ. Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh (1991-2011) của Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X chỉ ra những hạn chế của việc chưa thể chế hóa đầy đủ ba vấn đề cốt lõi mang bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là: 1) toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; 2) trách nhiệm của Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; và 3) hoạt động của bộ máy nhà nước phải thật sự dân chủ11. Vì vậy, Văn kiện Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XI đã đặc biệt nhấn mạnh việc “tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”12. Nhân dân sẽ thực hành quyền kiểm tra, giám sát ấy thông qua cả hai hình thức trực tiếp và gián tiếp. Vì vậy, chế định về quyền tự do, dân chủ cần phản ánh quan điểm đúng đắn này trong Hiến pháp sửa đổi.

3. Chế định quyền con người với Hiến pháp sửa đổi từ cách tiếp cận dựa trên quyền

Cách tiếp cận dựa trên quyền là một phương pháp luận về nhận thức và hành động thực tiễn lấy quyền con người là tiêu chí, điểm xuất phát và mục đích của mọi quá trình chính sách và chương trình. Trong kỹ thuật lập hiến và lập pháp, cách tiếp cận dựa trên quyền giúp xác định rõ chủ thể quyền nắm giữ và chủ thể nghĩa vụ phải thực thi. Đó cũng chính là nguyên tắc của tư duy lập hiến hiện đại, “Nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật chế định; nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”. Đây là một nguyên tắc nền tảng của việc thiết kế tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước bảo đảm chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân.

Cách tiếp cận dựa trên quyền chỉ ra ba nguyên tắc nền tảng: thứ nhất, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; nhân dân là chủ thể của các quyền con người; thứ hai, Nhà nước (và những người đại diện của mình) là chủ thể nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền lực ấy được nhân dân trao cho; đồng thời Nhà nước là chủ thể nghĩa vụ chính yếu của các quyền con người; thứ ba, những chế định về quyền con người phải đồng thời xác lập địa vị, vai trò, chức năng và thẩm quyền của chủ thể quyền, nghĩa vụ phải đáp ứng.

Chế định về quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi, do đó, cần được xây dựng trên nguyên tắc tiếp cận dựa trên quyền. Nguyên tắc ấy chỉ ra việc định rõ một cách chính xác nội hàm của khái niệm quyền công dân và quyền con người. Không đơn thuần là chủ thể của quyền công dân hẹp hơn chủ thể của quyền con người, điều quan trọng đó là việc xem cá nhân là chủ thể cao nhất và tối cao của các quyền con người.

Trong Cương lĩnh năm 1991, dân chủ được thực hiện “thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân cử ra và các hình thức dân chủ trực tiếp”13. Luận điểm này đã được thể chế hóa thành nguyên tắc hiến định trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 6), theo đó “nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân”. Như vậy, ở đây chủ quyền tối cao của nhân dân chỉ được đóng khuôn duy nhất vào việc thực hành quyền dân chủ đại diện thông qua hoạt động của Nhà nước (của Quốc hội và Hội đồng nhân dân). Thực tế cho thấy, nhân dân đã luôn thực hành chủ quyền tối cao của mình không hẳn ở trong và thông qua quyền lực nhà nước, mà còn thông qua quyền lực chính trị (Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội), và quyền lực phi nhà nước, phi chính trị - tức là các quyền tự do thiêng liêng bên ngoài phạm vi chế định của luật pháp (mà pháp luật không cấm). Những quyền ấy xuất phát từ bản tính tự nhiên, vốn có và thiêng liêng của mỗi cá nhân - con người trước khi bước vào “quan hệ xã hội có tính chính quan phương” (C.Mác); tức là trước khi trở thành trạng thái công dân của con người cá nhân. Vì vậy, các chế định về quyền con người không chỉ xuất phát từ việc ghi nhận và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản của mỗi cá nhân tồn tại với tính cách là công dân (quyền công dân), mà quan trọng hơn đó là nhằm khơi dậy và phát huy tiềm năng để hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản của cá nhân tồn tại với tính cách là con người nói chung - tức con người tồn tại với phẩm chất phi công dân, bên ngoài mối quan hệ giữa cá nhân với Nhà nước - đó là cá nhân trong chỉnh thể của xã hội vừa là cái đặc thù của một dân tộc, một giai cấp, đồng thời vừa là cái phổ quát của nhân loại và mang tính loài. 

Hiển nhiên, điều này chỉ ra yêu sách về tự do và các quyền cơ bản của cá nhân với tính cách là công dân đóng vai trò then chốt nhưng không bao trùm và toàn diện hay thay thế cho các yêu sách về tự do, dân chủ nói chung. Vì vậy, trong tư duy lập hiến và lập pháp hiện đại, theo con đường phát triển, tiến bộ và văn minh của nhân loại, những chế định về quyền công dân là chưa đầy đủ (mặc dù là cơ bản và thiết yếu) đối với nhân dân. Chế định vì quyền dân chủ của nhân dân phải luôn xuất phát và hướng tới đồng thời bảo đảm các quyền tự do, dân chủ cho mỗi cá nhân với tư cách là công dân và với tư cách là thành viên của xã hội và cộng đồng nhân loại. Tức là cần có những chế định cụ thể về quyền của con người chứ không phải chỉ là các quyền của công dân. Hiến pháp 1992 với Chương V có tiêu đề “quyền và nghĩa vụ của công dân”, chứ không phải “quyền cơ bản của con người” hay “quyền và nghĩa vụ cơ bản của cá nhân”. Hơn nữa, Chương V Hiến pháp 1992 còn chứa đựng những yếu tố chưa đồng nhất và chính xác về ngữ nghĩa, nội hàm. Chẳng hạn, Điều 50 trong khi khẳng định các quyền con người trên mọi phương diện lại đồng thời giới hạn chúng trong các quyền công dân. Như vậy là chưa chính xác, không đầy đủ và toàn diện, vì: thứ nhất, ở đây, các quyền con người không phải đồng nhất hoàn toàn với các quyền công dân; thứ hai, theo cách tiếp cận dựa trên quyền con người, Nhà nước không chỉ có nghĩa vụ tôn trọng, mà quan trọng hơn đó là nghĩa vụ bảo vệ và thực hiện các quyền ấy; thứ ba, việc các quyền con người chỉ được thể hiện trong các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật là chưa đầy đủ. Thực tế, các quyền con người không chỉ do Nhà nước thừa nhận, mà còn là khả năng, xu hướng và giá trị nhân văn cao cả, vốn có của con người, ngay cả khi Nhà nước chưa ghi nhận. Các quyền tự nhiên ấy cũng cần được xem như là thuộc tính cố hữu của con người. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các quyền tự nhiên ấy chỉ thực sự được hiện thực hóa, được bảo vệ và thực thi đầy đủ trên nền tảng của những chế định pháp lý. Vì vậy, trong khi đề cao tính nhân văn sâu sắc của các quyền tự nhiên thiêng liêng của con người, chúng ta không được quên đi một chân lý hiển nhiên: chế định Hiến pháp và pháp luật là tiền đề, điều kiện quan trọng bậc nhất cho việc nảy nở và phát triển các quyền con người.

Với tư duy lập hiến dựa trên việc xem công dân là chủ thể duy nhất của các quyền con người, Chương V của Hiến pháp 1992 (từ điều 49-82) đã thay chế định các quyền của cá nhân (hay của nhân dân) nói chung bằng chế định về các quyền và nghĩa vụ của công dân. Thay vì các quy định về quyền và tự do cơ bản đáng nhẽ được bắt đầu bằng “mọi người (hay mọi cá nhân)”, chúng chủ yếu được bắt đầu bằng “công dân”. Chẳng hạn, “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 52); “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú” (Điều 68); “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” (Điều 69); “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo” (Điều 70),… Những quy định này vô hình trung đã loại trừ sự tồn tại của những cá nhân không phải với tính cách là công dân (người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam, những người bị tước quyền công dân…).

Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần phải đặc biệt chú trọng đến chế định quyền con người. Về mặt vị trí, chế định quyền con người cần phải được đưa vào Chương I hoặc Chương III (ngay sau hai chương Chế độ chính trị và Chế độ kinh tế). Điều này xuất phát từ thuộc tính chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, các quyền và tự do cơ bản của mỗi người chính là nền tảng của việc xác lập các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Nếu như trong Hiến pháp 1946, chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân ghi ngay tại Chương II thì cứ mỗi một bản Hiến pháp sau, vị trí của chế định này lại lùi xa thêm (Chương III trong Hiến pháp 1959, Chương V trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992). Phải chăng, trật tự hoán vị là hoàn toàn ngẫu nhiên hay phản ánh thứ bậc ưu tiên và tầm quan trọng của những nguyên tắc nền tảng của một bản Hiến pháp? Câu trả lời khả dĩ có thể xuất phát từ nhận thức chưa đúng và đầy đủ về vị trí, vai trò của chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân trong tư duy lập hiến trước đây.

Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân và pháp quyền XHCN cần trở thành kim chỉ nam cho việc sửa đổi Hiến pháp. Có thể nói, nguyên tắc này đã được áp dụng triệt để ngay từ Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (Hiến pháp 1946). Theo đó, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều 32 và Điều 70” (Điều thứ 21); “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viện đồng ý” (Điều thứ 32); và “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây... Những điều thay đổi khi được nghị viên ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết” (Điều thứ 70). Những quy định này đã khẳng định chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đặc biệt trong việc lập hiến. Quyền thiêng liêng và tối cao này của nhân dân đã không được các bản Hiến pháp sau đó đề cập đến. Thay vào đó, “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Điều 83 Hiến pháp 1992). Điều này có nghĩa rằng, quyền phúc quyết của nhân dân đã được chuyển hóa từ hình thức trực tiếp sang đại diện. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, quyền phúc quyết và quyền bãi miễn đối với những người đại diện của nhân dân là một cơ chế thiết yếu của Nhà nước pháp quyền (và nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân) là những quyền tự do, dân chủ cơ bản của mỗi người dân chỉ có ý nghĩa thực sự nếu chúng được các chủ thể quyền ấy thực thi trực tiếp.

Với tinh thần bổ sung và phát triển về lý luận của Đảng ta từ sự soi chiếu và đòi hỏi của thực tiễn, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) tiếp tục tái khẳng định nguyên tắc không ngừng củng cố và tăng cường tính hiệu quả của hình thức dân chủ đại diện của nhân dân song song với việc mở rộng hình thức dân chủ trực tiếp. Một trong những tiền đề quan trọng cho việc thực hành dân chủ rộng rãi của nhân dân đó là thực hành dân chủ trong Đảng, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt là thông qua hoạt động lập pháp xác lập việc mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp; đồng thời nhân dân sẽ thực hiện quyền làm chủ một cách gián tiếp thông qua toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Ðảng, quản lý của Nhà nước, giám sát của các tổ chức - xã hội, đoàn thể nhân dân và cộng đồng.

Quyền con người chỉ thực sự được tôn trọng, bảo đảm và thực hiện đầy đủ trong điều kiện nhận thức của những chủ thể quyền và chủ thể nghĩa vụ đạt một trình độ ý thức tự giác cao được chuyển hóa thành hành động thực tiễn cụ thể. Ý thức sâu sắc về việc tôn trọng, bảo đảm và thực hiện các quyền con người là một đòi hỏi tất yếu và quan trọng hàng đầu của những người đại diện cho nhân dân thực thi quyền lực công. Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân sẽ không thể được xác lập hoàn toàn nếu thiếu vắng việc thực hành các quyền và tự do dân chủ rộng rãi của mọi người dân. Những nguyên tắc hiến định về tổ chức và hoạt động của Nhà nước, về quyền con người và quyền công dân chỉ trở thành chân giá trị và bền vững nếu chúng xuất phát từ việc xem nhân dân là chủ quyền tối cao của mọi quyền lực và là chủ thể của các quyền, tự do cơ bản của con người.

 

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI,  Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 247.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb. Chính trị Quốc gia, H.1995, tr. 698.

(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 85.

(4) Thư Hồ Chủ tịch gửi Ủy ban nhân dân các Kỳ, tỉnh, huyện và làng, Báo Cứu quốc số 69 ngày 17/10/1945.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 76.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 76.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 85.

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 85.

(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 86.

(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 85.

 (11) Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991-2011), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 130.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, tr. 247.

(13) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, xem: http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&subtopic=8&leader_topic=224&id=BT2440654662.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi