Sửa đổi, bổ sung Chương V Hiến pháp 1992: từ góc nhìn so sánh

Trước những vận động mau chóng của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, quá trình nước ta chủ động hội nhập quốc tế và đặc biệt là nhận thức chung của xã hội ngày càng sâu sắc về vấn đề quyền con người, quyền công dân, thì chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương V Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001) đã bộc lộ một số bất cập, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh, nhất là khi chúng ta đang bắt tay vào việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Qua nghiên cứu so sánh chế định này của một số nước có tính chất điển hình, chúng tôi xin góp tiếng nói hoàn thiện việc sửa đổi, bổ sung Chương V Hiến pháp 1992.

Trong xã hội hiện đại, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp các nước được xuất phát từ quan điểm gốc về quyền con người. Đây là điểm căn bản thể hiện tính chính đáng và nhân văn trong chế định. Từ quan điểm đó, quyền con người ghi nhận vào nội dung chế định, tuỳ thuộc vào các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống, tôn giáo, các lý thuyết chính trị - pháp lý... ở nước mình. Do đó, chế định này trong hiến pháp các nước vừa có tính phổ quát, vừa có tính đặc thù; trong đó, tính phổ quát của quyền con người là giá trị có tính nền tảng và được đề cao. Trong một chế độ dân chủ, chính quyền không ban phát những quyền và tự do cho công dân mà ngược lại, trách nhiệm của nó là phải ghi nhận, bảo đảm các quyền và tự do vốn có ấy.

Ở Việt Nam, trong suốt một thời gian dài, đã có lúc người ta nghĩ rằng quyền con người chỉ là vấn đề thuần tuý của chủ nghĩa tư bản, nảy sinh trong cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa tư bản và chế độ phong kiến; không thuộc phạm trù của chủ nghĩa xã hội cần phải giải quyết1. Nhưng thực ra, quyền con người là vấn đề chung của nhân loại, của mọi chế độ xã hội. Thực tiễn ở các nước và kinh nghiệm cho thấy, quyền con người không tự đến mà là kết quả của sự đấu tranh, phấn đấu. Chủ nghĩa xã hội vẫn có vấn đề về quyền con người, mà trên nguyên tắc, quyền đó phải phải được giải quyết sao cho đạt đến trình độ cao hơn các xã hội trước đó.

Đối với nước ta, Hiến pháp hiện hành đã trực tiếp ghi nhận quyền con người tại Điều 50. Đây là một bước tiến đặc biệt quan trọng về nhận thức và thể chế. Tuy nhiên, cũng như mọi hiện tượng chính trị - pháp lý khác, quyền con người nằm trong quá trình dần được hoàn thiện và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của đời sống xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, theo chúng tôi, Hiến pháp hiện hành cần xem xét việc sửa đổi, bổ sung chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên một số điểm sau đây: 

1. Quy định quyền công dân theo tinh thần dân chủ, đề cao quyền vốn có của con người

 Nghiên cứu cách thức quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp nước ta, có ý kiến cho rằng, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên cách ghi nhận quyền cho công dân mang tính chất ban phát. Ý kiến này có lẽ chưa thật chính xác. Đúng hơn, cách ghi nhận như vậy là do ảnh hưởng của việc quá đề cao vai trò trung tâm của Nhà nước tương ứng với giai đoạn lịch sử chiến tranh và nền kinh tế tập trung kế hoạch hoá, sự tập trung này tác động đến cả đời sống chính trị - xã hội mà dư âm của nó vẫn còn để lại khi Nhà nước ta đã tiến hành đổi mới. Lấy ví dụ quy định quyền về tôn giáo để so sánh. Điều 70 Hiến pháp nước ta quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Trong khi đó, cũng quyền này, Hiến pháp Đức ghi nhận như lẽ đương nhiên đối với công dân và bên kia là trách nhiệm của Nhà nước và xã hội, người khác đối với quyền đó: “Tự do tín ngưỡng, tôn giáo hay ý thức hệ là không thể xâm phạm”2. Hoặc Hiến pháp Mỹ lại có lối quy định có khả năng ngăn chặn sự vi phạm quyền: “Quốc hội sẽ không được ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, hạn chế tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền của dân chúng được hội họp trong ôn hoà và kiến nghị lên Chính phủ các điều khẩn cầu, để bày tỏ những bất bình của họ”3.

Theo tinh thần tôn trọng quyền vốn có của con người, Hiến pháp một số nước cũng có quy định tương tự ở những quyền khác. Ví dụ, Hiến pháp Venezuela ghi: “Không luật nào được lập các điều khoản làm ảnh hưởng đến tính chất tiến bộ về quyền và lợi ích lao động”4, Hiến pháp Canada: “Không gì có thể xoá bỏ hoặc làm hạn chế các đặc quyền hay quyền ưu đãi được đảm bảo bởi Hiến pháp dành cho công dân”5.

Những dẫn chứng trên đây cho thấy, các nước đã thể hiện quan điểm tôn trọng quyền con người một cách dứt khoát, mạch lạc và khả năng bảo đảm quyền cũng dứt khoát và mạch lạc. Đây là một kinh nghiệm lập hiến quý báu có thể gợi mở cho việc sửa đổi, bổ sung Chương V của Hiến pháp 1992 trong ý nghĩa thực sự tôn vinh và bảo đảm thực hiện trên thực tế quyền con người, quyền công dân.

2. Diễn đạt đúng mối tương quan giữa quyền công dân với quyền con người

Hiến pháp hiện hành đã đề cập đến quyền con người tại Điều 50: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Diễn đạt như vậy có thể dẫn đến cách hiểu “quyền con người” chỉ được thể hiện ở các “quyền công dân”; trong khi quyền công dân về nguyên tắc không bao giờ bao quát hết được quyền con người. Mặt khác, nếu chỉ thừa nhận các quyền dưới hình thức là quyền công dân (cho công dân Việt Nam) thì các quyền tối thiểu đối với người không phải là công dân Việt Nam đã không được thể hiện trong quy định này. Đây là vấn đề không phù hợp trong bối cảnh toàn cầu hoá. Trong các bản hiến pháp các nước, không thấy có hiến pháp nào quy định theo cách đó. Vì vậy, Hiến pháp 1992 nên thay đổi bằng cách ghi nhận các quyền dưới hình thức là “quyền con người” theo hướng mặc nhiên thừa nhận chứ không chỉ đơn thuần là “quyền công dân” (trừ một số quyền trong lĩnh vực chính trị chỉ dành cho công dân Việt Nam)6. Theo đó, Điều 50 Hiến pháp có thể sửa thành: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong Hiến pháp và luật”.

3. Quy định về tương quan giữa các quyền và nghĩa vụ cơ bản với các quyền và nghĩa vụ không cơ bản

Các quyền và nghĩa vụ cơ bản là các quyền và nghĩa vụ thiết yếu đối với công dân. Nhưng các quyền và nghĩa vụ không cơ bản xét về ý nghĩa và giá trị đối với cuộc sống của họ thì cũng rất quan trọng. Không có pháp luật nước nào khi chú trọng ghi nhận quyền, nghĩa vụ cơ bản lại “quên” đi các quyền, nghĩa vụ không cơ bản. Điều đó tránh cho việc làm nghèo đi địa vị pháp lý của công dân hoặc hiểu sai trong việc ghi nhận và bảo đảm thi hành đối với các quyền và nghĩa vụ không cơ bản. Một số nước đã xử lý hài hòa mối quan hệ giữa hai loại quyền và nghĩa vụ trên. Hiến pháp Mỹ, sau khi đã liệt kê các quyền thiết yếu cơ bản trong 8 Tu chính án, Tu chính thứ 9 quy định: “Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hoặc làm giảm đi giá trị của các quyền khác của người dân”7. Còn theo Hiến pháp Nga, “Việc ghi nhận các quyền và tự do cơ bản trong Hiến pháp Cộng hoà liên bang Nga không có nghĩa là phủ định hay hạ thấp các quyền và tự do khác của người dân”8.

Quy định như trong hai bản hiến pháp của Mỹ và Nga về quyền, nghĩa vụ cơ bản và không cơ bản của người dân là rất tinh tế, có tính thực tiễn cao, có ý nghĩa đối với đời sống công dân, trong kỹ thuật lập pháp và cả việc thi hành pháp luật. Nó là điểm rất hay cần được nghiêm túc nghiên cứu và có thể bổ sung vào chế định hiến pháp về quyền và nghĩa vụ công dân nước ta.

4. Xác định về nguyên tắc ranh giới của quyền cũng như nghĩa vụ của công dân

Khi trả lời câu hỏi thế nào là tự do, Montesquieu đã viết: “... tự do chính trị tuyệt đối không phải là muốn làm gì thì làm. Trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm và không bị ép buộc làm điều không nên làm... Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà luật cho phép. Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vì nếu để anh ta tự do làm thì mọi người đều được làm trái luật cả”9. Tinh thần này của nhà tư tưởng đã được thể hiện trong hiến pháp rất nhiều nước mà rõ nét nhất là trong Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (một bộ phận cấu thành Hiến pháp Pháp) rằng: “Tự do bao gồm sự tự do để làm tất cả mọi thứ mà không làm tổn hại đến bất cứ người nào khác, vì vậy, việc thực hiện các quyền tự nhiên của mỗi con người là không giới hạn trừ những người mà phải đảm bảo cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó”10, “không điều gì có thể bị ngăn chặn nếu không bị cấm bởi pháp luật và không ai có thể bị buộc làm bất cứ điều gì mà không quy định trong pháp luật”11.

Theo một cách khác, Hiến pháp Đức ghi nhận nguyên tắc: “Mỗi người đều có quyền phát triển tự do nhân cách của mình đến mức không vi phạm các quyền của người khác hoặc xúc phạm, chống lại trật tự hiến pháp hoặc chuẩn mực đạo đức”12. Hiến pháp Braxin lại ghi: “Không ai có nghĩa vụ làm hoặc không làm điều gì đó trừ khi pháp luật có quy định về điều đó”13.

Một quy định chung về giới hạn của quyền là cần thiết. Đó là nguyên tắc để xác lập các quyền và nghĩa vụ công dân, đặc biệt là trường hợp khi pháp luật không hoặc chưa thể điều chỉnh hết được thì đó sẽ là cơ sở để phán xét về tính hợp hiến, hợp pháp của việc quy định hay đánh giá hành vi cụ thể liên quan đến quyền con người. Nên chăng, Hiến pháp Việt Nam cần bổ sung một quy định tương tự?

5. Quy định trực diện một số quyền công dân

Trong Hiến pháp hiện hành, có một số quyền công dân như: quyền nghỉ ngơi, quyền được hưởng chế độ bảo hiểm, quyền kết hôn, quyền bãi nhiệm các đại biểu dân cử... thật ra là quyền cơ bản riêng biệt của con người cần phải được thể hiện rõ ràng thì lại được hiểu gián tiếp hay “giấu mình” trong quy định khác. Việc xác định rõ ràng đó là quyền cơ bản hay không không chỉ là vấn đề của kỹ thuật lập pháp mà quan trọng hơn, đó là vấn đề của nhận thức và khả năng thực hiện quyền. Vì thế, đề xuất về việc ghi nhận các quyền đó một cách rõ ràng, trực diện, không hiểu gián tiếp thông qua nghĩa vụ của Nhà nước, hay tồn tại dưới dạng “ẩn” là hoàn toàn có cơ sở14.

6. Ghi nhận một số quyền công dân với tư cách là quyền cơ bản

Rà soát tổng thể các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân của một số nước, có thể cân nhắc khả năng ghi nhận, bổ sung vào Hiến pháp nước ta với tư cách là quyền cơ bản, các quyền như: quyền về quốc tịch, quyền đình công, quyền chống độc quyền, quyền được sống trong môi trường an toàn, trong sạch, xác nhận người nội trợ được hưởng quyền an sinh xã hội như là một trong những người lao động tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội... Thực tiễn vận động của đời sống xã hội diễn ra trong những năm qua cho thấy, đã đến lúc chúng ta có thể cảm nhận, đánh giá được tầm quan trọng của các quyền này.

 Hiến pháp một số nước đã có các quy định về quyền này. Chẳng hạn, Hiến pháp Đức, Mỹ, Braxin, Venezuela có những quy định tương đối cụ thể quyền về quốc tịch, có sự phân biệt giữa người nhập tịch và người có quốc tịch gốc và điều kiện nhập tịch. Trong khi đó, Hiến pháp Việt Nam chỉ ghi nhận tại Điều 49: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” mà không xác định đó là quyền.

7. Tạo cơ sở có tính định hướng hoặc nguyên tắc để quy định chi tiết hay cụ thể hoá quyền cơ bản của công dân

Ở nước ta, hầu hết các quy định hiến pháp về quyền và nghĩa vụ của công dân đều cần có sự cụ thể hoá. Rất khó có thể thực hiện trực tiếp được trong đời sống các quyền hay nghĩa vụ đó. Ví dụ, quyền lao động được thể hiện trong Bộ luật Lao động,...; quyền khiếu nại và tố cáo của công dân được cụ thể hoá trong Luật Khiếu nại, tố cáo; quyền tự do thân thể của công dân được quy định trong một số văn bản, trong đó có Bộ luật Tố tụng hình sự; quyền tự do tôn giáo được quy định trong Pháp lệnh Tôn giáo v.v.. Điều đó có nghĩa, lời văn hoặc tinh thần của quy định về quyền hay nghĩa vụ cơ bản trong Hiến pháp mặc dù có giá trị pháp lý15 nhưng khó có thể trực tiếp thực hiện trong thực tế, mà cần phải có sự cụ thể hoá.

Hiện nay, vẫn còn một số quyền hiến định như: trưng cầu ý dân, biểu tình, lập hội... chưa được cụ thể hoá hoặc cụ thể hoá không dưới hình thức luật. Một trong những khó khăn của việc cụ thể hoá các quy định này là do Hiến pháp cũng chỉ xác định là có quyền nhất định, nhưng không xác định về nguyên tắc hoặc định hướng là quyền đó được hành xử như thế nào. Vì thế, khi xây dựng luật để cụ thể hoá các quyền, trong rất nhiều trường hợp gần như là chỉ có các cơ sở tư tưởng cơ bản, nhưng thiếu nhiều vấn đề nguyên tắc có tính chất định hướng cực kỳ quan trọng. Nên chăng, chế định về quyền hay nghĩa vụ công dân trong Hiến pháp cần có các quy định tính đến thực tế đó. Hiến pháp một số nước cũng tính đến yếu tố này để bảo đảm cho quy định hiến pháp không bị hiểu sai và có tính định hướng. Đây là vấn đề lớn trong điều chỉnh pháp luật về quyền công dân nhằm rút ngắn khoảng cách giữa quy định hiến pháp với cụ thể hoá quy định đó, đồng thời là khả năng thực hiện thực tế quyền.

8. Thực hiện cao nhất khả năng nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập

Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập một số các Điều ước quốc tế về quyền con người. Nhân quyền ngày nay đã không còn bó gọn trong phạm vi quốc gia mà trở thành vấn đề chung mang tính toàn cầu. Yêu cầu đặt ra là Nhà nước phải “nội luật hoá” những nội dung quyền con người trong các điều ước quốc tế vào Hiến pháp, để các quyền đó thật sự đến được với người dân. Các quyền được ghi nhận phải vừa bảo đảm được tính phổ quát, vừa có tính đặc thù, nhưng tính đặc thù không được lấn át tính phổ quát.

Về vấn đề này, có thể tham khảo kinh nghiệm ở các nước. Ví dụ, pháp luật Braxin quy định các điều ước quốc tế về nhân quyền nếu được phê chuẩn bởi Quốc hội, qua hai vòng với 3/5 số phiếu thông qua của các nghị sĩ thì sẽ có giá trị tương đương với Hiến pháp.

9. Các bảo đảm thực hiện quyền công dân có tính cụ thể

Nghiên cứu chế định quyền và nghĩa vụ của công dân trong hiến pháp một số nước còn thấy có những quy định mang tính chất bảo đảm thực hiện quyền công dân có tính cụ thể, thiết thực như: đời sống của các ứng cử viên vào các vị trí chủ chốt của Nhà nước phải được công khai hoá, để cho các cuộc bầu cử không chịu ảnh hưởng của kinh tế; Nhà nước có trách nhiệm phải cung ứng trợ giúp pháp lý đầy đủ và miễn phí cho những người không có đủ nguồn lực kinh tế; quy định việc nộp đơn khởi kiện lên Toà án đối với những vụ kiện nhằm bảo vệ các quyền lợi ích hợp pháp của công dân là miễn phí; người nghèo không phải nộp lệ phí giấy khai sinh, giấy chứng tử; Nhà nước hỗ trợ về vật chất bình đẳng như nhau đối với những vận động viên tham gia hoạt động thể thao vì Nhà nước mà không phân biệt cấp loại; ban giám đốc của các đơn vị khu vực công phải có ít nhất 50% công nhân; nữ tù nhân sẽ được bảo đảm các điều kiện đủ để ở với con cái của họ trong thời gian con họ còn ở độ tuổi mẫu giáo; mọi chi phí về sự đi lại hầu toà của nhân chứng do Nhà nước đài thọ...

Nếu xem xét Chương V. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân của Hiến pháp nước ta thì có thể thấy, quy định loại như trên hầu như không có hoặc có không đáng kể. Một số ví dụ được nêu ở trên có thể gợi mở cho các nhà làm luật khả năng lựa chọn việc ghi nhận những quy định bảo đảm cho việc thực hiện quyền ngay trong Hiến pháp.

10. Giới hạn sự can thiệp của Nhà nước vào việc công dân thực hiện các quyền, nghĩa vụ; quy định trách nhiệm của Nhà nước đối với việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền

Từ lâu, các nước tư sản xem các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế - xã hội là lĩnh vực thuộc về tự do cá nhân, sự can thiệp của Nhà nước chỉ nên dừng ở mục đích bảo đảm cho các quyền tự do cá nhân không bị vi phạm. Thực tế cho thấy, quan niệm như vậy là đúng, vì chính họ đã qua trải nghiệm rằng sự can thiệp của Nhà nước vào việc công dân thực hiện quyền hay nghĩa vụ, sẽ rất có thể dẫn đến sự vi phạm quyền công dân. 

Ở nước ta, bước sang thời kỳ đổi mới, việc Nhà nước can thiệp quá sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội đã không còn phù hợp bởi sự hiện diện của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bởi nhận thức đúng đắn về quan hệ giữa Nhà nước với xã hội cũng như với công dân có tính toàn cầu hiện nay là “Nhà nước nhỏ, xã hội lớn”. Nhà nước không can thiệp sâu vào các hoạt động cụ thể của công dân, xã hội. Vận động của đời sống là do chính người dân thực hiện. Hiện nay, trong lĩnh vực quyền công dân, có một số quan điểm cho rằng, chúng ta nên tập trung vào việc quy định hạn chế quyền lực nhà nước và bảo đảm quyền công dân16. Quyền lực của Nhà nước càng được chế ước vừa đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước, vừa có sự giới hạn nhất định đối với quyền lực nhà nước thì quyền con người càng nhiều, quyền công dân càng dễ dàng thực hiện hơn trong thực tế17. Có thể khẳng định đây là các quan điểm đúng đắn. Không những hạn chế quyền lực nhà nước mà còn xác định quyền lực ấy có trọng trách phải bảo đảm việc thực hiện các quyền công dân. Đồng thời, Nhà nước cũng không thể để mặc công dân thực hiện quyền như thế nào, nó cần phải thực hiện sự trợ giúp cho công dân trong các trường hợp cần thiết.

Trên tinh thần thượng tôn hiến pháp, để hạn chế sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thể thu hẹp hay làm méo mó các quy định hiến pháp nói chung, các quyền hiến định của công dân nói riêng, chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm lập hiến các nước. Điều sửa đổi thứ 14 Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ rõ trách nhiệm của chính quyền các bang trong việc bảo vệ quyền công dân như sau: “Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế quyền ưu tiên hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ, cũng như không một bang nào có thể tước đoạt tính mạng, tự do hay tài sản của một cá nhân mà không tuân theo thủ tục pháp lý thích hợp hoặc phủ nhận quyền của các cá nhân được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật”18. Hiến pháp Nhật Bản quy định: “Quốc hội không thể biểu quyết một đạo luật đặc biệt áp dụng cho một tập thể địa phương nếu đa số cử tri của địa phương đó không tán thành”19. Quy định trên của hai bản hiến pháp có khác nhau, nhưng đều có điểm chung là bảo đảm thực hiện quyền hiến định của con người và có thể là kinh nghiệm tốt về thể hiện vai trò và giới hạn của Nhà nước trong quan hệ Nhà nước - công dân trong hiến pháp, xét về phương diện kỹ thuật lập pháp.


(1) Nguyễn Đăng Dung, Chế ước quyền lực nhà nước, Nxb. Đà Nẵng, 2008, tr. 165-166.

(2) Điều 4 Hiến pháp Cộng hoà liên bang Đức 1949.

(3) Tu chính án thứ 01 (thông qua 15l12/1791), Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ 1787.

(4) Điều 89 Hiến pháp Venezuela 1999.

(5) Điều 29 Hiến pháp Canada 1982.

(6) Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ hiến pháp- Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 2010, tr. 237.

(7) Tu chính án thứ 9 (thông qua ngày 15/12/1791), Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ 1787.

(8) Điều 55 Hiến pháp Cộng hoà liên bang Nga 1993.

(9) Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, 1996, tr. 99.

(10) Điều 4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1789.

(11) Điều 5 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền Pháp 1789.

(12) Điều 2 Hiến pháp Đức 1949.

(13) Điều 5 Hiến pháp Braxin 1988.

(14) Nguyễn Văn Động, Các quyền hiến định về chính trị của công dân Việt Nam, Nxb. Tư pháp, 2006, tr. 157.

(15) Đây là cơ sở để các thiết chế bảo hiến có thể xác định các vụ việc pháp lý nào đó có hợp hiến hay không.

(16) Nguyễn Đăng Dung, Chế ước quyền lực nhà nước, Nxb. Đà Nẵng, 2008, tr. 138-140.

(17) Trên thực tế “Một Nhà nước dân chủ và pháp quyền về thực chất không có lợi ích của riêng mình. Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước dân chủ là phục vụ xã hội dân sự, phụng sự lợi ích và bảo vệ quyền và lợi ích của người dân”. Xem: Lê Minh Thông, Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 8/2000, tr. 8.

(18) Tu chính án thứ 14 (thông qua 9/7/1968), Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

(19) Điều 95 Hiến pháp Nhật Bản 1946.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi