Kiến nghị sửa đổi Chương I Hiến pháp 1992

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới”. Với tinh thần đó, chúng tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến sửa đổi về chương I của Hiến pháp.

Chương I của Hiến pháp quy định về Chế độ chính trị nên nội dung của Chương I phải tập trung vào việc xác định chủ quyền quốc gia, hình thức nhà nước mà đặc biệt là hình thức chính thể (quyền lực tối cao của Nhà nước được trao cho ai? trình tự, thủ tục trao quyền; mối quan hệ giữa các cơ quan cao nhất của Nhà nước với nhau và quan hệ của Nhà nước với nhân dân. Ngoài ra còn đề cập tới quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác (Đảng, các tổ chức xã hội); quan hệ giữa nước Việt Nam với các nước khác; các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước nếu thấy cần thiết. Do vậy, về cấu tạo của chương I nên tập trung vào các vấn đề sau đây:

1) Các quy định khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam, vấn đề này đã được thể hiện ở Điều 1 là phù hợp, nên vẫn giữ nguyên.

2) Các quy định xác định mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân để thể hiện chủ quyền nhân dân, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong nhóm này gồm các quy định sau:

a. Về bản chất Nhà nước

Điều 2 Hiến pháp sửa đổi nên quy định như sau: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức”. Sở dĩ có sự đề xuất như vậy là vì những lý do sau:

Thứ nhất, so với quy định cũ thì “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đã bỏ đi tính từ “xã hội chủ nghĩa” vì Nhà nước Việt Nam đã là Nhà nước xã hội chủ nghĩa nên việc nhắc lại chữ “xã hội chủ nghĩa” trong trường hợp này là không cần thiết.

Thứ hai, việc quy định Nhà nước Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đã thể hiện chủ quyền nhân dân. Bởi: “Nhà nước của nhân dân” được lý giải là tất cả quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, thuộc về nhân dân. Các cơ quan nhà nước nhận quyền từ nhân dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước; “Nhà nước do nhân dân” được lý giải là nhân dân tổ chức thành nhà nước. Cụ thể là nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp lập ra các cơ quan nhà nước và cũng chính đại diện của nhân dân làm việc trong các cơ quan nhà nước; “Nhà nước vì nhân dân” được lý giải là mọi hoạt động của nhà nước đều vì lợi ích và nhằm phục vụ nhân dân. Do vậy, việc quy định thêm: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” là thừa. Nếu giữ lại quy định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” thì nên bỏ quy định: “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Tuy nhiên, quy định: “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” thì hay hơn và đầy đủ hơn.

- Thứ ba, khi đã quy định: “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì thiết nghĩ không nên dùng thuật ngữ giai cấp ở đây nữa mà chỉ dùng “nền tảng là liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức” thì sẽ phù hợp hơn.

 b. Về việc nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước:

Đề nghị quy định như sau: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra và thông qua việc nhân dân quyết định trực tiếp. Các cơ quan nhà nước đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Quy định như vậy là vì:

Thứ nhất, nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua tất cả các cơ quan nhà nước chứ không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Thứ hai, ngoài hình thức sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước thì nhân dân còn có thể trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua việc phúc quyết hoặc trưng cầu dân ý. Nếu nhân dân chỉ sử dụng quyền lực nhà nước thông qua bộ máy nhà nước (dân chủ đại diện) thì hình thức dân chủ trực tiếp bị ảnh hưởng, chủ quyền nhân dân bị hạn chế.

Thứ ba, tất cả các cơ quan nhà nước đều đại diện cho ý chí, nguyên vọng của nhân dân và đều phải chịu trách nhiệm trước nhân dân chứ không chỉ có Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

3) Các quy định xác định quyền lực nhà nước được giao cho những cơ quan nào thực hiện? trình tự, thủ tục giao quyền? mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau; việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhóm này gồm các quy định sau:

a. Quyền lực nhà nước được phân công cho các cơ quan nhà nước thực hiện như sau:

“Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan cao nhất thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan cao nhất thực hiện quyền hành pháp; Tòa án quốc gia là cơ quan xét xử cao nhất, cơ quan cao nhất thực hiện quyền tư pháp.

Các cơ quan nhà nước kiểm soát lẫn nhau và chịu sự kiểm soát của nhân dân trong việc thực hiện quyền lực nhà nước”. Sở dĩ chúng tôi đề xuất như vậy, vì:

Thứ nhất, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nên việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước phải do nhân dân tiến hành thông qua Hiến pháp.

Thứ hai, việc phân công rõ ràng như trên sẽ tránh được sự phụ thuộc quá mức của Chính phủ vào Quốc hội như trước đây Hiến pháp quy định: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Việc Hiến pháp 1992 quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là không chính xác1. Việc quy định như vậy cũng là điều kiện để các cơ quan nhà nước có thể kiểm soát lẫn nhau (kiểm soát trong) trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, đặc biệt là đối với Quốc hội.

Thứ ba, việc bổ sung yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước và sự kiểm soát của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước là vô cùng cần thiết khi xây dựng Nhà nước pháp quyền và điều này cũng phù hợp với tinh thần của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”2.

Thứ tư, quyền lực nhà nước có thể phân ra thành ba loại quyền lực là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng cũng có thể phân ra thành nhiều loại quyền nữa như quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp và quyền nguyên thủ quốc gia, quyền giám sát… Do vậy, nếu viết chung chung là thực hiện quyền lực nhà nước thì sẽ khái quát hơn.

b. Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

Đề nghị bổ sung thêm từ “công chức” vào nội dung Điều 8, vì những người làm việc trong bộ máy nhà nước không chỉ có cán bộ, viên chức mà còn có cả công chức. Việt Nam đã ban hành Luật Cán bộ, công chức (13/11/2008) và Luật Viên chức (15/11/2010) trong đó đã có sự phân biệt cán bộ, công chức với viên chức nhà nước. Do vậy, Điều 8 sẽ được quy định như sau: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”.

4) Về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước

Trong Hiến pháp cũ chỉ quy định ở Điều 6 về nguyên tắc tập trung dân chủ, còn các nguyên tắc khác đều được quy định với phương thức biểu hiện khác nên có nhiều người cho rằng các cơ quan nhà nước chỉ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Để tránh hiểu nhầm, chúng tôi cho rằng, hoặc là quy định tên tất cả các nguyên tắc hoặc là không nên quy định cụ thể tên nguyên tắc nào cả. Tốt nhất là không nên quy định tên cụ thể của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Bởi các nguyên tắc này cũng thay đổi theo thời gian và chúng được thể hiện thông qua toàn bộ các quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Chẳng hạn, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trước đây không được quy định trong Hiến pháp; các nguyên tắc như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp… đều được thể hiện ở hầu hết nội dung các quy định của Hiến pháp liên quan đến tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước.

5) Các quy định xác định mối quan hệ của Nhà nước với các tổ chức khác trong xã hội (với Đảng Cộng sản, với các tổ chức khác).

a. Về hệ thống chính trị ở Việt Nam

Có thể khẳng định rằng, những năm tới ở Việt Nam cũng vẫn chỉ có một đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong điều kiện chỉ có một đảng, không có đảng đối lập, và như vậy, cũng không có lực lượng đối lập trong Quốc hội, thì rất dễ dẫn đến tình trạng hoạt động xuôi chiều. Xu hướng phát triển tất yếu là xã hội sẽ ngày càng dân chủ hơn, hệ thống chính trị cũng sẽ ngày càng dân chủ hơn và tất yếu xã hội dân sự sẽ phải được củng cố và phát triển. Trong quá trình dân chủ hóa đời sống nhà nước và xã hội, tất yếu sẽ xuất hiện và hình thành các tổ chức thuộc xã hội dân sự (các tổ chức, thiết chế xã hội tự nguỵên, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý, hoạt động  không vì mục đích chính trị (hoạt động nhằm giành, nắm giữ, lãnh đạo và thực hiện quyền lực nhà nước), không vì mục đích lợi nhuận (hoạt động vì lợi ích kinh tế, vì lợi nhuận) cùng tự nguyện tham gia vào các hoạt động vì những giá trị, mục tiêu, lợi ích chung của cộng đồng, xã hội... Các tổ chức thuộc xã hội dân sự sẽ một mặt hỗ trợ cho Nhà nước trong việc đưa ra và thực hiện các chính sách phát triển đất nước, mặt khác cũng có thể thực hiện việc kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước, tư vấn cho các cơ quan nhà nước, can gián các cơ quan nhà nước, thậm chí phản đối các cơ quan nhà nước trong những trường hợp vì những lý do nào đó mà họ có những việc làm có thể gây tổn hại đến lợi ích chung của cộng đồng, của cả xã hội. Vì vậy, không nên thể chế hóa tất cả các tổ chức phi nhà nước vào Hiến pháp như hiện nay, mà nên chỉ tập trung vào hai tổ chức quan trọng là Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điều đó góp phần củng cố, nâng cao vị thế của các tổ chức phi nhà nước, làm cho hệ thống chính trị không bị nhà nước hóa, hành chính hóa trong quá trình vận hành.  Đồng thời cũng tránh được hiện tượng lấn át của Nhà nước đối với các tổ chức phi nhà nước, tạo ra sự cân bằng làm nền tảng cho sự phát triển xã hội bền vững.

b. Về mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng Cộng sản Việt Nam 

Thiết nghĩ, trong Hiến pháp sửa đổi nên bỏ đoạn: “Đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Việc bỏ đoạn trên có những lý do sau:

Thứ nhất, việc quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (của ai, đại diện cho ai) điều này thuộc nhiệm vụ của Điều lệ Đảng, được quy định trong Điều lệ của Đảng, đó không phải nhiệm vụ của Hiến pháp, không phải việc của Nhà nước. Nếu quy định như trên tức là Hiến pháp đã làm thay Điều lệ của Đảng.

Thứ hai, do sự phát triển của tình hình chính trị trong và ngoài nước, những quy định trên trong Điều lệ Đảng có thể thay đổi. Chẳng hạn, trong Văn kiện đại hội Đảng lần thứ X đã xác định lại là “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Do vậy, nếu quy định như cũ thì có thể dẫn đến tình trạng mỗi khi Đảng sửa đổi Điều lệ thì Nhà nước lại phải sửa đổi Hiến pháp.  

Vì thế, Hiến pháp sửa đổi chỉ cần quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng và các cá nhân đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Việc quy định như vậy đã đạt được mục đích là củng cố cơ sở pháp lý và hợp pháp hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Đồng thời cũng thể hiện sự gương mẫu của các tổ chức của Đảng và các cá nhân đảng viên trong việc tôn trọng và thực hiện Hiến pháp và pháp luật, tránh được hiện tượng các tổ chức của Đảng và một số cá nhân đảng viên xem nhẹ vai trò của Hiến pháp và pháp luật.

c. Về mối quan hệ của Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức khác trong xã hội

Trong Hiến pháp sửa đổi cũng không nên xác định Mặt trận là ai, của ai, và làm gì, vì những điều đó cũng đã được Điều lệ của Mặt trận quy định. Nếu Hiến pháp quy định quá chi tiết, cụ thể như hiện nay, vô hình chung, Hiến pháp đã làm thay nhiệm vụ của Điều lệ Mặt trận, dễ dẫn đến tình trạng vênh nhau giữa Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc với Hiến pháp và nếu Điều lệ của Mặt trận sửa đổi thì có thể lại phải sửa đổi Hiến pháp. Do vậy, trong Hiến pháp chỉ cần quy định Nhà nước thừa nhận sự tồn tại và hoạt động của Mặt trân Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác trong đất nước. Ngoài ra còn xác định mối quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận và các tổ chức xã hội khác là như thế nào. Như vậy, sẽ tiện cho việc tổ chức và hoạt động của Mặt trận cũng như của Nhà nước. Hiến pháp sửa đổi chỉ cần quy định ngắn gọn: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác hoạt động có hiệu quả”.

d. Về tổ chức Công đoàn và các tổ chức xã hội khác

 Đối với tổ chức Công đoàn và các tổ chức xã hội khác, không nên có quy định trong Hiến pháp sửa đổi vì những lý do sau:

- Hiến pháp quy định về tổ chức Công đoàn mà không quy định về các tổ chức khác thì không toàn diện và không bao quát hết các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xã hội Việt Nam hiện nay. Còn nếu Hiến pháp quy định về tất cả những tổ chức thì nội dung của Hiến pháp lại quá nhiều, quá cồng kềnh, không đúng với tư cách là luật cơ bản.

- Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong mối quan hệ với Nhà nước sẽ được quy định bằng những đạo luật thông thường mà không cần phải quy định trong Hiến pháp.

Tóm lại, Chương I Hiến pháp chỉ nên tập trung quy định về chính thể Nhà nước. Đối với các tổ chức phi nhà nước (Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội khác) thì Nhà nước chỉ nên xác định địa vị pháp lý của mỗi tổ chức, mối quan hệ pháp lý cơ bản giữa Nhà nước với các tổ chức đó. Không nên quy định (có tính chất can thiệp) quá sâu vào những vấn đề thuộc nội bộ của các tổ chức, Hiến pháp không nên làm thay Điều lệ của mỗi tổ chức. Bởi như vậy, mỗi khi có những biến đổi, Điều lệ của một tổ chức nào đó thay đổi thì Nhà nước lại phải sửa đổi Hiến pháp.

Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước - một văn bản luật không chỉ có hiệu lực pháp lý cao nhất mà còn phải là một văn bản mẫu mực về kỹ thuật lập pháp, tồn tại trong một thời gian khá dài, nên các quy định cần phải được thể hiện ngắn, gọn, súc tích, dễ hiểu.


(1) Xem, Nguyễn Minh Đoan, Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước trong hiến pháp sửa đổi, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp tháng 8/2011.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tr.247.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi