Các quy phạm hiến định về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền

§1. Thực trạng của các quy định có liên quan đến việc tổ chức quyền tư pháp trong Hiến pháp năm 1992 hiện nay     

1. Các quy định về hệ thống Tòa án nhân dân (TAND) và hệ thống Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong Hiến pháp năm 1992 được điều chỉnh bởi Chương IX gồm 15 Điều (128 - 141). Việc phân tích các quy định này cho thấy, các nhóm vấn đề cần được điều chỉnh về mặt hiến định đối với 2 hệ thống cơ quan này còn chưa đầy đủthiếu sự nhất quán về mặt logic pháp lý hoặc không có sự tuân thủ trình tự một cách khoa học (như: Nhiệm vụ của TAND và VKSND - địa vị pháp lý của Thẩm phán (TP) - những nguyên tắc cơ bản của hệ thống Tòa án, v.v...), mà cụ thể là:

1.1. Nội dung về địa vị pháp lý của Chánh án TANDTC bị phân tán, ghi nhận rải rác tại hai điều (Điều 128 và Điều 135), đồng thời bị tách ra thành hai nơi giữa các nhóm vấn đề khác nhau - nằm giữa năm điều về những nguyên tắc cơ bản của tố tụng tư pháp (từ Điều 129 đến Điều 133), rồi lại địa vị pháp lý của TANDTC (Điều 134).

1.2. Địa vị pháp lý của hệ thống Tòa án (TA) thì có (Điều 127) nhưng của hệ thống VKS thì lại không có.

1.3. Ngược lại, những thẩm quyền của hệ thống Viện kiểm sát (VKS) thì có (Điều 137) nhưng của hệ thống Tòa án lại không có.

1.4. Ghi nhận tại cùng một điều nhiều nội dung khác nhau - vừa về tổ chức - hoạt động của hệ thống VKS, lại vừa về địa vị pháp lý của Kiểm sát viên (KSV); v.v...      

2. Nhận xét chung về thực trạng tổ chức quyền tư pháp (QTP) ở Việt Nam hiện nay. Từ sự phân tích thực trạng của các quy phạm hiến định nêu trên, chúng ta có thể đi đến một số nhận xét chung trên 3 bình diện như sau:

2.1. Về mặt lập pháp, trong hệ thống các VBPL hiện hành ở Việt Nam đã ghi nhận những căn cứ pháp lý cho cơ chế giám sát của nhánh quyền lập pháp (QLP) đối với hai nhánh quyền lực khác (quyền hành pháp - QHP và quyền tư pháp - QTP), chứ hoàn toàn chưa thể gọi là cơ chế kiểm soát quyền lực (KSQL) nhµ n­íc bằng quyền lực công đúng với nghĩa đích thực của nó, vì theo Hiến pháp năm 1992 hiện hành thì “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (khoản 4 Điều 83) nên rõ ràng là trong việc tổ chức bộ máy quyền lực (BMQL) hiện nay ở nước ta không hề có cơ chế KSQL nhà nước đích thực (nói chung) như ở các nhà nước pháp quyền (NNPQ).

2.2. Về mặt thực tiễn, cũng không thể có được mối quan hệ hữu cơ của cơ chế KSQL nhà nước giữa các nhánh quyền lực nhà nước (mà bản chất pháp lý của mối quan hệ này là thiết lập được sự hài hòa, sựtương hỗ qua lại và tính biện chứng giữa các nhánh quyền lực đó trong nhà nước như đã phân tích trên đâynên về cơ bản, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có sự kiểm tra - giám sát một chiều (từ phía chủ thể là nhánh QLP và đôi khi là nhánh QHP đối với khách thể là nhánh QTP). Chính vì vậy, các Đại hội Đảng lần thứ X (2006) và XI (2011) vừa qua, đã đưa ra những luận điểm mang tính chỉ đạo rất tiến bộ và dân chủ về việc “Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp” và“Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thiết chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

2.3. Và cuối cùng, về mặt lý luận, dưới góc độ khoa học pháp lý - KHPL (bao gồm cả lý luận về NNPQ) một khi đã không có cơ chế KSQL nhà nước nói chung (trong đó bao gồm cả cơ chế KSQL lập pháp), thì rõ ràng là hoàn toàn không phù hợp với những đòi hỏi (yêu cầu) của một NNPQ đích thực vì quan điểm được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và cũng là của tất cả các luật gia tiến bộ trên thế giới - NNPQ phải là nhà nước mà trong đó quyền lực và chính trị phải bị kiểm soát bởi pháp luật (đúng như cách diễn đạt của nhà triết học Đức nổi tiếng I.Kant). Bởi lẽ, trong NNPQ không thể có tình trạng một cơ quan nào đó trong BMQL nhà nước “vừa đá bóng - vừa thổi còi” vì một khi đã là NNPQ đích thực thì điều kiện đầu tiên và tiên quyết là không thể có bất kỳ một cơ quan - tổ chức - nhóm người hoặc cá nhân người có chức vụ nào có thể đứng trên - đứng ngoài pháp luật hay được phép tự cho mình có “quyền lực cao nhất”, “quyền giám sát tối cao” hoặc tự quy định cho mình bất kỳ thẩm quyền nào.

§2. Các quy định có liên quan đến hệ thống Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp của giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam

1. Chúng tôi đề xuất ba Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (HPSĐ) trong giai đoạn xây dựng NNPQ Việt Nam

Như vậy, từ sự phân tích trên đây cho thấy, để các luận điểm mang tính chất chỉ đạo rất tiến bộ và dân chủ của các Đại hội Đảng X và XI về xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp (BVHP) bằng nhánh QTP chính là tạo nên cơ chế KSQL nhà nước hữu hiệu và tích cực nhất. Chính vì vậy, xuất phát từ sự phát triển của các quy luật khách quan và tất yếu của các quan hệ xã hội đang tồn tại trong xã hội Việt Nam đương đại, cũng như những điều kiện cụ thể (về chính trị - pháp lý, kinh tế - xã hội, tâm lý - đạo đức, văn hóa - lịch sử, v.v...) nên chúng tôi đã cố gắng suy ngẫm kỹ và đã xây dựng 3 Dự thảo Hiến pháp sửa đổi (HPSĐ) mà trong các Dự thảo HPSĐ này đều coi hệ thống VKSND là một hệ thống cơ quan độc lâp - thống nhất từ Trung ương xuống các địa phương và đều có Phần V “Những cơ sở hiến định về quyền tư pháp”, đồng thời chúng tôi cũng đã gửi đến Ban biên tập thuộc UBDTSĐHP (qua đ/c Trưởng Ban, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, GS.TS Phan Trung Lý trên cơ sở đặt hàng) (1), cụ thể là:     

1.1. Dự thảo I HPSĐ gồm Phần, 39 Chương và 159 Điều với hai phương án (1+2) về tổ chức BMQL nhà nước theo mô hình ba nhánh truyền thống (QLP, QHP và QTP) trên cơ sở tham khảo các Hiến pháp của các nước thuộc hệ thống thông luật (hay còn gọi là hệ thống pháp luật án lệ hay hệ thống pháp luật Ănglô-Xácxông). Theo Dự thảo HPSĐ này thì hệ thống VKSND thuộc nhánh quyền hành pháp và có một số đặc điểm sau (XemPhụ lục 1-1):

1) Tuy “chuyển thành Viện công tố” (VCT) theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW (tức là thuộc QHP), song sẽ là hợp lý nếu hệ thống VCT là độc lập, thống nhất từ Trung ương xuống các địa phương và cùng với 4 cơ cấu (Bộ) “sức mạnh” khác thuộc QHP như: Ủy ban

Điều tra TW (trên cơ sở chuyển tất cả các cơ quan điều tra hình sự ra khỏi các Bộ, Ngành để bảo đảm việc “tiến tới tổ chức lại các cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối” đúng như tinh thần Nghị quyết số 49/NQ- TW của Bộ Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, Bộ Công an, Tổng thanh tra Nhà nước (trên cơ sở tổ chức lại Thanh tra Chính phủ hiện nay) và Bộ Tư pháp (1+ Bộ Quốc phòng (2+Bộ ngoại giao (3) nên và cân phải thuộc sự điều hành trực tiếp của Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của đất nước, nguyên thủ quốc gia và là người đứng đầu nhánh QHP - Chủ tịch Nước (mà không phải là Thủ tướng) - để bảo đảm tính khách quan và tăng cường hơn nữa của cuộc đấu tranh với “quốc nạn” tham nhũng; vì cả hệ thống cơ quan hành pháp này (bao gồm 4 cơ quan công quyên thuộc các cơ cấu (Bộ) “sức mạnh” chuyên trách bảo vệ pháp luật (BVPL) đã nêu + cơ cấu quốc phòng + cơ cấu ngoại giao) về nguyên tắc là không liên quan gì đến tiền bạc, đất đai, tài nguyên, thương mại, v.v...của đất nước.

2) Còn Thủ tướng với tư cách là người đứng đầu Chính phủ chỉ nên quản lý các Bộ và các cơ cấu về kinh tế, tập trung nhiều thời gian hơn nữa vào việc trực tiếp điều   hành nền kinh tế vĩ mô để nâng cao tiềm năng kinh tế của đất nước, làm cho Việt Nam thoát khỏi danh sách các quốc gia nghèo của thế giới và “nhân dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (như ước nguyện của Bác Hồ đã nói), vì hiện nay ở nước ta vẫn còn rất nhiều gia đình (nhất là ở các tỉnh thuộc vùng sâu - vùng xa) thuộc diện nghèo, không có tiền chữa bệnh và cho con em đi học).

1.2. Dự thảo II HPSĐ gồm Phần, 38 (hoặc 40) Chương và 158 (hoặc 163) Điều với hai phương án (3+4) về tổ chức BMQL nhà nước theo mô hình ba nhánh truyền thống (QLP, QHP và QTP) trên cơ sở tham khảo các Hiến pháp của các nước thuộc hệ thống dân luật (còn gọi là hệ thống pháp luật Châu lục địa). Theo Dự thảo II HPSĐ này thì hệ thống VKS thuộc nhánh quyền tư pháp (như Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005) bên cạnh 2 cơ cấu tổ chức khác thuộc nhành quyền lực thứ ba này là: 1) Hệ thống TAND (tức là hệ thống Tòa án thẩm quyền chung) và[ 2) Tòa án Hiến pháp (chỉ thành lập một cấp ở TW song sông với TANDTC).

1.3.  Dự thảo III HPSĐ (gồm Phần, 43 Chương và 167 Điều) với hai phương án về tổ chức BMQL nhà nước theo mô hình bốn nhánh (ngoài 3 nhánh quyền lực truyền thống là QLP, QHP, QTP, còn tổ chức thêm nhánh quyền lực độc lập thứ tư là quyền kiểm tra và giám sát (gọi tắt là quyền kiểm sát - QKStrên cơ sở kết hợp sự tham khảo các Hiến pháp của các nước thuộc hệ thống thông luậtdân luật và pháp luật XHCN cũ.

Thông tin để suy ngẫm: Trong số các nhà khoa học-luật gia quốc tế nổi tiếng thế giới mà chúng tôi đã có dịp gặp và trao đổi trực tiếp, có cả GS luật học M.C.Bassouni (năm nay 64 tuổi), nhà hoạt động khoa học nổi tiếng của Italia, Chủ tịch Viện NCKH hình sự cao cấp quốc tế của đất nước này, Chủ tịch Ủy ban điều tra các xung đột vũ trang của Liên hợp quốc, tác giả của gần 300 công trình khoa học (trong đó có 82 sách). Ông là người đã chứng kiến tận nơi nhiều cuộc xung đột vũ trang ở các nước Châu Á, Châu Phi và Trung Đông, đồng thời do đã có rất nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ nền hòa bình thế giới và các quyền con người nên đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng hòa bình Nôben năm 1999. Chính vị GS luật học nổi tiếng này trong cuộc gặp và đàm đạo trực tiếp với chúng tôi khi xem phương án tổ chức BMQL nhà nước có thêmnhánh quyền lực độc lập thứ tư (quyền kiểm sát) - mà chúng tôi đưa ra trao đổi ý kiến đã chân thành nhận xét rằng, chính việc tổ chức BMQL theo mô hình bốn nhánh là phù hợp với truyền thống và những điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam hơn cả, vì phương án này sẽ góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng (PCTN) hiệu quả nhất khi có sự hiện diện của hệ thống VKSND với chức năng kiểm sát chung (KSC) nhưng không phải là để hạn chế tính năng động của các doanh nghiệp như thời kỳ trước năm 2001, mà phải và chỉ tập trung hướng KSC vào hoạt động đấu tranh PCTN như mô hình hệ thống VKSND của Trung Quốc). Đồng thời tại phiên họp ngày 08/11/2011 của Tổ biên tập các quy định về các CQTP trong HPSĐ (Tổ 5) thuộc Ban biên tập của Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, khi trao đổi với chúng tôi GS.TS Trần Ngọc Đường - nhà lập pháp hàng đầu của Việt Nam (nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội khóa XI) cũng có ý kiến nhất trí với phương án coi hệ thống VKSND là một hệ thống các cơ quan độc lập trong BMQL nhà nước từ TW xuống các địa phương và cần được tổ chức trên cơ sở một đạo luật riêng biệt.           

2. Suy ngẫm về hệ thống VKSND trong các Dự thảo HPSĐ. Nói chung Dự thảo III HPSĐ so với Dự thảoII HPSĐ về cơ bản không khác nhau nhiều (vì nó vẫn giữ nguyên tất cả các Chương và Điều của Dự thảo IIHPSĐ), chỉ khác là hệ thống VKS được tách riêng thành Phần VI “Những cơ sở hiến định của quyền kiểm sát” (gọi đầy đủ và chính xác phải là quyền kiểm tra và giám sátvới tư cách là một nhánh quyền lực nhà nước độc lập thứ tư (gồm 3 Chương với 6 Điều). Việc tổ chức VKSND có một số đặc điểm như sau:

2.1. Một khi đã tổ chức thêm nhánh quyền lực thứ tư (QKS) rồi, theo quan điểm được thừa nhận chung về sự phân công quyền lực thì sẽ có căn cứ và bảo đảm sức thuyết phục khi việc chuyên trách chức năng PCTN cần phải là thẩm quyền VKS với tư cách là cơ quan đứng dầu trong hệ thống các cơ quan BVPL để chỉ đạo và phối hợp hoạt động của tất cả các cơ quan BVPL trong đất nước (như: Bộ Công an, Bộ Tư pháp,Ủy ban Điều tra TW). Như vậy, lúc này sẽ là hợp lý nếu như bộ máy Thanh tra của Chính phủ sẽ được sắp xếp lại theo một trong hai phương án tổ chức như sau:

1) Nếu vẫn thuộc QHP thì sẽ chuyển thành Tổng Thanh tra Nhà nước và cùng với các cơ cấu (Bộ) “sức mạnh” (như Bộ CA, Bộ Tư pháp và Ủy ban Điều tra TW) + Bộ Quốc phòng + Bộ ngoại giao, nằm dưới sự điều hành trực tiếp của Chủ tịch Nước (như trong Dự thảo I HPSĐ).

2) Có thể chuyển sang nhánh QLP để tổ chức thành Tổng Thanh tra về nhân quyền (hoặc là Cao ủy về quyền công dân) và trực thuộc Quốc hội (như Tổng Kiểm toán Nhà nước). Vì vậy, việc chuyển chức năng theo dõi các công việc về nhân quyền từ nhánh QHP hiện nay (trong cơ cấu Văn phòng Chính phủ) sang nhánh QLP để Quốc hội theo dõi là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật chung của các NNPQ trên thế giới.

2.2. Bản chất pháp lý-xã hội của việc tổ chức BMQL nhà nước Việt Nam theo mô hình bốn nhánh trong giai đoạn xây dựng NNPQ hiện nay có thể được lý giải như sau:

1) Thực tiễn tổ chức BMQL nhà nước ở Việt Nam hơn 50 năm qua (kể từ khi Hiến pháp năm 1959 ra đời đến nay) đã minh chứng một cách khách quan, có căn cứ và bảo đảm sức thuyết phục rằng, sự cần thiết của việc coi hệ thống VKSND Việt Nam là thuộc một nhánh quyền lực nhà nước độc lập thứ tư (QKS) là nhằm mục đích tăng cường hơn nữa hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng chống tham nhũng ở nước ta.

2) Nếu theo học thuyết về tổ chức BMQL nhà nước từ nhiều thế kỷ trước (mà những người đại diện nổi tiếng là J.Lốccơ, S.Mônteckiơ, v.v...) thì chỉ có ba nhánh quyền lực truyền thống là QLP, QHP và QTP, nhưng từ thế kỷ XVII ở nước Nga trước Cách mạng XHCN tháng 10 Năm 1917 dưới thời đại cầm quyền của Hoàng đế Pie đệ nhất thì VKS được coi là “con mắt của Sa hoàng”.

3) Tuy nhiên, từ sau Cách mạng XHCN tháng 10 năm 1917 ở nước Nga đến nay thì: Trong quá trình tổ chức BMQL nhà nước, đầu tiên là ở nước Cộng hóa XHCN Xô Viết Liên bang Nga, rồi toàn Liên Xô cũ và sau đó, ở tất cả các nước XHCN (trong đó có Việt Nam) thì VKS là một hệ thống các cơ quan nhà nước độc lập và thống nhất do cơ quan lập pháp cao nhất (Quốc hội) thành lập từ TW xuống các địa phương; Trong Hiến pháp năm 1993 hiện hành của NNPQ dân chủ LB Nga thì các quy định về hệ thống VKS được xếp trong cùng một Chương về quyền tư pháp cùng với hệ thống các cơ quan tư pháp là Tòa án Hiến pháp và hệ thống Tòa án thẩm quyền chung và, hiện nay VKS Nga vẫn tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát chung; Tại Trung Quốc để tăng cường hiệu quả của cuộc đấu tranh với các tội phạm về tham nhũng, thì đã có hệ thống VKSND trực tiếp điều tra và truy tố trước pháp luật những người phạm loại tội này. 

4) Thực tiễn cuộc đấu tranh PCTN ở Việt Nam trong một thập kỷ qua đã cho thấy, kể từ sau khi Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi lần thứ nhất vào năm 2001) bỏ chức năng kiểm sát chung của hệ thống VKSND đến nay, thì tình trạng tham nhũng trong bộ máy công quyền đất nước ngày càng diễn biến phức tạp (vì trước đây khi còn chức năng kiểm sát chung mà nếu phát hiện thấy có dấu hiệu tham nhũng trong hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) của một cán bộ nào đó, thì VKSND có thể khởi tố vụ án hình sự ngay. Còn các cơ quan Thanh tra chưa tích cực phát huy hết hiệu quả trong hoạt động, năng lực của đội ngũ cán bộ các cơ quan này thì yếu kém, thậm chí một số các cán bộ từ cấp Vụ trở lên trong bộ máy này cũng dần dần suy thoái phẩm chất đạo đức rồi phạm tội và bị khởi tố về hình sự do có liên quan đến những vấn đề về tiền bạc, tài chính, đất đai, v.v...).

5) Hơn nữa, cơ chế thanh tra chung chung như hiện nay vẫn còn có kẻ hở cho sự tùy tiện vì khi thanh tra việc chấp hành pháp luật mà phát hiện thấy có dấu hiệu tham nhũng trong hành vi VPPL của cán bộ nào đó thì sẽ có 2 khả năng xảy ra: a) Nếu Thanh tra viên không có tâm và đức trong thực thi công vụ vì sự nghiệp BVPL hay  tiêu cực, thì có thể bao che cho VPPL ấy bằng cách lờ đi hay cùng lắm chỉ coi là VPPL “hành chính” hoặc “chỉ đến mức xử lý kỷ luật” để người vi phạm không bị xử lý về hình sự hoặc là; b) Nếu Thanh tra viên  tâm và đức trong thực thi công vụ vì sự nghiệp BVPL và không tiêu cực, thì sẽ đề nghị chuyển hồ sơ vụ việc đã thanh tra cho cơ quan Điều tra để khởi tố vụ án hình sự (tuy nhiên, trong trường hợp thứ hai thì vụ án hình sự vẫn khó mà khởi tố được nếu như phẩm chất của Điều tra viên cũng giống như phẩm chất của Thanh tra viên trong trường hợp thứ nhất).

    6) Chính vì vậy, nếu như Quốc hội Việt Nam vẫn tiếp tục thừa kế truyền   thống tổ chức BMQL nhà nước hơn nửa thế kỷ qua (kể từ Hiến pháp năm 1959 là thời điểm mà chúng ta coi hệ thống VKSND là một hệ thống các cơ quan độc lập - thống nhất trong BMQL nhà nước từ Trung ương xuống các địa phương) để ghi nhận các quy định về quyền kiểm sát với tư cách là một nhánh quyền lực độc lập thứ tư, thì nên chăng các nhà luật học của Tổ quốc cũng cần tiếp tục nghiên cứu để xây dựng các phương án khác nhau về tổ chức BMQL nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở tham khảo mô hình một số NNPQ (thuộc hệ thống pháp luật XHCNcũ) với sự kết hợp một số yếu tố của các phương án thuộc mô hình các NNPQ (thuộc hệ thống thông luậthoặc hệ thống dân luật) để từ đó lựa chọn một phương án tối ưu và khả thi nhất và ghi nhận vào Hiến pháp (sửa đổi lần thứ hai).

3. Những kiến giải lập hiến cụ thể đối với các quy định về QTP trong Dự thảo II HPSĐ.

Theo như tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị thì hiện nay hệ thống VKS vẫn thuộc nhánh QTP và Nhóm biên tập các quy định về hệ thống VKSND (do TS Lê Hữu Thể) phụ trách trong Tổ vẫn định hướng theo tinh thần đó nên từ các nghiên cứu trên, chúng tôi đã đưa ra thảo luận tại các phiên họp của Tổ 5những kiến giải lập hiến (KGLH) cụ thể do chúng tôi đề xuất đối với các quy định của Phần V Những cơ sở hiến định về quyền tư pháp” (trong đó TAHP và TANDTC chỉ là 2 điều thuộc Chương “Hệ thống Tòa án”) củaDự thảo II HPSĐ như sau:

3.1. Phương án thứ nhất (chỉ gồm 2 Chương với 7 Điều và trước mỗi Điều có ký hiệu là một chấm đen l) khi coi hệ thống VKSND không thuộc nhánh quyền lực thứ ba-QTP (tức là thuộc nhánh QHP hoặc là chính nhánh quyền lực thứ tư - QKS) và như vậy, hệ thống tư pháp + các cơ quan tư pháp (CQTP) được hiểu theo nghĩa hẹp (chỉ có Tòa án), mà cụ thể là: 1) Chương về các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp gồm 2Điều đề cập đến những nguyên tắc cơ bản của QTP và các CQTP; 2) Chương về hệ thống Tòa án gồm 5Điều đề cập đến địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống Tòa án, những nguyên tắc cơ bản về tố tụng tư pháp của hệ thống Tòa án, địa vị pháp lý của Thẩm phan ở Việt Nam, TAHP và TANDTC.

3.2. Phương án thứ hai (gồm 3 Chương với 10 Điều và trước mỗi Điều có ký hiệu là hai chấm đen l l) -ngược lại, khi coi hệ thống VKS cũng thuộc nhánh QTP (như tinh thần hiện nay của Nghị quyết số 49-NQ/TW), mà cụ thể là: 1) 2 Chương đầu tiên (gồm 7 Điều như Phương án thú nhất trên); 2) Có thêm một Chương nữa về hệ thống VKSND gồm 3 Điều đề cập đến địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống VKS, những nguyên tắc cơ bản về tố tụng tư pháp của hệ thống VKS và, địa vị pháp lý của Kiểm sát viên ở Việt Nam.

“Phần V

Những cơ sở hiến định của quyền tư pháp

Chương 27

Các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp (Hai phương án) 

Phương án thứ nhất (Theo hướng hệ thống VKS không thuộc nhánh QTP và như vậy, các CQTP chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp - chỉ có các cơ quan Tòa án):

Điều.... Những nguyên tắc cơ bản của quyền tư­ pháp

1. Quyền tư­ pháp ở Việt Nam chỉ do các Tòa án thực hiện.

2. Những nguyên tắc cơ bản của quyền t­ư pháp ở Việt Nam là;

a) Quyền tư­ pháp ở Việt Nam đư­ợc thực hiện bằng thủ tục tố tụng về về Hiến pháp, hình sự  phi hình sự(hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình).

b) Tôn trọng thực sự tính tối cao của chủ quyền của nhân dân so với chủ quyền của nhà nước trong hoạt động tư­ pháp để bảo đảm cho họat động t­ư pháp thực sự độc lập vì sự thực thi công lý, công bằng và lẽ phải trong một Nhà nư­ớc pháp quyền đích thực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

c) Tuân thủ nghiêm chỉnh tính pháp chế tối th­ượng và hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp, đồng thời độc lập chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện các chức năng, thẩm quyền được Hiến pháp và luật quy định đối với bộ mát tư pháp,.

d) Hợp tác cùng với bộ máy lập pháp, bộ máy hành pháp trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền của mỗi nhánh để bảo đảm cho cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực được thực thi một cách đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả cao trong các lĩnh vực hoạt động Nhà nước vì lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.

đ) Thực sự công tâm, vô tư­, khách quan và không đ­ược để cho bất kỳ sự thiên kiến chính trị hay sự tác động của cá nhân hay nhóm ngư­ời nào có thể làm ảnh h­ưởng đến hoạt động tố tụng tư­ pháp, cũng nh­ư sự kiểm tra của nhánh quyền tư­ pháp đối với nhánh quyền lập pháp và nhánh quyền hành pháp mà Hiến pháp và các Luật có liên quan quy định;

3. Các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia về tổ chức và hoạt động của bộ máy tư­ pháp ở Việt Nam phải tuyệt đối tuân thủ và dựa trên các nguyên cơ bản đ­ược ghi nhận tại khoản 1 Điều này.

lĐiều.... Các cơ quan t­ư pháp

1. Các cơ quan tư­ pháp ở Việt Nam tạo thành hệ thống Tòa án, bao gồm Tòa án Hiến pháp  và các Tòa án nhân dân.

2. Các cơ quan t­ư pháp là độc lập, chỉ tuân theo Hiến pháp, pháp luật và không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào.

3. Các cơ quan t­ư pháp trong phạm vi những thẩm quyền và chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ công lý, những cơ sở của chế độ hiến định, nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của cá nhân), các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như tính pháp chế tối thượng và hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp, các quy định của pháp luật, góp phần cùng cộng đồng quốc tế giữ gìn hòa bình và an ninh của nhân loại.

4. Chỉ có các cơ quan tư­ pháp mới có thẩm quyền giải quyết và đư­a ra phán quyết cuối cùng về mặt pháp lý đối với các vụ việc tố tụng về Hiến pháphình sự  phi hình sự.

5. Bất kỳ hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) nào nhằm cản trở, tác động hoặc gây ảnh hư­ởng đối với hoạt động của các cơ quan tư­ pháp đều là sự vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và phải bị xử lý nghiêm khắc theo luật định. 

lPhương án thứ hai (Nếu theo hướng coi hệ thống VKSND cũng thuộc nhánh quyền lực                                   thứ ba - QTP như tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005):

Điều.... Những nguyên tắc cơ bản của quyền tư­ pháp

Về cơ bản vẫn giữ nguyên như nội dung Điều này của • Phương án thứ nhất trên đây, chỉ bổ sung thêm từ “các Viện kiểm sát” vào khoản 1, mà cụ thể là:    

1. Quyền tư­ pháp ở Việt Nam do các Tòa án và các Viện kiểm sát thực hiện.

2. Những nguyên tắc cơ bản của quyền t­ư pháp ở Việt Nam là:

a) …………(Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

b) ………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

c) ………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

d) Hợp tác cùng với bộ máy lập pháp và bộ máy hành pháp trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền của mỗi nhánh để bảo đảm cho cơ chế phân công, kiểm tra và cân bằng giữa các quyền lực đ­ược thực thi một cách đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả cao trong các lĩnh vực hoạt động Nhà nư­ớc vì lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân.

3. Các quy định………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

Điều.... Các cơ quan t­ư pháp

Về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung các khoản 3-4 Điều này của Phương án I trên đây, chỉ có một số sửa đổi-bổ sung nhỏ nội dung các khoản 1-2 như sau:

1. Các cơ quan t­ư pháp ở Việt Nam bao gồm:

a) Các cơ quan tư pháp về xét xử tạo thành hệ thống Tòa án và;

b) Các cơ quan tư pháp về kiểm ra và giám sát tạo thành hệ thống Viện kiểm sát.

2. Chỉ có các cơ quan t­ư pháp về xét xử mới có thầm quyền giải quyết và đư­a ra phán quyết đối với các vụ việc tố tụng về Hiến pháp, hình sự và phi hình sự (hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình).

3. ………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

4. ………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

5. ………… (Như •Phương án thứ nhất nêu trên).

Ch­ương 30. Hệ thống Tòa án (Riêng Chương 30 này là có thể ghi nhận chung cho cả hai phương án - coi hệ thống VKS thuộc hay không thuộc nhánh QTP đều được cả):

Điều... Địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống Tòa án

1. Hệ thống Tòa án ở Việt Nam bao gồm TAHP  các TAND là những cơ quan xét xử của n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa(2)độc lập thực hiện quyền t­ư pháp theo những thẩm quyền t­ương ứng do Hiến pháp và các Luật tương ứng quy định.   

2. TAHP là cơ quan t­ư pháp duy nhất và cao nhất về Hiến pháp trong bộ máy quyền lực nhà nước Việt Nam độc lập thực hiện quyền tư­ pháp để bảo vệ Hiến pháp bằng hoạt động tố tụng về Hiến pháp. TAHP chỉ được tổ chức một cấp duy nhất ở Trung ương.

 3. Các TAND là các cơ quan tư pháp thẩm quyền chung trong bộ máy quyền lực nhà nư­ớc, độc lập thực hiện quyền tư­ pháp bằng hoạt động tố tụng về hình sự  phi hình sự (hành chính, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình). Hệ thống TAND đ­ược tổ chức theo bốn cấp từ dưới các địa phương (vùng, khu vực và miền) đến TW như sau:

a) Các Tòa án đệ Nhất cấp ở các khu vực(3);        

b) Các Tòa án đệ Nhị cấp ở các vùng(4);

c) Các Tòa án đệ Tam cấp các miền (5)và;

d) Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) ở Trung ương (TW)

4. Việc thành lập các Tòa án quân sự các cấp do Luật Về hệ thống Tòa án nhân dân Việt Namquy định.  

5. Không được thành lập các Tòa án đặc biệt.

Điều ... Những nguyên tắc cơ bản về tố tụng tư pháp của hệ thống Tòa án

1. Tố tụng tư­ pháp của hệ thống Tòa án ở Việt Nam phải tuyệt đối tuân thủ nghiêm chỉnh những nguyên tắc cơ bản sau đây:

a) Thẩm phán và Hội thẩm bình đẳng, độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật;

b) Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số;

c) Tòa án xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; 

d) Việc xét xử đ­ược tiến hành bằng miệng, trực tiếp và liên tục;

đ) Bảo đảm tính pháp chế tối thư­ợng của hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp;

e) Bảo đảm quyền tự do sử dụng tiếng nói, chữ viết dân tộc đối với ngư­­ời không biết ngôn ngữ tiến hành tố tụng;

f) Bảo đảm sự tranh tụng dân chủ của các bên tham gia tố tụng;

g) Bảo đảm quyền bình đẳng tr­­ước pháp luật và Tòa án của các bên tham gia tố tụng.  

h) Bảo đảm quyền có luật sư­ bào chữa hoặc quyền tự bào chữa của ng­ười bị buộc tội trong tố tụng hình sự, cũng nh­ư quyền có luật s­ư bảo vệ hoặc quyền tự bảo vệ của các bên trong tố tụng phi hình sự.

i) Nghiêm cấm bất kỳ hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) nào nhằm cản trở, tác động hoặc gây ảnh h­ưởng đối với hoạt động tố tụng của các Tòa án.   

2. Các quy phạm và những nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế về tố tụng

t­ư pháp là bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia Việt Nam về tố tụng tư­ pháp.

3. Phán quyết (bản án hoặc quyết định) do Tòa án tuyên đối với vụ việc tương ứng nếu đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên giá tri bắt buộc trên phạm vi cả nước và phải được tất cả các pháp nhân và thể

nhân tôn trọng; cũng như phải được chấp hành nghiêm chỉnh bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ hoặc công dân nào có liên quan.

4. Những cơ sở pháp lý của việc tổ chức, những thẩm quyền và các đặc điểm hoạt động của hệ thống Tòa án ở Việt Nam do các Luật tương ứng quy định.  

5. Trong khi thực hiện hoạt động tố tụng đối với những vấn đề Hiến pháp, hình sự và phi hình sự thuộc thẩm quyền của mình, các Tòa án ở Việt Nam có quyền viện dẫn trực tiếp các quy định của Hiến pháp,

Điều.... Địa vị pháp lý của Thẩm phán ở Việt Nam * Phương án 1 (tất cả các Thẩm phán TAND và TAHP được bổ nhiệm theo các nhiệm kỳ khác nhau tương ứng với 4 cấp TAND và một cấp ở TW của TAHP nêu tại các khoản 1-3 dưới đây):

1. Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 25, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ Đại học Luật và thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến(6) pháp luật từ 5 năm trở lên có thể được các cử tri địa phương bầu (đối với khu vực  vùng) hoặc được Chủ tịch nước bổ nhiệm (đối với miền) làm Thẩm phán TAND theo đề nghị của Chánh án TANDTC với nhiệm kỳ tương ứng với mỗi cấp (khu vưc, vùng hoặc miền) như sau:

a) Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án đệ nhất cấp ở các khu vực  5 năm và người được bầu phải có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật;   

b) Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án đệ nhị cấp ở các vùng  8 năm và người được bầu phải có thâm niên công tác từ 8 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật;

c) Nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án đệ tam cấp ở các miền  12 năm và người được Chủ tịch nước bổ nhiệm phải có thâm niên công tác từ 12 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật.

2. Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 40, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ Đại học Luậtchính quy, có thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 15 năm trở lên,  trình độ chuyên môn giỏi về luật học có thể được Chủ tịch nước đề nghị Thượng nghi viện(7) phê duyệt để bổ nhiệm làm Thẩm phán TANDTC theo quy định của pháp luật. Nhiệm kỳ của Thẩm phán TANDTC là 15 năm.

3. Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 40, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ Đại học Luậtchính quy, có thâm niên công tác trong Ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 15 năm trở lên, được thừa nhận chung trong giới luật học của đất nước là có trình độ chuyên môn giỏi về luật học có thể được Chủ tịch nước giới thiệu để Thượng nghi viện(8) bổ nhiệm làm Thẩm phán TAHP theo quy định của pháp luật. Nhiệm kỳ của Thẩm phán TAHP là 15 năm.

* Phương án 2 (Ghi nhận theo hướng tất cả các tiêu chí để được bổ nhiệm cũng quy định giống như Phương án 1, nhưng riêng tiêu chí về nhiệm kỳ thì không phân biệt mà đều quy định giống như nhau là tất cả các Thẩm phán TAND và TAHP đều được bổ nhiệm suốt đời).

4. Ngoài các tiêu chuẩn hiến định nêu tại các khoản 1 - 3 Điều này, Luật Về địa vị pháp lý của các Thẩm phán ở Việt Nam” có thể quy định bổ sung một số tiêu chuẩn tương ứng đối với các Thẩm phán các Tòa án mỗi cấp.   

5. Thẩm phán ở Việt Nam:

a) Khi nhận chức vụ Thẩm phán phải tuyên thệ chỉ phục vụ Hiến pháp, pháp luật và công lý;

b) Độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ;

c) Không thể bị bắt giam hoặc truy tố nếu không có căn cứ do pháp luật quy định;

d) Chỉ có thể bị tạm đình chỉ hoặc tước các thẩm quyền công vụ trong trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định.

Điều... Tòa án Hiến pháp

1. TAHP gồm có 19 thành viên; ngoài các cựu Tổng Bí thư BCHTW Đảng và các cựu Chủ tịch nước là các thành viên đương nhiên suốt đời của TAHP mà không cần phải qua bất kỳ quy trình nào, các Thẩm phán còn lại của TAHP do Chủ tịch Nước giới thiệu để Thượng nghi viện(10) bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm. Danh sách các ứng viên được Chủ tịch Nước giới thiệu để bổ nhiệm làm Thẩm phán TAHP được phân chia từ các cơ cấu trong BMQL nhà nước ở TW theo tỷ lệ tương ứng như sau :

a) 1/3 do Hạ nghị viện(11)giới thiệu;

c) 1/3 do TANDTC giới thiệu;

d) 1/3 (bao gồm cả Chánh án TAHP) do Chủ tịch nước giới thiệu(12).

2. TAHP theo đề nghị của Viện dân biểu (Thượng nghị viện), Viện Lập pháp (Hạ nghị viện), 1/4 các đại biểu của mỗi Viện này(13), Chủ tịch Nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC hoặc 1/6 đại diện của chính quyền địa phương tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, có thẩm quyền kiểm tra để xem xét và đư­a ra phán quyết (d­ưới hình thức quyết định hoặc kết luận) đối với những vụ việc về tính hợp hiến của tất cả các văn bản sau đây:

a) Các văn bản do chính hai Viện của Quốc hội(14), cũng như Tổng Kiểm toán Nhà n­ước hoặc Tổng Thanh tra về nhân quyền(15) của Quốc hội ban hành;

b) Các văn bản do Chủ tịch nước ban hành;

c) Các văn bản Chính phủ, cũng như Bộ trư­ởng, Thủ tr­ưởng cơ quan ngang Bộ ban hành,

d) Các văn bản do TANDTC hoặc VKSNDTC ban hành;

đ) Các văn bản do cơ quan chính quyền địa phương tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành;                

e) Các văn bản do lãnh đạo cấp TW của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, đơn vị kinh tế hoặc lực l­ượng vũ trang nhân dân ban hành;

f) Bất kỳ văn bản nào do các chủ thể nêu tại các điểm từ “a” đến “e” khoản 1 Điều này tự mình (hoặc phối hợp) ban hành;

g) Các Hiệp ước quốc tế, cũng nh­ư các văn bản khác do ngư­ời có chức vụ cao cấp nhân danh Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam kí kết với n­ước ngoài nh­ưng chưa có hiệu lực pháp lý;

h) Các điều (khoản) luật đã (hoặc phải) đ­ược áp dụng trong tr­ường hợp cụ thể trên cơ sở đề nghị của Tòa án hoặc cơ quan áp dụng điều (khoản) luật t­ương ứng;

3. TAHP có thẩm quyền kiểm tra để xem xét và đư­a ra phán quyết (d­ưới hình thức quyết định hoặc kết luận) đối với quy định trong bất kỳ văn bản pháp luật nào đã (hoặc phải) đ­ược áp dụng trong trư­ờng hợp cụ thể mà bị khiếu nại là xâm phạm đến các quyền và tự do hiến định của con người và của công dân.

4. TAHP có thẩm quyền giải quyết những vụ việc tranh chấp về phân định thẩm quyền giữa:

a) Các cơ quan nhà n­ước ở TW;

b) Các cơ quan ở TW với các cơ quan chính quyền địa ph­ương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

5. TAHP theo đề nghị của một trong các chủ thể nêu tại khoản 1 Điều này, có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và các Luật của Việt Nam, cũng như­ các văn bản pháp luật quốc tế khi có mâu thuẫn với các văn bản pháp luật quốc gia.

6. TAHP theo đề nghị của một trong các chủ thể nêu tại khoản 1 Điều này, có thẩm quyền xem xét và đưa ra phán quyết (dưới hình thức kết luận hoặc quyết định) về việc tuân thủ đúng (hay không) trình tự do luật định đối với:

a) Việc khởi tố vụ án hình sự, đư­a ra cáo trạng hoặc bản án đối với những người có chức vụ cao nhất trong Ban lãnh đạo của đất n­ước.

b) Kết quả của các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu Hội đồng nhân dân các địa phương các cấp;

c) Kết quả của các cuộc bầu cử Thẩm phán TAND và Kiểm sát viên VKSND địa phương các cấp;

d) Kết quả của cuộc bầu cử Chủ tịch Nước;

đ) Kết quả của các cuộc trưng cầu ý kiến của nhân dân.

7. TAHP có thẩm quyền đ­ưa ra sáng kiến lập pháp đối với những vấn đề có liên quan đến các lĩnh vực tổchức - hoạt động và tố tụng thuộc thẩm quyền của TAHP.

8. TAHP chỉ giải quyết các vấn đề mang tính pháp lý và có thể thực hiện các thẩm quyền khác theo quy định của Hiến pháp hoặc của Luật Về Tòa án Hiến pháp Việt Nam”.  

9. Các phán quyết của TAHP là chung thẩm; nếu văn bản hoặc khoản (điều) trong văn bản tương ứng hoặc Hiệp ước quốc tế nào của Việt Nam bị phán quyết của TAHP tuyên là trái với tinh thần hoặc lời văn của Hiến pháp, thì đương nhiên bị hủy bỏ và đều không có hiệu lực thi hành.

10. Người thực hiện hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) trên cơ sở văn bản vi hiến thì tùy theo mức độ nghiêm trọng mà phải chịu trách nhiệm trước pháp luật; người bị thiệt hại do hành vi vi hiến gây ra phải được bồi thường thiệt hại về vật chất hoặc/và tinh thần theo quy định chung của pháp luật.     

11. Đối với những vấn đề thuộc tổ chức - hoạt động nội bộ thì TAHP Việt Nam tự mình thông qua Quy chếnhưng không đ­ược trái với Hiến pháp và Luật Về Tòa án Hiến pháp Việt Nam”.  

12. Những cơ sở pháp lý của việc tổ chức và hoạt động, của các thẩm quyền và của các đặc điểm tố tụng của TAHP do Luật Về Tòa án Hiến pháp Việt Nam” quy định. 

Điều... Tòa án nhân dân tối cao

1. TANDTC là cơ quan tư pháp thẩm quyền chung cao nhất trong hệ thống TAND Việt Nam.

2. TANDTC có những thẩm quyền sau đây:

a) Xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự và phi hình sự (hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình) theo các quy định của pháp luật tố tụng ;

b) Xây dựng án lệ, tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trên phạm vi toàn quốc;

c) Đư­a ra sáng kiến lập pháp đối với những vấn đề có liên quan đến các lĩnh vực tổ chức - hoạt động và tố tụng thuộc thẩm quyền của hệ thống Tòa án thẩm quyền chung.

3. Chánh án TANDTC do Chủ tịch Nước đề nghị Quốc hội phê duyệt để bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm trong số các Thẩm phán TATNDC được Quốc hội bổ nhiệm.     

4. Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC trong việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật và trong vụ việc cụ thể là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các pháp nhân và thể nhân hữu quan.

5. Những cơ sở pháp lý của việc tổ chức và hoạt động, của các thẩm quyền và của các đặc điểm tố tụng của hệ thống TAND do Luật Về hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam”quy định.  

l l Phương án thứ hai (Nếu theo hướng coi hệ thống VKS cũng thuộc nhánh quyền lực thứ ba  QTP như tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005):

                                                                                  Chương 29

Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

Điều ... Địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

1. Các VKSND là các cơ quan kiểm sát tư pháp của n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập thực hiện quyền t­ư pháp theo những thẩm quyền do Hiến pháp và Luật Về hệ thống VKSDN ở Việt Nam” quy định.

2. Hệ thống VKSND đ­ược tổ chức theo bốn cấp từ dưới các địa phương (khu vực, vùng và miền) đến TW tương ứng với hệ thống TAND như sau:

     a) Các VKSND khu vực;          

     b) Các VKSND vùng;

     c) Các VKSND miền và;

     d) VKSNDTC ở TW. 

3. VKSDNTC có những thẩm quyền sau đây:

a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ theo định hướng tập trung vào hoạt động đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong bộ máy quyền lực Nhà nước;

b) Kiểm sát việc điều tra tội phạm của các Cơ quan điều tra;

c) Kiểm sát việc thi hành các bản án của các Cơ quan Thi hành án;

d) Thực hành quyền công tố trong hoạt động tư pháp; 

đ) Đưa ra sáng kiến lập pháp đối với những vấn đề có liên quan đến các lĩnh vực tổ chức - hoạt động và tố tụng thuộc thẩm quyền của hệ thống VKSDN.

4. Việc thành lập các VKS quân sự các cấp do Luật Về hệ thống VKSDN ở Việt Nam” quy định.

5. Không được thành lập các VKS đặc biệt.

Điều... Những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân 

1. Tổ chức và hoạt động của hệ thống VKSND ở Việt Nam phải tuyệt đối tuân thủ nghiêm chỉnh những nguyên tắc cơ bản sau đây:

a) Các Kiểm sát viên (KSV) phục tùng Viện trưởng VKSND tương ứng của mình, Viện trưởng VKSND cấp dưới phục tùng Viện trưởng VKSND cấp trên, tất cả các Viện trưởng VKSND các cấp phụ tùng Viện trưởng VKSNDTC

b) Ngoài Viện trưởng VKSNDTC, hệ thống VKSND thực hiện thẩm quyền của mình không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan Nhà nước, tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng hay người có chức vụ nào;

c) Hệ thống VKSND hoạt động trên cơ sở bảo đảm tính pháp chế tối thượng và hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp, cũng như của các Luật đối với các văn bản dưới Luật và các văn bản pháp quy khác;

d) Hệ thống VKSND hoạt động công khai, trừ những trường hợp phải bảo vệ bí mật nghề nghiệp do pháp luật định; 

đ) Các Kiểm sát vien khi vào ngành KSND phải tuyên thệ theo luật định và phải giữ gìn đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ bảo vệ pháp luật ;

e) Các VKSND định kỳ theo quy định của pháp luật phải thông báo cho các cơ quan quyền lực và quản lý, các tổ chức hữu quan và nhân dân về thực trạng của việc chấp hành pháp luật và tuân thủ pháp chế;

f) Nghiêm cấm bất kỳ hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) nào nhằm cản trở, tác động hoặc gây ảnh h­ưởng đối với hoạt động của các VKSND.   

2. Các quy phạm và những nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế về hoạt động công tố là bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia Việt Nam về hoạt động của hệ thống VKSND.

3. Những cơ sở pháp lý của việc tổ chức và hoạt động, của các đặc điểm hoạt động và của những thẩm quyền (chưa được quy định trong Hiến pháp này) của hệ thống VKSND do Luật Về hệ thống VKSDN ở Việt Nam quy định.  

4. Trong khi thực hiện hoạt động công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật thuộc thẩm quyền của mình, các VKSND ở Việt Nam có quyền viện dẫn trực tiếp các quy định của Hiến pháp, cũng như­ của các Luật và các văn bản d­ưới Luật tư­ơng ứng hiện hành khác.     

Điều… Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên ở Việt Nam

1. Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 25, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ Đại học Luật và thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 5 năm trở lên cỏ thể được các cử tri địa phương bầu hoặc được Chủ tịch nước bổ nhiệm làm Kiểm sát viên VKS địa phương theo đề nghị của Viện trưởng VKSNDTC theo nhiệm kỳ tương ứng với mỗi cấp (khu vực, vùng hoặc miền) như sau:

a) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND khu vực  5 năm và người được bầu phải có thâm niên công tác từ5 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật;   

b) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND vùng  8 năm và người được bầu phải có thâm niên công tác từ 8năm rở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật;

c) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND miền  12 năm và người được Chủ tịch nước bổ nhiệm phải có thâm niên công tác từ 12 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật.

2. Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 40, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ Đại học Luật chính quy, có thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 15 năm trở lên và có trình độ chuyên môn giỏi về luật học có thể được Chủ tịch nước đề nghị Hạ nghi viện (hoặc Quốc hội - nếu tổ chức theo mô hình một Viện) phê duyệt để bổ nhiệm làm Kiểm sát viên VKSNDTC theo quy định của pháp luật. Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSTC là 15 năm.

3. Ngoài các tiêu chuẩn hiến định nêu tại Điều này, Luật Về địa vị pháp lý của các Kiểm sát viên ở Việt Nam” có thể quy định bổ sung một số tiêu chuẩn tương ứng đối với các Kiểm sát viên các VKS mỗi cấp.

4. Kiểm sát viên ở Việt Nam:

a) Độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ;   .   

b) Không thể bị bắt giam hoặc truy tố nếu không có căn cứ do pháp luật quy định;

c) Chỉ có thể bị tạm đình chỉ hoặc tước các thẩm quyền công vụ trong trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bị kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định./.

Chú thích của toàn bài:  

(1) Toàn văn những KGLH cụ thể về nội dung của 10 điều thuộc ba Chương 27 - 29 Phần th năm Những cơ sở hiến định của quyền tư pháp đã được GS.TSKH Lê Văn Cảm soạn thảo và gửi đến Ban biên tập thuộc Ủy ban DTSĐHP năm 1992 của Quốc hội theo đặt hàng cho cá nhân nhà khoa học tại Công văn số 07/UBDTSĐHP ngày 29/8/2011 của Ban biên tập thuộc Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 do Trưởng Ban biên tập, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. GS.TS Phan Trung Lý ký). Trong bài viết này đã có bổ sung thêm các thuật ngữ “đệ Nhất cấp, đệ Nhị cấp, đệ Tam cấp ” để phân biệt rõ và tương ứng với 3cấp TAND địa phương (khu vực, vùng  miền).

(2) Thiết nghĩ, Quc hi vi tư­ cách là cơ quan đại din cao nht cho ý chí ca dân tộc Vit Nam cn nghiên cu để sao cho thật khoa hc - tên gọi ca quốc gia cn phi phù hp vi chế độ kinh tế ca nó - hãy trả li đúng tên gi có ý nghĩa sâu sc ca nước ta mà Bác Hồđã suy ngẫm rất k khi s dng nó trong Hiến pháp năm 1946 (vì rõ ràng theo các nhà kinh đin ca CNXH khoa học, thì mt khi đã làXHCN đích thc rồthì nhất thiết không th có cái gi là “s hu tư­ nhân” trong nền kinh tế như ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 , mà nước ta chỉ mi  giai đon quá độ tiến lên CNXH !).

(3) Đó chính là 11 Tòa án đệ Nhất cấp ở 11 khu vực là: 1) Tây Bắc bộ, 2) Đông Bắc bộ, 3) Châu thổ sông Hồng, 4) Hà Nội, 5)Bắc Trung bộ, 6) Trung Trung bộ, 7) Nam Trung bộ, 8) Tây Nguyên, 9) Tây Nam bộ, 10) Đông Nam bộ và, 11) TP.Hồ Chí Minh.

(4) Đó chính là năm Tòa án đệ Nhị cấp ở 5 vùng là: I (gồm 2 khu vực: Tây Bắc bộ và Đông Bắc bộ), II (gồm 2 khu vực: Châu thổ sông Hồng và Thủ đô Hà Nội), III (gồm 2 khu vực: Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ), IV (gồm 2 khu vực: Nam Trung bộ và Tây Nguyên) và, V (gồm 2 khu vực:Tây Nam bộ và Đông Nam bộ + TP. Hồ Chí Minh).

(5) Đó chính là ba Tòa án đệ Tam cấp  3 miền (tương ứng với 3 Tòa phúc thẩm thuộc TANDTC hiện nay) đặt tại ba thành phố lớn của 3 miền (Bắc, Trung  Nam) là: 1) Hà Nội, 2) Đà Nẵng và. 3) TP.Hồ Chí Minh cũng như­ của các Luật và các văn bản dưới Luật tư­ơng ứng hiện hành khác.

(6) Phương án 2: Thay các từ “ngành, nghề liên quan đến ” = từ “lĩnh vực” .

(7) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viện, thì sẽ thay = “Quốc hội”.

(8) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viện, thì sẽ thay = “Quốc hội”.

(9) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viện, thì sẽ thay = “Quốc hội”.

(10) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viện, thì sẽ thay = “Quốc hội”.

(11) Phương án 2: Nếu hệ thống VKS là nhánh QKS độc lập thứ thì VKSDTC giới thiệu 1/3, riêng Chánh án TAHP có thể do Chủ tịch Nước giới thiệu (cách 1) hoặc có thể do các Thẩm phán TAHP tự bầu bằng hình thức bỏ phiếu kín theo một quy trình đặc biệt do Luật “Về Tòa án Hiến pháp Việt Nam” quy định và phải đạt2/3 số phiếu của tất cả các Thẩm phán TAHP tham gia bầu Chánh án TAHP (cách 2).

(13) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viên, thì sẽ thay = “Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc 1/4 các đại biểu Quốc hội.”.

(14) Phương án 2: Trong trường hợp Quốc hội được tổ chức theo mô hình một Viên, thì sẽ thay = “Ủy ban Thường vụ Quốc hội”.

(15) Nếu cơ cấu này được (và rất nên) thành lập ở Quốc hội để giám sát viêc bảo vệ các quyền của con người và công dân.

Phụ lục 1-1: BẢNG SO SÁNH DỰ THẢO I HIẾN PHÁP VIỆT NAM (sửa đổi lần thứ hai với cơ cấu chung gồm 07 Phần, 39 Chương và 159 Điều(1)) trên cơ sở mô hình tổ chức BMQL nhà nứớc theo ba nhánh với 2 phương án về tổ chức QLP, QHP và QTP) TRONG TƯƠNG QUAN VỚI HIẾN PHÁP NĂM 1992 HIỆN HÀNH

 

STT

Nội dung được quy định

Theo Dự thảo I Hiến pháp sửa đổi (02 phương án)

Theo Hiến pháp năm 1992 hiện hành

I

Cơ cấu chung

  Bao gồm 07 phần, 39 chương và159 điều

 Bao gồm 11 chương với147 điều

 

 

 

 

II

 

 

 

 

Về chế độ hiến định

 của đất nước

Phần I “Những cơ sở hiến định của chế độ chính trị, chế độ kinh tế và chế độ xã hội” có 11 Ch­ương với 50 điều - Chương 1Chế độ chính trị”, Chương 2 “Chếđộ kinh tế”, Chương “Chế độ xã hội”, Ch­ương Giáo dục - đào tạo”, Chương 5 “Khoa học - công nghệ”, Chương “Văn hóa - nghệ thuật”, Chương 7 “An ninh - quốc phòng”, Chư­ơng 8 “Y tế và bảo vệmôi trường”, Chương 9 “Phụ nữ và trẻ em”, Chư­ơng 10 “Thương binh và cựu chiến binh” và, Chương 11 “Một số đối tượng chính sách khác và mà Nhà nước cần phải trợ giúp” (hoặc tùy theo nhà làm luật, cũng có thể không có Ch­ương 11 này).

Chỉ gồm có bảy nội dung và được quy định trong 4chương với tất cả 48 điều - Chương I “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam - chế độ chính trị”, ChươngII “Chế độ kinh tế”, Chương III “Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ” và Chư­ơng IV "Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN".

 

 

     III

 

 

Về các quyền của con người và nghĩa vụ của công dân

 

Phần II “Các quyền con người và nghĩa vụ của công dân” có 5 Chư­ơng với 50 điều - Chương 12 “Địa vị pháp lý của cá nhân ở ViệtNam”, Chương 13 “Các quyền con người ở Việt Nam”, Chương14 “Các cơ chế bảo vệ quyền con ng­ười ở Việt Nam”, Ch­ương 15“Các nghĩa vụ của công dân Việt Nam” và, Chương 16 “Ngư­ời nước ngoài và người không có quốc tịch ở Việt Nam”.

Chỉ đề cập đến thuật ngữ “các quyền cơ bản củacông dân” (không có từ “con người”) và bao gồm một Chương V "Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" với tất cả34 điều.

 

IV

(Hai phương án)

 Về nhánh quyền lực    lập pháp (Trong trường hợp tổ chức Quốc hội theo mô hìnhmột Viện thì sẽ thay tên gọi Chương 18 thành “Các thẩm quyền của Quốc hội” và thay tên gọi của Chương 19 thành “Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội”),

Phần III “Những cơ sở hiến định của quyền lập pháp” có 7 Chương với 21 điều - Chương 17 “Các quy định chung về tổ chức bộ máy lậppháp(2), Chương 18 “Viện lập pháp - Hạ nghị viện”, Chương 19Viện dân biểu - Thượng nghị viện” , Ch­ương 20 “Các Ủy ban của Quốc hội”, Chương 21 “Cơ quan Kiểm toán của Quốc hội”, Ch­ương 22 “Cơ quan Thanh tra về nhân quyền của Quốc hội” và, Chư­ơng 23 “Quy trình thông qua các đạo luật của Quốc hội".

Chỉ gồm một Chương VI"Quốc hội" với tất cả 18điều.

V

(Hai phương án)

Về nhánh quyền lực

hành pháp

Phần IV­ “Những cơ sở hiến định của quyền hành pháp” có 3 Ch­ương với 10 điều - Chương 24Các quy định chung về tổ chức bộ máy hành pháp”, Chương 25“Chủ tịch N­ước” và, Chương 26Chính phủ”.

Chỉ gồm hai Chương với17 điều - Chương VII "Chủ tịch Nước" và ChươngVIII "Chính phủ".

 

VI

(Hai phương án)

Về nhánh quyền lực tư pháp sẽ có2 phương án: 1)TAHP độc lập bên cạnh TATC hoặc là 2) Tòa HP chuyên trách thuộc TATC, cònhệ thống VKS theo Nghị quyết số 49-NQ/TW sẽ chuyển thành VCT thuộc nhánh QHP.

Phần V “Những cơ sở hiến định của quyền tư­ pháp(3) có 4Chương với 11 điều - Chương 27"Các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp", Chương 28 "Hệ thống Tòa án", Chương 29 "Tòa án Hiến pháp" (TAHP)(4) và, Chương 30 "Tòa án tối cao" (TATC).

Có 15 điều trong một Chương X “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, trong đó cómột Điều 126 chung đề cập về nhiệm vụ chungcủa cả hai hệ thống (TAND và VKSND), còn lại 10 điều (từ Điều 127đến Điều 136- về hệ thống TAND và 4 điều (137 140- về hệ thống VKSND.

 

 

VII

 

Về tổ chức chính quyền

địa phương

Phần VI "Những cơ sở hiến định của chính quyền địa phương" có 3Chương với điều - Chương 31"Các quy định chung về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương", Chương 32 "Hội đồng nhân dân" và, Chương 33 "Ủy ban nhân dân".

Chỉ gồm một Chương IXHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” với tất cả chỉ có 8 điều.

 

 

 

VIII

 

 

Về quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp

Phần VII "Những cơ sở hiến định của quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp" có 6 Chương với8 điều - Chương 34 "Quy trình soạn thảo Hiến pháp", Chương 35"Quy trình sửa đổi Hiến pháp", Chương 36 "Quy trình bổ sung Hiến pháp", Chương 37 "Quy trình thảo luận và thông qua Hiến pháp", Chương 38 "Quy trình công bố Hiến pháp" và, Chương39 "Hiệu lực của Hiến pháp".

Chỉ đề cập đến 02 nội dung là “hiệu lực” và “sửa đổi” Hiến pháp trong một Chương XI “Hiệu lực của Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp” với tất cả chỉ có 2 điều.

Ngoài ra, ở cuối Hiến pháp cần có Phần cuối cùng “Các quy định chuyển tiếp” với nội dung đề cập đến hiệu lực tạm thời của các quy định pháp luật hiện hành và thẩm quyền của một số chức vụ Nhà nước thuộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư­ pháp nếu không trái với các quy định của Hiến pháp năm 1992 (Sửa đổi lần thứ 2).

 (1)Toàn văn những kiến giải lập hiến (KGLH) cụ thể đối với cơ cấu chung của Dự thảo I HPSĐ này (khi chưa rút bớt số lượng Điều + Chương) đã được chúng tôi công bố lần đầu tiên ở Việt Nam tại Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội số 22-tháng 11/2010, tr.11-19.

(2)Toàn văn những KGLH cụ thể về nội dung của 06 điều trong Chương 17 Phần thứ ba “Những cơ sở hiến định của quyền lập pháp” đã được chúng tôi công bố lần đầu tiên ở Việt Nam tại Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Quốc hội số 10-tháng 5/2011, tr.11-21.

(3)Toàn văn những KGLH cụ thể về nội dung của 06 điều trong ba Chương 31, 32  34 Phần thứ năm “Những cơ sở hiến định của quyền  pháp” đã được chúng tôi công bố lần đầu tiên ở Việt Nam tại Tạp chí Khoa học (Chuyên san Luật) của ĐHQGHN, số 2/2011, tr.77-94.

(4)Nếu theo Phương án không tổ chức TAHP độc lập (mà chỉ thành lập Tòa Hiến pháp với tưu cách là Tòa chuyên trách trực thuộc TATC) thì bỏ Chương này và trong Chương về TATC cần có thêm 01 điều quy định về việc giao thêm cho TATC thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp và cụ thể hóa điều này bằng một chức năng cụ thể trong Luật “Về hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam”.

Phụ lục 2-1: BẢNG SO SÁNH DỰ THẢO II HIẾN PHÁP VIỆT NAM (sửa đổi lần thứ hai) với cơ cấu chung gồm 07 Phần, 38 (40) Chương và 158 hay 163 Điều(1)) trên cơ sở mô hình tổ chức BMQL Nhà nứớc theo ba nhánh với 2 phương án về tổ chức QLP, QHP và QTP) TRONG TƯƠNG QUAN VỚI HIẾN PHÁP NĂM 1992 HIỆN HÀNH

STT

Nội dung được quy định

Theo Dự thảo II Hiến pháp sửa đổi (2 phương án)

Theo Hiến pháp năm 1992 hiện hành

I

Cơ cấu chung

Gồm: 07 phần, 38 (40) Chương và 158 (163) Điều

 Gồm 11 Chương với 147Điều

 

 

 

 

II

 

 

 

 

Về chế độ hiến định

 của đất nước

Phần I "Những cơ sở hiến định của chế độ chính trị, chế độ kinh tế và chế độ xã hội" có 11Chương với 50 điều - Chương 1"Chế độ chính trị", Chương 2"Chế độ kinh tế", Chương 3 "Chế độ xã hội", Chương 4 "Giáo dục - đào tạo", Chương 5 "Khoa học - công nghệ", Chương 6 "Văn hóa - nghệ thuật", Chương "An ninh - quốc phòng", Chương 8 "Y tế và bảo vệ môi trường", Chương 9"Phụ nữ và trẻ em", Chương 10"Thương binh và cựu chiến binh" và, Chương 11 "Một số đối tượng chính sách khác và mà Nhà nước cần phải trợ giúp" (hoặc tùy theo nhà làm luật, cũng có thể không có Chương 11 này).

Chỉ gồm có bảy (07) nội dung và được quy định trong 04 chương với tất cả 48 điều - Chương I"Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam - chế độ chính trị", Chương II "Chế độ kinh tế", Chương III "Văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ" và Chương IV"Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN".

 

 

     III

 

 

Về các quyền của

 con người và nghĩa vụ

của công dân

 

Phần II "Các quyền con người và nghĩa vụ của công dân" có 5Chương với 50 điều - Chương 12"Địa vị pháp lý của cá nhân ở Việt Nam", Chương 13 "Các quyền con người ở Việt Nam", Chương14 "Các cơ chế bảo vệ quyền con người ở Việt Nam", Chương 15"Các nghĩa vụ của công dân Việt Nam" và, Chương 16 "Người nước ngoài và người không có quốc tịch ở Việt Nam".

Chỉ đề cập đến thuật ngữ “các quyền cơ bản củacông dân” (không có từ “con người”) và bao gồm một Chương "Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân" với tất cả34 điều.

 

IV

(Hai phương án)

 Về nhánh quyền lực    lập pháp (trong trường hợp tổ chức Quốc hội theo mô hình mộtViện thì sẽ thay tên gọi Chương 18thành “Các thẩm quyền của Quốc hội” và thay tên gọi của Chương 19thành “Địa vị pháp lý của đại biểu Quốc hội”).

Phần III "Những cơ sở hiến định của quyền lập pháp" có 7Chương với 21 điều - Chương 17"Các quy định chung về tổ chưc bộ máy lập pháp"(2), Chương 18"Viện lập pháp - Hạ nghị viện", Chương 19 "Viện dân biểu - Thượng nghị viện", Chương 20"Các Ủy ban của Quốc hội", Chương 21 "Cơ quan kiểm toán của Quốc hội", Chương 22 "Cơ quan Thanh tra về nhân quyền của Quốc hội" và, Chương 23"Quy trình thông qua các đạo luật của Quốc hội".  

Chỉ gồm một Chương VI"Quốc hội" với vẻn vẹn tất cả chỉ có 18 điều.

V

(Hai phương án)

Về nhánh quyền lực

hành pháp

Phần IV­ “Những cơ sở hiến định của quyền hành pháp” có 3 Ch­ương với 10 điều - Chương 24Các quy định chung về tổ chức bộ máy hành pháp”, Chương 25“Chủ tịch N­ước” và, Chương 26Chính phủ”.

Chỉ gồm hai Chương với17 điều - Chương VII "Chủ tịch Nước" và ChươngVIII Chính phủ.

 

VI

(Hai phương án)

Về nhánh quyền lực tư pháp (2 mô hình tổ chức:TAHP độc lập bên cạnh TATC hoặc là Tòa HP chuyên trách thuộc TATC, còn hệ thống VKS theo Nghị quyết số 49-NQ/TW là chung cho cả 2phương án).

Phần V "Những cơ sở hiến định của quyền tư pháp(3) có thể được soạn thảo theo hai phương án sau:

* Phương án 1: Sẽ có 3 Chương với 10 điều - Chương 27 "Các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp", Chương 28 "Hệ thống Tòa án" và, Chương 29 "Về hệ thống Viện kiểm sát";

* Phương án 2: Sẽ có 5 Chương với 15 điều vì ngoài Chương 27ra, hai điều về TAHP và TATC trong Chương 29 của Phương ántrên đây sẽ được tách ra thànhhai Chương độc lập - 30 và 31mới và như vậy, Chương 29 cũ về VKS sẽ là 32 mới).

Có 15 điều trong một Chương X “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, trong đó, cómột Điều 126 chung đê cập về nhiệm vụ chungcủa cả hai hệ thống (TAND và VKSND), còn lại 10 điều (từ Điều 127đến Điều 136- về hệ thống TAND và 4 điều (137 140- về hệ thống VKSND .

 

VII

 

Về tổ chức chính quyền

địa phương

Phần VI­ “Những cơ sở hiến định của chính quyền địa phương” có 3Chương với 9 điều - Chương 30"Các quy định chung về tổ chức bộ máy chính quyền địa phương", Chương 31 "Hội đồng nhân dân" và, Chương 32 "Ủy ban nhân dân".

Chỉ gồm một Chương IXHội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân” với tất cả 8điều.

 

 

VIII

 

 

Về quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp

Phần VII­ “Những cơ sở hiến định của quy trình lập hiến và hiệu lực của Hiến pháp” có Chương với8 điều - Chương 33 "Quy trình soạn thảo Hiến pháp", Chương 34"Quy trình sửa đổi Hiến pháp", Chương 35 "Quy trình bổ sung Hiến pháp", Chương 36 "Quy trình thảo luận và thông qua Hiến pháp", Chương 37 "Quy trình công bố Hiến pháp", Chương 38"Hiệu lực của Hiến pháp".

Chỉ đề cập đến 02 nội dung là “hiệu lực” và “sửa đổi” Hiến pháp trong một Chương XI “Hiệu lực của Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi