Hiến pháp phải có tác động đến phòng, chống tham nhũng và xây dựng cơ chế liêm chính quốc gia

Nhà nước Việt Nam hiện nay của chúng ta đang tích cực tổng kết việc thi hành và nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Đây cũng là một trong những nội dung cơ bản nhất của việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Trong nhiều diễn đàn của các hội nghị, nhiều người dành nhiều thời gian cho việc sửa cụ thể các chương, các điều của Hiến pháp hơn là hiểu Hiến pháp là gì và Hiến pháp có vị trí vai trò như thế nào trong đời sống xã hội.

Hiến pháp có vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, muốn có một bản Hiến pháp tốt, thì trước hết, phải hiểu được hết các vai trò, chức năng của Hiến pháp trong xã hội. Hiến pháp phải là bản văn khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, Hiến pháp phải là bản văn giới hạn quyền lực của Nhà nước, Hiến pháp phải là bản văn phân chia quyền lực nhà nước...

Một trong những vai trò quan trọng bậc nhất của Hiến pháp là phòng, chống tham nhũng, hay nói một cách khác, Hiến pháp là một trong những công cụ để phòng, chống tham nhũng của quốc gia. Muốn cho Hiến pháp là công cụ của việc phòng, chống tham nhũng, cũng là việc hiểu Hiến pháp như là công cụ kiểm soát, quyền lực. Nếu quyền lực không kiểm soát được, cũng là quyền lực đã góp phần gia tăng cho tệ nạn tham nhũng.

Có nhiều định nghĩa về tham nhũng. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), "tham nhũng là lạm dụng các quỹ hay/hoặc chức vụ công để thu lợi ích chính trị hay lợi ích vật chất riêng" [1] . Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI), "tham nhũng là lạm dụng quyền lực được giao để thu lợi riêng” [2] . Còn theo Rose Ackerman - một chuyên gia quốc tế nổi tiếng về phòng, chống tham nhũng - "tham nhũng là việc sử dụng sai quyền lực được giao để thu lợi ích riêng"... [3] Như vậy, một cách chung nhất, có thể hiểu tham nhũng là việc lạm dụng chức vụ hay quyền lực công hoặc tư để thu lợi ích riêng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp [4] .

Từ những định nghĩa kể trên, có thể thấy rõ tham nhũng có mối liên hệ không thể tách rời với quyền lực và việc sử dụng quyền lực. Kể cả với hành vi đưa hay môi giới hối lộ [5] , tham nhũng vẫn có liên quan đến yếu tố quyền lực, bởi người đưa và môi giới hối lộ có thể không có quyền lực, nhưng người nhận hối lộ thông thường phải là người có quyền lực.

Trong thực tế, hành vi tham nhũng chủ yếu là sự lạm dụng quyền lực nhà nước, bởi các cơ quan, công chức nhà nước. Do đó, khái niệm quyền lực trong tham nhũng cơ bản đề cập đến quyền lực nhà nước (hay quyền lực công, mặc dù trên thực tế nó không chỉ giới hạn trong dạng quyền lực này). Ở đây tham nhũng có tính chất là một “căn bệnh" chung, cố hữu của mọi nhà nước, bất kế thuộc thể chế chính trị nào.

Tham nhũng như là bệnh dịch của con người khi có quyền lực nhà nước. Cuộc chiến đối với tham nhũng không thể có hiệu quả thành công, nếu như chúng ta chỉ dừng lại ở những sự hô hào và kêu gọi sự nâng cao đạo đức, sự liêm chính của các quan chức nhà nước, mà phải có biện pháp cụ thể quyết liệt khác mang tầm quốc gia, thành một chủ trương lớn của toàn xã hội, mà không chỉ được thể hiện trong một văn bản luật phòng, chống tham nhũng do cơ quan lập pháp ban hành, tức là phải ở tầm Hiến pháp đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất của quốc gia.

Một khi đã là bệnh dịch thì phải chống nó, phải theo phương pháp của việc phòng chống bệnh dịch. Muốn chống tham nhũng của Nhà nước thì phải tiêm vác xin cho Nhà nước, khoanh vùng có nguy cơ tham nhũng cao và phải làm trong sạch môi trường.

Đã là biện pháp phòng bệnh dịch như cơ thể của con người, thì cũng phải theo cơ chế tiêm vắc xin phòng bệnh dịch vào cơ thể nhà nước, tức là phải lấy ngay mầm bệnh, sau khi đã làm cho mầm bệnh suy yếu đi rồi tiêm vào cơ thể con người, để con người có khả năng miễn hay là chống đỡ được bệnh dịch này. Vậy thì vắc xin của bệnh dịch tham nhũng là gì? Bệnh dịch đó là bệnh gì? Đó là bệnh tham quyền, cố vị, dùng quyền lực nhà nước để mưu lợi cho cá nhân và cho những người thân cận. Vì vậy vắc xin của bệnh này chính là quyền lực. Vắc xin của Nhà nước không thể nào là khác hơn phải lấy “quyền lực đối trọng với quyền lực", phải lấy tham vọng đối trọng với tham vọng.

Muốn vậy, thì trước hết, trong Nhà nước phải có sự phân quyền. Sau đó phải dùng ngay quyền của cơ quan này, chống lại quyền lực của cơ quan kia. Điều này có nghĩa là, các quyền của Nhà nước không nên trao một cách trọn gói và hoàn hảo từ A đến Z cho bất kể một nhánh quyền lực nào hoặc một người nào nắm giữ, mà phải được phân định nhiều công đoạn. Lấy công đoạn quyền lực nọ, kìm chế công đoạn quyền lực kia. Phần nhiều quyền lực vẫn giao cho một chủ thể thực hiện, nhưng một phần nhỏ của quyền lực ấy phải giao cho chủ thể khác nắm giữ, tức là, quyền lực mầm bệnh đã được làm cho yếu đi, tạo ra thế tự kiểm tra một cách mặc nhiên giữa chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước. Tôi nắm quyền lực cũng vậy và anh nắm quyền lực cũng vậy, đều phải bị cơ chế tự kiểm tra giám sát và theo dõi , một cách mặc nhiên, như một sự phòng bệnh trước của con người làm vậy. Nhà nước dân chủ khác Nhà nước phong kiến chuyên chế ở chỗ quyền lực thuộc về nhân dân, không phải của thiên định, người nắm giữ phải có nhiệm kỳ và nó phải được thay đổi khi không còn sự uy tín của người dân qua các cuộc bầu cử. Quyền lực chỉ được giao giữ trong một giới hạn nhất định, tạo nên sự hạn chế quyền lực nhà nước.

Ví dụ như quyền lập pháp được giao cơ bản cho Quốc hội thực hiện, nhưng dự luật mặc dù đã được Quốc hội thông qua vẫn chưa trở thành luật, vẫn nằm ở dạng dự thảo, chúng chỉ trở thành luật có hiệu lực thực thi khi và chỉ khi có sự công bố của Tổng thống - người đứng đầu Nhà nước. Trong thời gian này. Tống thống có quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội thông qua. Như vậy, làm cho quốc hội không thể lạm dụng quyền lập pháp, mà thông qua những đạo luật vi phạm nhân quyền hoặc có hại cho quốc gia, cũng như không cho phép hành pháp thực thi trên thực tế.

Cũng tương tự như vậy, mặc dù Tổng thống - người đứng đầu hành pháp có quyền bổ nhiệm các quan chức cao cấp hành pháp - bộ trưởng, nhưng các quan chức này chỉ có thể bắt tay vào việc thực hiện quyền hành pháp của mình, khi và chỉ khi có sự đồng ý phê chuẩn của Quốc hội - Thượng viện. Trong quá trình phê chuẩn, Quốc hội bắt các quan chức được bổ nhiệm phải điều trần . . . Mọi hành vi có biểu hiện của sự tham nhũng hay có nguy cơ lạm dụng phải được chặn lại kể từ khi có ý định. Tội tham nhũng khác với các tội phạm thông thường khác vì nó gắn với quan chức, những người đang trực tiếp thực thi công quyền rất khó truy cứu trách nhiệm. Cho nên, phương án tốt nhất đối với loại này là phải ngăn ngừa từ trước khi chúng xảy ra.

Mọi thiết chế của con người không có thiết chế miễn dịch khỏi sự sai lầm. Sự sai lầm của các nhà cầm quyền về nguyên tắc có sự tai hại rất to lớn gấp hàng ngàn vạn lần những người bình thường không nắm giữ quyền lực nhà nước. Nếu không có sự phòng ngừa với cơ chế phòng bệnh dịch bằng sự “tiêm chủng" như vậy, thì không có biện pháp hữu hiệu nào có thể ngăn ngừa được tham nhũng.

Liều vắc xin đó phải được quy định trong bản văn có hiệu lực pháp lý tối cao trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Đó là Hiến pháp. Khác với các văn bản lập pháp thông thường, hiến pháp phải có vai trò trù liệu trước những hậu quả xấu có thể xảy ra khi con người có quyền lực nhà nước, để mọi người được tiêm phòng kể cả người tốt lẫn người xấu. Vì đã là bệnh dịch, thì tham nhũng sẽ không trừ bất cứ ai, kể cả người yếu/xấu lẫn người tốt/ khỏe nếu như họ có quyền lực nhà nước đều có thể mắc phải. Đúng như câu nói của Acton. Huân tước Anh quốc đã trù liệu rằng: "Quyền lực rất có xu hương đồi bại, quyền lực tuyệt đối có xu hướng đồi bại tuyệt đối”. Vì vậy, một bản Hiến pháp tốt phải có chủ trương/ xu hướng phòng chống tham nhũng.

Mặc dù cùng tội phạm, nhưng tham nhũng có những đặc điểm rất khác vì chủ thể của tội phạm là các quan chức nắm quyền lực nhà nước. Việc phòng, chống tham nhũng phải có những biện pháp đặc biệt. Phòng, chống tham nhũng phải có biện pháp phòng, chống gián tiếp, ngăn ngừa trước, mà không trực tiếp như việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm khác.

Việc ngăn ngừa trước các hành vi của tội phạm tham nhũng như là một trong những chức năng quan trọng của Hiến pháp. Bản chất sâu xa của Hiến pháp khác với các đạo luật thường ở chỗ như vậy.

So với tất cả các hiến pháp khác trên thế giới mặc dù được ra đời sớm nhất nhưng bản Hiến pháp của Mỹ thể hiện vấn đề này rất rõ tạo thành hệ thống “kìm chế và đối trọng"/Checks and Balances của họ. Hơn 200 năm trước đây, khi thông qua bản hiến pháp thành văn của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, người ta đã sử dụng hệ thống này như là một nội dung chính yếu nhất trong bản văn có hiệu lực tối cao nhất của họ. Sở dĩ hệ thống này trở thành nội dung chính yếu của bản Hiến pháp, vì họ hiểu một cách thấu đáo rằng: Chính phủ của họ là không phải là những thiên thần, mà là những con người với đầy đủ tính xấu của con người có thể xảy ra, khi con người có trong tay quyền lực nhà nước. Hiến pháp không thể là cái gì khác hơn phải là những sợi dây xích bằng sắt để cột chặt những tính xấu của con người lại. Một khi tính xấu đã được cột lại, thì tự khắc tính tốt sẽ được duy trì. Đấy là những quy định thuộc vào nội dung vắc xin cho Nhà nước của họ.

Kiểm soát và chế ước những chủ thể nắm giữ quyền lực công là chức năng thứ hai của pháp luật với ý nghĩa là một hệ thống nói chung, song nó đặc biệt gắn với Hiến pháp - đạo luật gốc của một quốc gia. Đó là bởi, nói như Thomas Paine [6] : “Hiến pháp không phải là đạo luật của một chính phủ, mà là đạo luật của một dân tộc nhằm cấu thành nên chính phủ…" [7] . Rõ ràng hơn, Patrick Henry tuyên bố: “Hiến pháp không phải là một công cụ của chính phủ để đàn áp nhân dân, mà là một công cụ để nhân dân kiềm chế chính phủ.." [8] . Đây cũng là tư tưởng của lý thuyết về chủ nghĩa hiến pháp (hay chủ nghĩa hợp hiến – Constitutionalism) - vốn xuất phát từ các học thuyết chính trị từ xa xưa của Arstotle thời cổ đại Hy Lạp và được phát triển thời Khai sáng của John Locke, theo đó quyền lực của nhà nước cần phải được giới hạn bởi pháp luật, mà cụ thể là bởi Hiến pháp và Nhà nước phải tuân thủ những giới hạn luật định đó trong hoạt động [9] . Nói cách khác, không giống với các văn bản khác trong hệ thống pháp luật của quốc gia. Hiến pháp – dù dưới bất kỳ chính thể nào – xét bản chất cũng đều là văn bản quy định về tổ chức và kiểm soát quyền lực nhà nước. So với các văn bản pháp luật khác của một quốc gia, Hiến pháp thể hiện tập trung và nổi bật nhất nguyên tắc quyền lực cao nhất và tuyệt đối thuộc về nhân dân, quyền lực của nhà nước chỉ là phái sinh, do nhân dân trao cho, có giới hạn và phải bị kiểm soát.

Chính nhờ hệ thống “kìm chế và đối trọng” này mà hiến pháp có tuổi đời lâu nhất trên thế giới, cho đến nay hiện vẫn không có sự thay đổi nào đáng kể, vẫn có tác dụng cho việc duy trì và phát triển một nhà nước của họ.

Kết luận

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của chúng ta chí ít phải tính đến chức năng phòng, chống tham nhũng như kiểu vắc xin này, thì mới có cơ hội cho việc giảm thiểu tệ nạn tham nhũng hiện nay, tức là phải nâng cấp nhận thức phòng, chống tham nhũng của xã hội chúng ta lên một tầm cao mới, một nhiệm vụ chung của toàn xã hội dân chủ ở mức đạo luật tối cao, mà không chỉ dừng lại trong một đạo luật được gọi là Luật phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội thông qua năm 2005 và được sửa đổi năm 2007./.


[1] Nguyên văn: “Corruption is the abuse of public funds and/or office for private or political gain”, xem WB, Deterring Corruption and Improving Governance in Road Construction and Maintenance, Washington, D.C, September 2009.

[2] Nguyên văn: “Corruption is the abuse of entrusted power for private gain”, xem tại http:// www.transparency.org/news_room/faq/corruption_faq.

[3] Nguyên văn: “Coruption is the misuse of entrusted power for private benefit”, xem Rose Ackerman, Corruption and Government: Causes, Consequences, and Reform, trong The International Hand book on the Economics of Corruption (2006), edited by Rose – Ackerman.

[4] Xem thêm, United Nations Handbook on Practical Anti – corruption Measures for Prosecutors and Investigation, Vienna, September 2004, tr.24.

[5] Đây là hai trong số các hành vi bị coi là tham nhũng theo quy định trong Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng.

[6] Thomas Paine (1937- 1809) – Nhà triết học, nhà cách mạng, người theo trường phái chủ nghĩa tự do cổ điển, một nhân vật nổi bật trong phong trào Khai sáng. Ông là người ủng hộ nhiệt tình cuộc cách mạng giành độc lập của các thuộc địa Mỹ khỏi Đế chế Anh. Những tác phẩm nổi tiếng của ông bao gồm: Common Sense (1776), Rights of Man (1791), The Age of Reason (1794), Agraria Justice (1795)…

[7] Nguyên văn: “A Constitution is not the act of a Governmet, but of a people constituting a governmet…” Trong Thomas Paine, Right of Man, 1791, tại http://ebooks. Adelaide.edu.au/p/paine/thomas/pl47r/

[8] Nguyên văn: “The Constitution is not an instrument for the governmet to restrain the people, it is an instrumet for the people to restrain the gouvernmet – lest it come to dominate our lives and interests”. Xem tại http://thinkexist.com/quotation/the_constitution_is_not_an_instrument_for_the/154031.html

[9] Stanford Encyclopedia of Philosophy, http://plato.stanford.edu/entries/constitutionalism/.

Chủ nghĩa Hiến pháp được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó những nghĩa phổ  biến nhất cho rằng: “..Một tập hợp ý tưởng, thái độ và khuôn mẫu hành động phản ánh nguyên tắc là thẩm quyền của Chính phủ xuất phát từ người dân và bị giới hạn bởi Hiến pháp” (xem Don E. Fehrenbacher, Sectional Crisis and Southern Constitutionalism, Louisiana State University Press, 1995), “…Ý tưởng về một chính phủ bị giới hạn quyền lực và bị kiểm soát bởi Hiến pháp” (xem David Fellman, Constitutionalism, tại http://www. Tititudorancea.org/z/constitutionalism.htm)…

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi