Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung phần liên quan đến chương I - Hiến pháp năm 1992

Trước khi đưa ra những đề xuất cụ thể về sửa đổi, bổ sung các điều khoản của Hiến pháp 1992, chúng ta cần phải trả lời một câu hỏi hết sức nghiêm túc là: Có nên có một mô hình Hiến pháp mới? Nói cụ thể hơn, chúng ta sẽ sửa đổi Hiến pháp hiện hành theo hướng nào? Theo chính thể nào? Trên thế giới có các mô hình điển hình như cộng hoà tổng thống hay cộng hoà đại nghị, mỗi mô hình đều có những ưu điểm và những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách thực tế rằng, với thể chế của chúng ta hiện nay thì việc theo một trong hai mô hình chính thể này đều là điều khó xảy ra1. Mặt khác, mô hình Hiến pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập cũng có rất nhiều ưu việt so với các mô hình chính thể nói trên, phù hợp với điều kiện Việt Nam. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể cải cách Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở phát triển các quan điểm, tư tưởng của Hiến pháp năm 1946, phù hợp với bối cảnh hiện nay. Với nhận thức và quan điểm đó, chúng tôi xin có một số đề xuất bước đầu cho việc nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp hiện hành – phần liên quan đến quyền lực nhà nước và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước (Chương I).

1. Quyền lực nhà nước và tổ chức thực thi quyền lực nhà nước

Quyền lực nhà nước (QLNN) bắt nguồn từ nhân dân và là một bộ phận của quyền lực xã hội. Điều này đúng từ bản chất bên trong đến sự biểu hiện bên ngoài của QLNN. Vì QLNN vốn cũng là một loại quyền lực trong xã hội và thuộc một bộ phận dân cư trở thành một thứ quyền lực công đối với toàn xã hội. Từ đó, nó là thứ quyền lực đặc biệt nhất - thứ quyền lực đứng trên tất cả các quyền lực khác, bởi nhà nước là một bộ máy công quyền, được mang sứ mệnh đại diện chính thức cho toàn xã hội, nhân danh xã hội điều hành, cai quản xã hội.

QLNN có nguồn gốc từ nhân dân, mang bản chất nhân dân và phục vụ nhân dân. Mặc dù vậy, không phải lúc nào QLNN cũng đạt được những mục tiêu cao cả là phục vụ nhân dân, vì có khi chúng bị tha hóa trở thành quyền lực  riêng của kẻ mạnh thống trị xã hội. Đặc biệt là QLNN trong các xã hội nô lệ, phong kiến đã trở thành vũ khí nô dịch của kẻ giàu đối với người nghèo, của kẻ nắm quyền lực đối với những người thuộc tầng lớp dưới.

Trong điều kiện hiện đại, nhất là trong các xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền (NNPQ) thì QLNN ít bị tha hóa hơn, bản chất gần dân của QLNN ngày càng rõ nét hơn. Hiến pháp của hầu hết các nước có NNPQ hiện đại đều khẳng định một nguyên tắc hiến định là mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân, thể hiện QLNN bắt nguồn từ nhân dân và để phục vụ nhân dân.

Mặc dù QLNN có nguồn gốc từ nhân dân, thuộc về nhân dân và người dân chính là người chủ của QLNN, nhưng không thể mọi người dân đều có thể cùng trực tiếp thực thi QLNN mà họ phải trao nó cho một tổ chức đại diện cho toàn xã hội - đó là nhà nước - để thực thi QLNN. Và thực tiễn tổ chức thực thi QLNN ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các nhà nước, các chính thể khác nhau cũng có nhiều khác biệt. Ở chính thể cộng hòa tổng thống thì việc tổ chức thực thi QLNN dựa trên thuyết phân chia quyền lực một cách tuyệt đối giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp; các chính thể cộng hòa đại nghị, về cơ bản cũng dựa trên học thuyết phân quyền nhưng mềm dẻo hơn trong phối hợp thực thi giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp; ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũ theo mô hình chính thể Xô Viết (cộng hòa Xô Viết) thì QLNN là thống nhất, không phân chia, được tập trung ở cơ quan đại diện tối cao (Xô Viết tối cao - Quốc hội).

Ở Việt Nam, ngay từ khi chúng ta có chính thể Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên, bắt đầu bằng sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945 cho đến nay, việc tổ chức thực thi QLNN đều dựa trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân, mặc dù cách diễn đạt nguyên tắc này có thể khác nhau. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua hệ thống các cơ quan đại diện do nhân dân bầu ra. QLNN là thống nhất, không phân chia nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Tất cả các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980 và 1992) đều cơ bản thể hiện nguyên tắc thực thi QLNN nói trên. Điều 2 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả QLNN thuộc về nhân dân… QLNN là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước (CQNN) trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Quy định của Điều 2 Hiến pháp 1992 nói trên có bốn điểm vô cùng quan trọng đó là: Khẳng định Nhà nước ta là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Tất cả QLNN thuộc về nhân dân; QLNN là thống nhất; Có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Cùng với quy định tại Điều 2 nói trên, Điều 83 Hiến pháp 1992 quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan QLNN cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Điều 109 quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”; Điều 127 ghi nhận: Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Như vậy, các quy định trên đây của Hiến pháp 1992 đã xác định rõ vị trí, vai trò của các cơ quan: Quốc hội được phân công thực thi quyền lập pháp; Chính phủ được phân công thực thi quyền hành pháp; còn Tòa án được phân công thực thi quyền tư pháp.

Tuy nhiên, theo chúng tôi, ngoại trừ việc khẳng định Nhà nước ta là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, thì cả ba vấn đề còn lại đều cần phải được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ cả về bản chất cũng như mục tiêu. Xin được phân tích như sau:

Thứ nhất, khẳng định tất cả QLNN thuộc về nhân dân. Quy định này theo chúng tôi là đúng nhưng chưa đủ. Vì về bản chất, trong NNPQ thì mọi quyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân. Khái niệm QLNN chỉ là một loại quyền lực gắn với bộ máy công quyền - Nhà nước, không phải là tất cả mọi quyền lực trong xã hội. Từ đó, Điều 6 Hiến pháp 1992 quy định “Nhân dân sử dụng QLNN thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân…” điều này đúng ở khía cạnh thực thi QLNN nhưng chưa đủ ở khía cạnh quyền lực xã hội nói chung. Vì thế, đây chính là sự thiếu hụt của Hiến pháp 1992, và chính sự thiếu hụt này đã làm giảm quyền lực của nhân dân, giảm vai trò của nhân dân trong thụ hưởng cũng như thực thi mọi quyền lực trong xã hội, đặc biệt là các quyền dân chủ trực tiếp. Không phải ngẫu nhiên, cả ba bản Hiến pháp trước đó (1946, 1959, 1980), đặc biệt là ngay từ Hiến pháp năm 1946 đều khẳng định “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” chứ không phải chỉ có QLNN; Hiến pháp của các nước có NNPQ phát triển cũng khẳng định mọi quyền lực thuộc về nhân dân.

Theo chúng tôi, nên nghiên cứu sửa đổi nội dung này của Hiến pháp 1992 theo hướng: mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Để bảo đảm rằng, nhân dân là người chủ đích thực của đất nước, mọi điều đều phụ thuộc ở nơi dân. Còn QLNN cũng là một thứ quyền lực được bắt nguồn từ quyền lực nhân dân, và Nhà nước - với tư cách là một bộ máy quyền lực công thì được trao thực thi QLNN - đó cũng chính là một cách để thực thi quyền lực của nhân dân2.

Thứ hai, Hiến pháp khẳng định QLNN là thống nhất nhưng chưa rõ là thống nhất vào đâu? Thống nhất vào nhân dân hay Quốc hội - cơ quan QLNN cao nhất? Xung quanh vấn đề này có tới ba loại ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, nói QLNN là thống nhất không phải theo nghĩa thống nhất vào đâu mà chỉ là một sự khẳng định gián tiếp rằng, QLNN không có sự phân chia, vì ngay sau khẳng định này là quy định “có sự phân công và phối hợp giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng, nói QLNN là thống nhất, ý nói thống nhất ở nơi Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, bởi cũng chính Hiến pháp 1992 khẳng định rằng “Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” (Điều 83). Đây là quan điểm khá phổ biến trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, khi mô hình hiến pháp và tổ chức thực thi QLNN ở Việt Nam cũng như nhiều nước XHCN khác về cơ bản đều dựa theo mô hình Xô viết cũ, quan điểm này còn được củng cố bởi một khẳng định nữa của Hiến pháp 1992 đó là: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (Điều 109). Nhưng cũng có không ít ý kiến khác cho rằng, nói QLNN là thống nhất tức là nói thống nhất vào nhân dân. Loại ý kiến này nhận được sự đồng tình nhiều hơn, vì trước khi khẳng định điều này, Hiến pháp cũng đã khẳng định “tất cả QLNN thuộc về nhân dân”. Chúng tôi cho rằng, sửa đổi Hiến pháp 1992 tới đây cần khẳng định rõ điều này và sửa đổi các quy định liên quan đến Quốc hội, Chính phủ nói trên, bảo đảm sự rõ ràng, tránh những mơ hồ hoặc hiểu lầm không đáng có.

Thứ ba, mặc dù chúng ta luôn khẳng định QLNN là thống nhất, không chấp nhận phân chia quyền lực nhưng lại có sự phân công, phối hợp giữa các CQNN thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vậy thực chất của sự phân công thực hiện các quyền trong sự thống nhất quyền lực, không phân chia là như thế nào?

Chúng tôi cho rằng, dù không thừa nhận phân chia quyền lực nhưng đã có sự phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp thì điều đó cũng lại một lần nữa khẳng định rằng, không có việc QLNN được tập trung thống nhất vào một CQNN nào, kể cả Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Và vì vậy, nói QLNN là thống nhất chỉ có thể hiểu là thống nhất ở nơi dân. Và điều đó cũng là cách hiểu theo bản chất, nguồn gốc của QLNN, chứ thực chất, quyền lực ấy được trao cho Nhà nước - các CQNN khác nhau thực thi trên thực tế.

Mặt khác, nói QLNN là thống nhất nhưng lại có sự phân công, phối hợp giữa các CQNN thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp cũng là một cách nói chưa thực sự thuyết phục. Thực chất là chúng ta đang có sự phân công thực thi QLNN. Mặc dù sự phân công thực thi QLNN của chúng ta có những nét đặc thù, thậm chí là rất độc đáo. Tuy nhiên, dù có độc đáo đến đâu thì về nguyên lý cũng phải làm rõ phạm vi phân công, phối hợp giữa các cơ quan này. Và vì vây, đã khẳng định “mọi QLNN đều thuộc về nhân dân” (tập trung ở nơi dân) và trong tổ chức thực thi QLNN có sự phân công, phối hợp rồi thì không cần thiết phải khẳng định lại “QLNN là thống nhất” nữa.

Vì vậy, việc sửa Hiến pháp 1992 tới đây nên cân nhắc đến những quan điểm, tư tưởng mới trong tổ chức thực thi và kiểm soát quyền lực đã được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây, bảo đảm các quy định của Hiến pháp được rõ ràng hơn, đúng với bản chất hơn, đúng với thực tiễn hơn. Theo đó, chúng tôi đề nghị sửa Điều 2 của Hiến pháp 1992 như sau: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tất cả quyền lực (hoặc QLNN) thuộc về nhân dân. Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. QLNN được thực thi trên cơ sở phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Đồng thời chúng tôi cũng đề nghị sửa lại đoạn “…mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” tại Điều 2 của Hiến pháp 1992 theo hướng là phải bao quát hết các giai cấp, các tầng lớp nhân dân trong xã hội. Vì nói như Hiến pháp 1992 là chưa hết, còn các tầng lớp và giai cấp khác thì sao? Chẳng lẽ lại có sự phân biệt đối xử giữa các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội khi chính Hiến pháp, pháp luật đều thừa nhận họ và bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của mọi người dân trong xã hội? Cần phải thể hiện được tinh thần đại đoàn kết dân tộc - một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và nó đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp 1946, Điều 1 “…Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. 

Tiếp đến cần phải hiến định nguyên tắc phân công thực thi QLNN. Trong Cương lĩnh phát triển đất nước cũng như trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI đều đã khẳng định nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các CQNN trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do vậy, đã đến lúc cần hiến định việc phân công thực hiện các quyền này của ba CQNN. Theo đó, cần ghi nhận ở các điều liên quan rằng, Quốc hội được phân công thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ được phân công thực hiện quyền hành pháp và Tòa án được phân công thực hiện quyền tư pháp.

2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát thực thi QLNN.

Về vị trí, chức năng của Quốc hội: Hiến pháp 1992 quy định, “Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất”. Quy định này nên xem xét lại vì dễ dẫn đến cách hiểu rằng có loại cơ quan QLNN và Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất trong hệ thống các cơ quan QLNN. Mặt khác, đồng thời với quy định trên thì quy định của Hiến pháp 1992 về nguyên tắc: QLNN là thống nhất đã dẫn đến một sự hiểu lầm khác rằng, QLNN được tập trung thống nhất vào Quốc hội. Thực tế nhiều người tư duy rằng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp là hệ thống các cơ quan QLNN, theo đó Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất; Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, còn Tòa án, Viện kiểm sát là hệ thống cơ quan tư pháp. Theo lối tư duy đó thì Chính phủ, Tòa án và Viện kiểm sát không thuộc hệ thống cơ quan QLNN và sẽ nguy hiểm hơn nếu cho rằng, các cơ quan này không mang QLNN, và rằng QLNN là thống nhất và được tập trung ở nơi Quốc hội. Đó là một nhận thức chưa đúng. Thực chất, cả ba loại cơ quan nói trên đều mang QLNN, đều là các cơ quan của QLNN và được phân công thực thi QLNN ở những phạm vi khác nhau.

Theo đó, có thể hiểu Quốc hội là cơ quan cao nhất của QLNN chứ không phải là cơ quan QLNN cao nhất. Tuy vậy, chúng tôi cho rằng, nói Quốc hội là cơ quan cao nhất của QLNN cũng là nói theo tư duy: Quốc hội là cơ quan dân cử, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, được trao thực thi quyền lập pháp (trong đó có quyền ban hành Hiến pháp, quyền ban hành luật), quyền giám sát tối cao và quyền quyết định các chính sách lớn, các vấn đề lớn của đất nước. Thực chất, Quốc hội cũng như Chính phủ, Toà án là ba cơ quan được phân công thực thi ba nhánh quyền lực khác nhau với vị trí và chức năng khác nhau trong bộ máy nhà nước, không nên nói là cơ quan nào cao hơn cơ quan nào.

Về quyền ban hành Hiến pháp, luật của Quốc hội: Nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp (làm luật và sửa đổi luật - khoản 1 Điều 84 Hiến pháp 1992) là đúng. Nhưng nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến thì cần phải cân nhắc thêm. Vì trong NNPQ, thường thì quyền quyết định ban hành hay sửa đổi Hiến pháp là thuộc quyền của quốc dân đồng bào. Quốc hội có thể đưa ra sáng kiến Hiến pháp, soạn thảo ra Hiến pháp nhưng quyền quyết định có ban hành không, có sửa đổi không là quyền của nhân dân. Ngay trong Hiến pháp 1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ghi ở ngay trong lời nói đầu rằng “Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hội nhận thấy…”. Và Điều 70 về sửa đổi Hiến pháp cũng có quy định: “Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây: a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu; b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi; c) Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Chính vì vậy, chúng tôi đề nghị quy định lại rằng, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền ban hành Hiến pháp và luật mà không nên nói Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến.

Theo đó, đề nghị sửa đổi Điều 83 như sau: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. Quốc hội được phân công thực hiện quyền lập pháp, là cơ quan duy nhất có quyền ban hành Hiến pháp và luật”.

Thêm vào đó, bổ sung vào Hiến pháp một điều về quyền phúc quyết Hiến pháp thuộc về nhân dân. Người dân có thể thực hiện quyền lực của mình một cách gián tiếp thông qua Quốc hội - cơ quan đại biểu cao nhất của mình, nhưng riêng quyền quyết định Hiến pháp phải là quyền trực tiếp, nhân dân chỉ ủy quyền cho Quốc hội ban hành (pháp lý hóa) Hiến pháp mà thôi.

Vấn đề chất vấn, trả lời chất vấn và giải trình: Mặc dù Hiến pháp 1992 (Điều 98) đã quy định quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Thủ tướng và các thành viên Chính phủ, và thực tiễn Quốc hội đã tiến hành hoạt động này (gần đây là cả Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cũng tổ chức để các đại biểu Quốc hội chất vấn thành viên Chính phủ), tuy nhiên quy định của Hiến pháp về hoạt động này là chưa đủ mạnh. Có ý kiến cho rằng, Hiến pháp cần phải ghi nhận hoạt động này của Quốc hội và cũng là quy định trách nhiệm của Chính phủ một cách mạnh mẽ hơn; đồng thời, cũng cần quy định rõ thêm về trách nhiệm giải trình của Chính phủ trước Quốc hội. Quy định tại Điều 109 hiện hành về việc chịu trách nhiệm và báo cáo; Điều 98 về chất vấn như nói trên là chưa rõ ràng, chưa đủ mạnh về thẩm quyền này của Quốc hội.

3. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát thực thi QLNN.

Về vị trí, tính chất của Chính phủ: Điều 109 Hiến pháp quy định, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Việc khẳng định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất là để Chính phủ tổ chức thực thi quyền hành pháp. Để thực hiện quyền này, Chính phủ phải tổ chức ra một hệ thống cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương và lãnh đạo hệ thống này, bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính3. Khẳng định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất chính là thể hiện bản chất trên dưới, tính mệnh lệnh, phục tùng trong tổ chức và điều hành của nền hành chính, bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính. Đó chính là đặc trưng của nền hành chính, không thể giống và không thể đem các đặc trưng này để đặt vào hệ thống các cơ quan dân cử. Vì vậy, không thể hiểu Quốc hội như là cơ quan cấp trên của Hội đồng nhân dân. Điều này một lần nữa khẳng định việc cần thiết phải xem lại quy định hiện hành của Hiến pháp “Quốc hội là cơ quan QLNN cao nhất”.

Tuy nhiên, quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội thì cần phải được nghiên cứu, đánh giá lại. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định này dễ dẫn đến quan niệm Chính phủ như một cơ quan cấp dưới của Quốc hội; rằng quy định này đã không phản ánh đúng tính chất và vị trí của Chính phủ trong tổ chức thực thi QLNN ở Việt Nam theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó Chính phủ được phân công thực thi quyền hành pháp. Theo nguyên tắc phân công này, chức năng của Quốc hội là làm luật, còn Chính phủ là tổ chức thi hành luật. Về bản chất, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp tức là quyền tổ chức thi hành luật, chứ không phải là chấp hành các mệnh lệnh của Quốc hội. Mặt khác, cũng không nên hiểu một cách đơn giản rằng Chính phủ chỉ là cơ quan chấp hành, phục tùng những nghị quyết, các đạo luật của Quốc hội. Thực thi quyền hành pháp không chỉ đơn thuần là quyền tổ chức thực thi luật mà Chính phủ còn thực hiện nhiều quyền năng khác trong tổ chức và điều hành bộ máy hành chính nhà nước, trong quản lý đất nước, bao gồm cả quyền đưa ra sáng kiến lập pháp và quyền đệ trình các dự án luật, tức là tham gia cả vào hoạt động lập pháp (ở các nước có NNPQ phát triển cũng vậy).

Chính phủ cũng như Quốc hội, Toà án, mỗi cơ quan có một vị trí, chức năng, một sứ mệnh riêng trong việc phối hợp thực thi QLNN. Và do vậy, không nên coi cơ quan nào cao hơn hay quan trọng hơn cơ quan nào, không có cấp trên, cấp dưới, không có cơ quan nào lãnh đạo cơ quan nào mà đều thực thi các chức năng và nhiệm vụ theo luật định, và thậm chí còn kiểm soát (chế ước) lẫn nhau trong thực thi quyền lực. Mặc dù, trong thiết chế dân chủ và NNPQ thì Quốc hội là người lập nên Chính phủ, Toà án, và các cơ quan này đều phải chịu trách nhiệm chính trị và phải báo cáo công tác trước Quốc hội.

Về trách nhiệm của Chính phủ: Cũng tại Điều 109 quy định “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước”. Theo chúng tôi cũng cần phải “giải mã” quy định này ở một số khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, Chính phủ phải chịu trách nhiệm chính trị trước Quốc hội. Vì Chính phủ là cơ quan do Quốc hội lập nên. Quốc hội là cơ quan dân cử, đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra. Vì vậy, Quốc hội có quyền đại diện cho nhân dân thành lập Chính phủ cũng như các thiết chế nhà nước khác. Ở nhiều nước, Quốc hội có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ, thậm chí có quyền lật đổ Chính phủ (ở các nước theo chính thể cộng hoà đại nghị), nhưng để chế ước và kiểm soát quyền lực lẫn nhau thì Chính phủ lại có quyền yêu cầu giải tán Quốc hội.

Ở Việt Nam, theo Hiến pháp 1992 (Điều 84 đã được sửa đổi) mới chỉ có quy định Quốc hội có quyền “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”, chưa có quy định về bỏ phiếu tín nhiệm (hay bất tín nhiệm) đối với Chính phủ; còn Chính phủ thì cũng không có quyền thể hiện ý kiến về bất hợp tác đối với Quốc hội. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ: Nghị viện có quyền biểu quyết không tín nhiệm Nội các và buộc Nội các mất tín nhiệm phải từ chức.

Thứ hai, Chính phủ phải chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước Quốc hội, bởi trong tổ chức thực thi QLNN thì Chính phủ là cơ quan thực thi quyền hành pháp, Chính phủ phải có trách nhiệm thực hiện Hiến pháp, các nghị quyết, luật của Quốc hội. Còn Quốc hội thì thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

Ngoài trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, Chính phủ còn phải báo cáo công tác với Chủ tịch nước và UBTVQH, vì Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, là Nguyên thủ quốc gia; còn UBTVQH là cơ quan thường trực của Quốc hội giữa hai kỳ họp và được Quốc hội giao thực hiện một số quyền hạn nhất định.

Về nhiệm vụ trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội: Trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ được quy định tại Điều 112 có một nhiệm vụ rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc phân công, phối hợp thực thi QLNN giữa Quốc hội và Chính phủ, đó là nhiệm vụ trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội, UBTVQH. Ở góc độ phân công và phối hợp thực thi giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp, đặc biệt là ở khía cạnh kiểm soát quyền lực, chúng tôi thấy cần phải làm rõ thẩm quyền này của Chính phủ. 

Thực tiễn lập pháp Việt Nam cho thấy, vai trò tham gia hoạt động lập pháp của Chính phủ trong từng giai đoạn của quy trình làm luật là rất lớn. Chính phủ chịu trách nhiệm soạn thảo và đệ trình tới gần 90% các dự án luật ra Quốc hội. Vậy nhiệm vụ trình dự án luật trước Quốc hội là như thế nào? Đây thuần túy là trách nhiệm soạn thảo và trình dự án luật, còn việc chấp nhận hay không chấp nhận, thông qua hay không thông qua là quyền của Quốc hội? Chính phủ có quyền rút các dự án luật nếu dự án đó bị Quốc hội chỉnh sửa không theo mong muốn của Chính phủ không? Thực tiễn khi soạn thảo và trình Quốc hội ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2008 đã diễn ra một cuộc tranh luận giữa hai quan điểm có hay không có quyền rút lại dự án luật của Chính phủ. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, quyền lập pháp là của Quốc hội, Chính phủ chỉ là người được phân công soạn thảo, trình Quốc hội một dự án luật, sau khi Chính phủ đã trình rồi (giai đoạn 1) thì việc xem xét, chỉnh sửa như thế nào, thông qua hay không thông qua là quyền của Quốc hội (giai đoạn 2 - tức là trình Quốc hội lần hai). Đó là quyền quyết định luật của Quốc hội và thuộc loại quyền không thể chia sẻ. Chính phủ có quyền bảo vệ dự án luật nhưng không có quyền rút lại dự án luật.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, Chính phủ là cơ quan soạn thảo luật, là cơ quan quản lý nhà nước và Chính phủ cũng có những mục tiêu điều chỉnh, những định hướng chính sách mà Chính phủ theo đuổi. Và nếu dự án luật bị chỉnh sửa làm thay đổi nội dung định hướng chính sách của Chính phủ, mục tiêu điều chỉnh của luật không đạt được thì Chính phủ có quyền rút lại dự án luật. Quan điểm này cũng có những nhân tố hợp lý ở phương diện quản lý nhà nước, nhưng có vẻ như yếu thế hơn và không được thuyết phục lắm ở góc độ phân công và thực thi QLNN. Và vì vậy, quan điểm thứ hai đã không được ủng hộ và chấp nhận trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, mặc dù Chính phủ vẫn có quyền bảo vệ dự án luật trước Quốc hội.

Chúng tôi cho đây là một vấn đề cần phải được nhìn nhận thấu đáo ở phương diện phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực thi QLNN. Ở các nước theo chính thể cộng hòa tổng thống hoặc cộng hòa đại nghị, dù theo học thuyết tam quyền phân lập - phân chia quyền lực tuyệt đối hay mềm dẻo thì ở các mức độ khác nhau, Tổng thống ở chính thể cộng hòa tổng thống hay nguyên thủ quốc gia ở các nước theo chính thể đại nghị đều có quyền phủ quyết luật của Quốc hội, thậm chí nguyên thủ quốc gia ở các chính thể đại nghị còn có quyền yêu cầu giải tán Quốc hội. Tuy nhiên, theo Hiến pháp 1992, ở Việt Nam, Chủ tịch nước - nguyên thủ quốc gia không phải là người đứng đầu hành pháp và cũng không có quyền phủ quyết luật của Quốc hội mà chỉ có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh của UBTVQH. Ngược lại, Quốc hội cũng không có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ mà chỉ có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (khoản 7 Điều 84 Hiến pháp 1992 sửa đổi).

Như vậy, Hiến pháp 1992 chưa có các quy định về chế ước hay kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực thi quyền lập pháp và hành pháp như các nước có NNPQ phát triển. Vì vậy, sửa đổi Hiến pháp tới đây cần có những bổ sung trong chế ước và kiểm soát quyền lực giữa hai cơ quan thực hiện hai nhánh quyền lực này. Hoặc là phải có cơ chế để Chính phủ có quyền đề nghị Quốc hội thảo luận lại các dự án luật được Quốc hội thông qua nếu thấy cần thiết (có thể thông qua Chủ tịch nước) và cần phải được quy định trong Hiến pháp; hoặc là Luật Ban hành VBQPPL cần phải quy định Chính phủ có quyền rút lại dự án luật trước Quốc hội. Nếu cả hai giải pháp này không được tính đến thì không thể có cơ chế kiểm soát quyền lực giữa hai nhánh quyền lực này (ở chiều Chính phủ với Quốc hội). Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI cũng đã ghi nhận một nội dung rất quan trọng đó là sự kiểm soát quyền lực lẫn nhau giữa các cơ quan được phân công thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi đề nghị nên sửa đổi, bổ sung Điều 109 của Hiến pháp 1992 theo hướng Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, và cũng nên khẳng định rõ rằng Chính phủ được phân công thực hiện quyền hành pháp. Đồng thời, cần phải bỏ quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội như quy định hiện hành. Theo đó, nên sửa đổi đoạn đầu của Điều 109 như sau: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Chính phủ được phân công thực hiện quyền hành pháp…” 

Về mối quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa Quốc hội và Chính phủ, đề nghị cần sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp theo hướng: Quốc hội không chỉ có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn như quy định của Hiến pháp hiện hành, mà còn có quyền bỏ phiếu tín nhiệm (hoặc bất tín nhiệm) đối với Chính phủ. Ngược lại, Chính phủ cũng có quyền đề nghị Chủ tịch nước để Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội thảo luận lại việc bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ. Từ đó, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp như sau:

- Bổ sung một khoản vào Điều 84 Hiến pháp 1992: “Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

…Quốc hội có quyền bỏ phiếu tín nhiệm (hoặc bất tín nhiệm) đối với Chính phủ và những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, UBTVQH hoặc của một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.

Trong thời hạn 72 giờ sau khi Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ, Chính phủ có quyền đề nghị Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội hoặc Chủ tịch nước tự đề nghị Quốc hội thảo luận lại. Sau cuộc thảo luận lại, nếu Quốc hội vẫn bỏ phiếu bất tín nhiệm thì Chính phủ phải từ chức.

Những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn phải từ chức nếu Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm.”

-  Sửa đổi đoạn cuối Điều 109 như sau: “…Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội; báo cáo công tác với Quốc hội, UBTVQH và Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trả lời và giải trình các chất vấn của đại biểu Quốc hội”.

- Bổ sung một đoạn vào cuối đoạn hai Điều 98 như sau: “…Trong thời gian Quốc hội không họp, UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để các đại biểu Quốc hội thực hiện quyền chất vấn”.

- Sửa đổi đoạn hai Điều 110 như sau: “...Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội; báo cáo công tác với Quốc hội; trả lời và giải trình các chất vấn của đại biểu Quốc hội; báo cáo công tác với UBTVQH và Chủ tịch nước”.

4. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát thực thi quyền lực

Điều 101 Hiến pháp 1992 quy định “Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa XHCN Việt Nam về đối nội và đối ngoại”. Như vậy, Chủ tịch nước có vị trí, vai trò là nguyên thủ quốc gia, do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.

Chế định Chủ tịch nước ở Việt Nam theo Hiến pháp 1992 là một chế định rất đặc biệt, không thuộc cơ quan hành pháp mà lại độc lập và được trao thực hiện một số nhiệm vụ của một nguyên thủ quốc gia, có tính chất đại diện cho Nhà nước trong đối nội cũng như đối ngoại. Tuy nhiên, khác hẳn với Hiến pháp 1992, Hiến pháp 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa lại quy định Chủ tịch nước là người đứng đầu hành pháp. Vị trí, vai trò và nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 ngoài những nhiệm vụ là nguyên thủ quốc gia như đối với Hiến pháp 1992 thì Chủ tịch nước còn là người đứng đầu Chính phủ, chủ tọa Hội đồng Chính phủ.

Theo quy định tại Điều 103 và Điều 105 Hiến pháp 1992 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước có một số vấn đề đáng lưu ý sau:

- Với tư cách là người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch nước có nhiệm vụ, quyền hạn: Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Đây là những nhiệm vụ thể hiện quyền hạn của người đứng đầu Nhà nước.

- Trong mối quan hệ phân công, phối hợp giữa Chủ tịch nước với Chính phủ, Điều 105 có quy định rất quan trọng đó là “Khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ”. Tuy nhiên, Hiến pháp cũng chỉ dừng lại ở quy định rất chung này mà chưa rõ ràng ở chỗ: trường hợp xét thấy cần thiết là trường hợp nào? Chính bởi vì không xác định được cụ thể là trường hợp nào nên trên thực tế, hầu như rất ít trường hợp Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của Chính phủ; hoặc khi tham dự phiên họp của Chính phủ thì Chủ tịch nước có những quyền hạn gì? Có quyền can thiệp vào các quyết nghị của Chính phủ không? Chắc là không nhưng ngay cả điểm này cũng không rõ nên càng làm cho Chủ tịch nước không thấy được sự cần thiết phải tham gia các phiên họp của Chính phủ. Luật Tổ chức Chính phủ hiện hành cũng chưa có quy định gì cụ thể hơn so với Hiến pháp, ngoài quy định: “Chính phủ mời Chủ tịch nước tham dự các phiên họp của Chính phủ. Trình Chủ tịch nước quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước”4.

Về phía Chính phủ, ngoài quy định tại Điều 105 Hiến pháp nói trên, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có tránh nhiệm báo cáo công tác với Chủ tịch nước (Điều 109, 110). Trách nhiệm báo cáo này của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ xuất phát từ địa vị, vai trò của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, ngoài ra cũng còn vì Chủ tịch nước chính là người đề nghị nhân sự Thủ tướng cho Quốc hội bầu và là người quyết định bổ nhiệm các thành viên khác của Chính phủ trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội. Mặt khác, Chính phủ là bộ máy hành pháp, được phân công thực thi quyền hành pháp nên về nguyên tắc, Chính phủ, Thủ tướng phải có trách nhiệm báo cáo công tác với cả Quốc hội và cả với người đứng đầu Nhà nước.

Từ thực tiễn thực thi vai trò của Chủ tịch nước hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng, cần nghiên cứu đổi mới chế định Chủ tịch nước. Việc đổi mới có thể theo hai hướng: hoặc là Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người có quyền điều hành bộ máy hành pháp như quy định của Hiến pháp 1946; hoặc là chế định Chủ tịch nước vẫn nên giữ như hiện hành, nhưng cần bổ sung thêm một số quyền hạn theo hướng có sự phối hợp và kiểm soát quyền lực với các cơ quan thực thi quyền lực khác.

Chúng tôi cho rằng, trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thiết kế chế định Chủ tịch nước như mô hình Hiến pháp 1946 là khó khả thi, mà nên lựa chọn theo hướng thứ hai nói trên. Từ đó, đề nghị sửa đổi, bổ sung các điều sau:

- Sửa đổi, bổ sung Khoản 7 Điều 103 như sau: “Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

7. Trên cơ sở đề nghị của Chính phủ hoặc Chủ tịch nước tự đề nghị Quốc hội xem xét lại luật, đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua; nếu luật đó vẫn được Quốc hội biểu quyết tán thành thì Chủ tịch nước buộc phải công bố luật; nếu pháp lệnh đó vẫn được UBTVQH tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất”.

- Sửa đổi, bổ sung Điều 105 như sau:“Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của UBTVQH và Chính phủ bàn về những vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước được quy định tại Điều 103 Hiến pháp hoặc khi xét thấy cần thiết; tại phiên họp, Chủ tịch nước có quyền phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề thuộc phạm vi quyết nghị của UBTVQH và Chính phủ.”

5. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, Viện kiểm sát trong mối quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát thực thi quyền lực

Trong tổ chức thực thi QLNN, Tòa án được phân công thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp 1992 quy định: “Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Mặt khác, một trong những nguyên tắc tối thượng trong hoạt động xét xử, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án là Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do vậy, mối quan hệ phối hợp trong thực thi quyền lực giữa Quốc hội, Chính phủ với Tòa án được phân định rất rõ ràng, rành mạch. Tuy nhiên, để giải quyết mọi khía cạnh của việc phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan được phân công thực thi QLNN, Hiến pháp cũng cần phải quy định một vấn đề rất mới và cũng rất cần thiết đó là xây dựng mô hình, cơ chế bảo hiến. Cần có thiết chế bảo hiến (có thể là Tòa án Hiến pháp) thì vấn đề kiểm soát quyền lực mới được giải quyết một cách tổng thể và trọn vẹn.                                   

 Khác với hầu hết các nước phát triển có chế độ NNPQ, quyền tư pháp được giao cho một cơ quan đảm nhiệm, đó là Tòa án, thì ở Việt Nam, Liên bang Nga cũng như một số nước chuyển đổi khác từ mô hình Nhà nước XHCN kiểu Liên xô cũ, quyền tư pháp (ngoài xét xử) gần như được giao thêm cho một cơ quan nữa đảm nhiệm, đó là Viện kiểm sát. Cơ quan này vừa được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố, vừa được giao nhiệm vụ kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất (trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi vào năm 2001, Viện kiểm sát thậm chí còn được giao nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của mọi chủ thể trong xã hội).

Tuy nhiên, nhiệm vụ cải cách tư pháp trong thời gian tới theo Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị về hình thành cơ quan công tố, chắc chắn đây sẽ là vấn đề cần cân nhắc trong việc sửa đổi Hiến pháp tới đây, gắn liền với cải cách hệ thống các cơ quan Viện kiểm sát. Theo chúng tôi, nên bỏ mô hình cơ quan Viện kiểm sát như hiện nay, chuyển Viện kiểm sát thành cơ quan công tố thuộc Chính phủ, chỉ làm chức năng công tố, không làm chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp nữa. Tất nhiên, điều này phải đồng bộ với việc thiết lập cơ chế bảo hiến, nếu không sẽ trở thành khập khiễng, thiếu cơ chế để kiểm soát đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Theo đó, đề nghị bỏ hẳn các quy định về Viện kiểm sát nhân dân ở Chương X của Hiến pháp hiện hành, bổ sung các quy định mới về cơ quan công tố thuộc Chính phủ.

 

(1) Nói như vậy không có nghiã là mô hình chính thể của chúng ta, Hiến pháp của chúng ta hoàn toàn khác và xa lạ với các mô hình chính thể này. Thực tế thì Chính thể của chúng ta, các bản Hiến pháp của chúng ta cũng có nhiều điểm tương đồng được kế thừa và phát triển từ những ưu việt của các mô hình chính thể này, đặc biệt là chính thể cộng hòa đại nghị.

(2) Cũng có ý kiến cho rằng, mọi quyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân, điều đó đúng. Tuy nhiên, đối với một đạo luật như Hiến pháp thì không cần thiết phải ghi nhận mọi quyền lực trong xã hội đều thuộc về nhân dân, điều quan trọng là Nhà nước phải khẳng định trong Hiến pháp quyền lực nhà nước phải thuộc về nhân dân, để người dân thấy được bản chất vì dân của loại quyền lực quan trọng nhất trong xã hội và người dân chính là người chủ của quyền lực nhà nước. Và điều này làm cho Hiến pháp có những khác biệt với một bản tuyên ngôn chính trị.

(3) Cũng có ý kiến cho rằng, không nên nói Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, vì Chính phủ được phân công thực thi quyền hành pháp thì chỉ thực hiện chức năng hành pháp, không tham gia điều hành cụ thể nền hành chính nhà nước, việc này thuộc thẩm quyền của Thủ tướng và các Bộ trưởng, người đứng đầu chính quyền địa phương.

(4) Điều 38, Luật Tổ chức Chính phủ.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi