Kiểm soát quyền lực nhà nước bằng hệ thống Viện kiểm sát ở Việt Nam trong bối cảnh sửa đổi Hiến pháp hiện nay

1. Đề dẫn. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI và Cương lĩnh năm 1991 “Về xây dựng đất nước trong thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội” (Phát triển, bổ sung năm 2011) lần đầu tiên sau hơn 60 năm qua (kể từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà vào năm 1945 và thông qua Hiến pháp năm 1946 đến nay) đã đưa ra luận điểm mang tính chỉ đạo mới rất quan trọng là: “Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thiết chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Do vậy, trong quá trình sửa đổi Hiến pháp (SĐHP) năm 1992 (lần thứ 2) của giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ) Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu về mặt lý luận những vấn đề kiểm soát quyền lực (KSQL) nhà nước (nói chung) và bằng các quy phạm hiến định (QPHĐ) về hệ thống Viện kiểm sát nhân dân - VKSND (nói riêng) để đưa ra mô hình hiến định khả thi cho cơ chế này trong một Hiến pháp thực sự là của nhân dân - dân chủ và pháp quyền theo tư tưởng lập hiến Hồ Chí Minh rõ ràng là có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý, cũng như ý nghĩa khoa học - thực tiễn quan trọng trên các bình diện sau đây:

1.1. Về mặt lập pháp, vào năm 2001 trước đây bằng việc sửa đổi lần thứ nhất Hiến pháp năm 1992 hiện hành, thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật với tư cách là một cơ chế KSQL nhà nước nói riêng bằng hệ thống VKSND đã không còn tồn tại; tiếp theo đó 5 năm, luận điểm tiến bộ và dân chủ nêu trên của Đại hội Đảng lần thứ X (năm 2006) đã đưa ra vấn đề xây dựng cơ chế tài phán Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp - tức là cơ chế bảo vệ hiến pháp (BVHP) bằng nhánh quyền tư pháp (QTP) hoặc nhánh quyền kiểm tra Hiến pháp (KTrHP) để đưa ra phán quyết về mặt pháp lý đối với vụ việc tố tụng về Hiến pháp được xem xét. Nhưng rất tiếc là hiện nay chúng ta vẫn chưa thực hiện được tinh thần của Đại hội X để có được một cơ chế hiến định độc lập thuộc một trong hai nhánh quyền lực đã nêu để KSQL nhà nước đầy đủ đúng với nghĩa của nó - sự kiểm tra các vi phạm Hiến pháp, gọi tắt là KTrHP + sự kiểm tra các vi phạm pháp luật (VPPL), gọi tắt là kiểm sát chung - KSC (vì hiện nay Hiến pháp vẫn bỏ trống công đoạn sau này).

1.2. Về mặt thực tiễn, chính sự bất cập của việc không có cơ chế KSQL nhà nước bằng hệ thống VKSND (nói riêng) đã dẫn đến thực trạng VPPL trong đất nước tăng lên trước năm 2001 rất nhiều, gây bức xúc trong xã hội. Vì trong Thư “V/v góp ý bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992” đề ngày 12/11/2011 của Tổng Bí thư Ban chấp hành Trung ương Đảng Đỗ Mười (giai đoạn 1991 - 1997) gửi 4 đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước + 4 Giáo sư của Khoa Luật - ĐHQGHN đã viết: “Việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật nhiều năm trở lại đây không nghiêm, thực trạng tiêu cực, tham nhũng trong nhiều lĩnh vực đã làm xói mòn lòng tin của nhân dân. ảnh hưởng xấu đến sự ổn định hệ thống chính trị” (các dòng 1 - 4 trang 1 của Thư) và sau chỉ có sau khi Hội nghị Trung ương 5 khoá XI kết thúc (ngày 15/5/2012), thì ngày 17/5/2012 Báo “Lao động” số 112 (ra ngày thứ năm) có đăng (không đầy đủ) nội dung Thư của đồng chí Đỗ Mười.

1.3. Về mặt lý luận, tuy nhiên cho đến nay trong khoa học pháp lý (KHPL) nước nhà vẫn chưa có nghiên cứu chuyên khảo nào đề cập riêng đến việc phân tích về mặt lý luận những vấn đề KSQL nhà nước bằng các quy phạm hiến định về hệ thống VKSND nhằm góp phần đưa các luận điểm chỉ đạo rất tiến bộ và dân chủ nêu trên của Đảng vào cuộc sống để làm cho sự vận hành của bộ máy quyền lực (BMQL) nhà nước và hoạt động của các quan chức trong các cơ quan công quyền thuộc tất cả các nhánh quyền lực nhà nước được tuân thủ đúng Hiến pháp và pháp luật, góp phần xây dựng thành công một Nhà nước pháp quyền (NNPQ) đích thực của nhân dân - do nhân dân và vì nhân dân ở Việt Nam.

2. Như vậy, sự phân tích trên ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý, cũng như ý nghĩa khoa học - thực tiễn của việc nghiên cứu những vấn đề đã nêu không chỉ cho phép khẳng định tính cấp bách của chúng, mà còn là lý do luận chứng cho tên gọi của bài viết này của chúng tôi. Tuy nhiên, do tính chất đa dạng, phức tạp và nhiều khía cạnh của những vấn đề lý luận liên quan đến KSQL nhà nước bằng các QPHĐ về hệ thống VKSND trong bối cảnh SĐHP của giai đoạn xây dựng NNPQ (vì ngay mỗi vấn đề có liên quan đến tên gọi bài viết này cũng có thể trở thành những đối tượng NCKH riêng biệt và được đề cập trong nhiều cuốn sách chuyên khảo khác nhau) nên trong phạm vi một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học, chúng tôi chỉ có thể đề cập đến những vấn đề nào mà theo quan điểm của chúng tôi là chủ yếu và quan trọng hơn cả.

3. Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của cơ chế KSQL nhà nước bằng hệ thống VKSND trong giai đoạn xây dựng NNPQ. Trong KHPL Việt Nam đương đại khi bàn về các cơ chế KSQL nhà nước (như: Thanh tra, kiểm tra, kiểm sát và kiểm toán), thì quan điểm được thừa nhận chung là để có thể kiểm soát được thực sự (chứ không phải chỉ hình thức), thì cơ chế đó phải đạt được ít nhất hai đòi hỏi (tiêu chí) bắt buộc là: 1) Bản thân cơ chế đấy phải có đủ quyền năng để kiểm soát được các cơ cấu quyền lực khác, chứ không thể nằm chung trong cùng một cơ cấu quyền lực mà nó cần phải kiểm soát (cả về mặt pháp lý và trên thực tế) vì nếu nằm chung trong cùng một cơ cấu quyền lực (là bộ phận hợp thành của cơ cấu quyền lực nào đấy) thì hoạt động kiểm soát đối với cơ cấu quyền lực đó hoàn toàn là vô nghĩa (vì chẳng khác nào “vừa đá bóng, vừa thổi còi”) và; 2) Ở mức độ nào đó, cơ chế kiểm soát đấy phải có sự độc lập nhất định (không bị phụ thuộc hoặc bị chỉ đạo) đối với cơ cấu mà nó cần kiểm soát. Như vậy, xuất phát từ nhận thức - khoa học về vấn đề KSQL nhà nước, đồng thời từ thực tiễn tổ chức bộ máy quyền lực (BMQL) nhà nước ở các NNPQ đích thực có hệ thống VKSND (Viện Công tố) và ở Việt Nam (trong giai đoạn hơn 50 năm có kiểm sát chung (KSC), tức là từ năm 1959 đến năm 2001) cho phép đưa ra khái niệm đang nghiên cứu như sau: Cơ chế KSQL nhà n­ước bằng các QPHĐ về hệ thống VKSND là tổng thể các phương thức, khả năng và quy tắc được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hoá trong luật với tư cách là những cơ sở pháp lý để VKSND được Hiến pháp trao cho thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan hành pháp (CQHP) và các cơ quan tư pháp (CQTP) dựa vào đó kiểm tra tính phù hợp với pháp luật của các văn bản do các cơ quan này ban hành, cũng như những hành vi được thực hiện trên cơ sở các văn bản đó, nhằm bảo vệ các quyền và tự do hiến định của con người và của công dân, tránh khỏi các vi phạm pháp luật (VPPL), cũng như những hành vi lộng quyền và chuyên quyền, nhược quyền và độc đoán, quan liêu và tùy tiện của các CQHP, các CQTP và các công chức trong các cơ quan này, góp phần bảo đảm cho quá trình tổ chức BMQL nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh trong giới hạn và theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Từ định nghĩa khoa học của khái niệm này về KSQL nhà nước bằng các QPHĐ về hệ thống VKSND cho thấy những đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của nó như sau: 1) Là tổng thể các phương thức, khả năng và quy tắc được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hoá trong luật; 2) Là những cơ sở pháp lý để các cơ quan VKSND được Hiến pháp trao cho thẩm quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các CQHP và các CQTP (tức là KSC); 3) Là để hệ thống VKSND dựa vào đó triển khai hoạt động kiểm tra tính hợp pháp của các văn bản do các CQHP và CQTP ban hành, cũng như những hành vi được thực hiện trên cơ sở các văn bản đó; 4) Là nhằm bảo vệ các quyền và tự do hiến định của con người và của công dân tránh khỏi các VPPL, cũng như những hành vi lộng quyền và chuyên quyền, nhược quyền và độc đoán, quan liêu và tuỳ tiện của các CQHP, các CQTP và của các công chức nhà nước trong các cơ quan này; 5) Là nhằm góp phần bảo đảm cho quá trình tổ chức BMQL nhà nước được thực hiện nghiêm chỉnh trong giới hạn và theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

4. Những ưu điểm đã được khẳng định và kiểm định trong thực tiễn của cơ chế KSQL nhà nước (bao gồm cả KSC của VKSND). Việc nghiên cứu lịch sử tổ chức BMQL nhà nước từ cổ đại đến đương đại trên thế giới đã và đang minh chứng bản chất tiến bộ và dân chủ của cơ chế kiểm soát (đích thực chứ không phải giả vờ) quyền lực nhà nước (trong đó có cả bằng hệ thống VKSND) trên các bình diện chính sau đây: 

4.1. Một là, KSQL nhà nước từ lâu chính là ước vọng hàng nghìn năm của nhân loại tiến bộ mà các bậc thầy - tổ sư của nguyên tắc phân công quyền lực (J.Locke và Montequieu) đã đề xướng ra với mong muốn xây dựng nên một nhà nước mà trong đó các quyền và tự do của con người được bảo đảm thực sự để cho xã hội không phải chịu đựng những bất công, phi lý, cũng như sự lộng quyền và bạo hành do những người nắm quyền lực gây ra nhờ vào cơ chế KSQL ngay chính trong BMQL nhà nước.

4.2. Hai là, luận điểm tiến bộ - đầy tính nhân văn và được thừa nhận chung trong KHPL hàng trăm năm qua là: Việc KSQL nhà nước đích thực chỉ có thể đạt được trên cơ sở nguyên tắc phân công lao động quyền lực thành ba/bốn nhánh (Quyền lập pháp (QLP), Quyền hành pháp (QHP), QTP và quyền KTrHP) với tư cách là nguyên tắc cơ bản được thừa nhận chung quan trọng nhất của NNPQ. Vì rõ ràng là chỉ có trên cơ sở thực hiện một cách thực sự nghiêm túc và khoa học (chứ không thể chỉ là hình thức) nguyên tắc này, thì mới có thể bàn đến sự phân công, phối hợp KSQL thực sự và đồng thời mới có thể tạo ra được sự kiểm tra và cân bằng giữa các nhánh quyền lực nhà nước.

4.3. Ba là, chỉ có trên cơ sở sự thống nhất về quyền lực nhà nước ở chủ thể cao nhất (nhân dân), chính nguyên tắc phân công (chứ không phân chia!) lao động quyền lực trong NNPQ sẽ tạo nên được sự cân bằng quyền lực giữa các cơ quan công quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước đúng với nghĩa tích cực của nó - tức là sự kiểm tra và cân bằng (chế ước) lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực đó; vì ở đây cần phải hiểu đúng nghĩa tích cực của cơ chế “kiểm tra và cân bằng” với tư cách là hai yếu tố cấu thành rất chặt chẽ và khăng khít, biện chứng và thống nhất, tác động qua lại một cách hữu cơ và không thể tách rời nhau (chứ không phải của cái gọi là “kìm hãm hoặc kiềm chế” và “đối trọng” khi chưa có được sự nhận thức - khoa học đúng đắn về cơ chế này nên làm cho một số người không hiểu đúng bản chất tiến bộ của cơ chế tiến bộ và dân chủ ấy, nên cứ tưởng là có gì đó “ghê gớm” lắm).    

4.4. Bốn là, bản chất đích thực của hai phạm trù “kiểm tra” và “cân bằng“ là ở chỗ: 1) “Kiểm tra” (hoặc còn có cách gọi chưa chính xác là “kìm hãm” hay “kiềm chế”) - đó là bảo đảm cho việc tổ chức và thực hiện mỗi nhánh quyền lực được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn đời sống nhưng sự kiểm tra này không bao giờ là tuyệt đối mà luôn bị kiểm tra lại (kiềm chế) bởi hai nhánh quyền lực kia để cho cơ quan công quyền của mỗi nhánh và các quan chức của mỗi cơ quan tương ứng thuộc từng nhánh tuân thủ - chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật trong hoạt động của mình, nói một cách khác - đó chẳng qua chỉ là tạo ra ranh giới trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực công; 2) “Cân bằng” hay “chế ước” (còn gọi chưa đúng là “đối trọng”) đó là sự phân công một cách rõ ràng, rành mạch quyền lực (thẩm quyền - chức năng và trách nhiệm) tương xứng với các cơ quan công quyền thuộc các nhánh quyền lực nhà nước để sao cho tránh được sự lạm quyền, tức là bảo đảm được sự cân bằng quyền lực giữa các cơ quan thuộc các nhánh quyền lực này và không một nhánh nào có đủ cơ hội - khả năng để lấn át nhánh quyền lực kia.

4.5. Năm là, thực tiễn tổ chức BMQL trong một loạt các nhà nước cực quyền trên thế giới đã cho thấy, nếu như sự phân công giới hạn và phạm vi của việc tổ chức quyền lực nhà nước không minh bạch và không chặt chẽ, thì rõ ràng không thể nói gì đến cơ chế KSQL nhà nước một cách đích thực.

4.6. Sáu là, nếu cơ chế KSQL nhà nước không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn được thực thi thực sự (tức là bằng nhánh QTP hoặc nhánh quyền KTrHP đối với các nhánh quyền lực khác), thì toàn bộ hoạt động của bộ máy công quyền và các quan chức của bộ máy đó mới có thể tự giác vận hành theo đúng quỹ đạo của Hiến pháp và pháp luật, mới có thể tránh được sự tha hoá quyền lực với những nguy cơ không thể chấp nhận được trong một NNPQ đích thực nào và tất cả những người có lương tâm vì Tổ quốc và nhân dân - vì sự nghiệp xây dựng NNPQ Việt Nam của nhân dân - do nhân dân - vì nhân dân, cũng như Đảng và Nhà nước đều không thể chấp nhận được như: 1) Lạm quyền - vượt quyền hoặc nhược quyền; 2) Trong một số lĩnh vực sinh hoạt của đời sống xã hội vẫn còn tồn tại tình trạng là có cơ quan - tổ chức - đơn vị hay cá nhân người có chức vụ cao nào đó đứng trên (ngoài) pháp luật hoặc nằm ngoài sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; 3) Sự quan liêu - hách dịch - cửa quyền, thờ ơ - vô trách nhiệm - bàng quan trước những khổ đau - cực nhọc của những người dân lương thiện và nghèo khổ; 4) Tham nhũng, sử dụng công quỹ - tài sản - ngân sách của nhà nước (do người dân đóng thuế và lao động vất vả làm ra mới có được) vào các mục đích vụ lợi - cá nhân; 5) Lười biếng - không chịu khó học tập - nghiên cứu để tự nâng cao trình độ và tuy năng lực chuyên môn - công tác kém nhưng do sính bằng cấp - danh hiệu hão nên “chạy” bằng cấp - chứng chỉ để có được (mà không phải do thực chất) và bợ đỡ - xu nịnh - luồn lọt - mua chuộc cấp trên để thăng tiến; 6) Thoái hoá - biến chất - suy đồi về đạo đức và do đó, hệ luỵ tất yếu dẫn đến là mất lòng tin trong nhân dân, uy tín trong quần chúng rất thấp nên thường bị các đồng nghiệp thêu dệt chuyện tiếu lâm với ý mỉa mai - chê cười;...

4.7. Và cuối cùng, bảy là, sự tha hóa quyền lực với những nguy cơ không thể chấp nhận được đã được phân tích trên đây chủ yếu là do không có cơ chế KSQL nhà nước bằng QTP theo đúng nghĩa của nó (mà đặc biệt là thiếu sự kiểm tra và cân bằng giữa các cơ quan công quyền thuộc tất cả các nhánh quyền lực trong suốt quá trình tổ chức BMQL nhà nước) - bằng sự giám sát của hệ thống VKSND và bằng sự xét xử của hệ thốngTòa án.

5. Các quy phạm hiến định để thực hiện cơ chế KSQL nhà nước bằng hệ thống VKSND. Vì theo Phương án là hệ thống VKSND thuộc nhánh QTP nên chúng tôi cho rằng, mô hình này cần phải điều chỉnh bằng các QPHĐ của một Phần riêng biệt “Những cơ sở hiến định về quyền tư pháp” trong HPSĐ ở mức tối đa ít nhất là ba nhóm vấn đề tương ứng với ba Chương độc lập - “Các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp” (1), “Hệ thống Tòa án” (2) và “Hệ thống VKSND” (3). Tuy nhiên, do sự hạn chế của một bài viết đăng trên tạp chí khoa học (và hơn nữa trong số Tân Xuân tháng 2/2012 của tạp chí Kiểm sát đã đề cập phần nào rồi) nên tại các điểm 6 - 7 dưới đây, trong phạm vi bài này chỉ đề cập đến hai nhóm vấn đề (1 và 3).

6. Chương “Các quy định chung về tổ chức bộ máy tư pháp” cần bao gồm các quy phạm hiến định của hai Điều để ghi nhận hai nhóm vấn đề cơ bản - những nguyên tắc cơ bản của quyền tư pháp (1) và các cơ quan tư pháp (2), mà dưới đây sẽ xem xét cụ thể,

6.1. Điều về những nguyên tắc cơ bản của quyền tư pháp cần ghi nhận nội dung cụ thể theo hướng như sau:

1) Quyền tư pháp ở Việt Nam chỉ do các Tòa án và các VKSND thực hiện.

2) Những nguyên tắc cơ bản của quyền tư pháp ở Việt Nam là;

a) Quyền tư pháp ở Việt Nam được thực hiện bằng thủ tục tố tụng về Hiến pháp, hình sự và phi hình sự (hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình) nhằm bảo vệ những cơ sở của chế độ hiến định, nhân thân, các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như hòa bình và an ninh của nhân loại;

b) Tuyệt đối tuân thủ những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp này trong hoạt động tư pháp để bảo đảm cho hoạt động tư pháp thực sự độc lập vì sự thực thi công lý, công bằng và lẽ phải trong một NNPQ đích thực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

c) Độc lập chịu trách nhiệm trong quá trình thực hiện các chức năng, thẩm quyền được Hiến pháp và luật quy định đối với bộ máy tư pháp;

d) Hợp tác cùng với các nhánh quyền lực nhà nước khác trong việc thực hiện các chức năng, thẩm quyền của mỗi nhánh để bảo đảm cho cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các nhánh quyền lực nhà nước được thực thi một cách đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả cao trong các lĩnh vực hoạt động Nhà nước vì lợi ích chung của Tổ quốc và nhân dân;

đ) Thực sự công tâm, vô tư, khách quan và không được để cho bất kỳ sự thiên kiến chính trị hay sự tác động của cá nhân hay nhóm người nào có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động tố tụng tư pháp mà Hiến pháp và các Luật có liên quan quy định;

3) Các quy định của hệ thống pháp luật quốc gia về tổ chức và hoạt động của bộ máy tư pháp ở Việt Nam phải tuyệt đối tuân thủ và dựa trên các nguyên cơ bản được ghi nhận tại khoản 1 Điều này.

6.2. Điều về các cơ quan tư pháp (CQTP) cần ghi nhận nội dung cụ thể như sau:

1) Các CQTP ở Việt Nam bao gồm hệ thống Tòa án là các CQTP về xét xử và hệ thống VKSND là các CQTP về kiểm sát.

2) Các CQTP là độc lập, chỉ tuân theo Hiến pháp, pháp luật và không phụ thuộc vào bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào.

3) Các CQTP trong phạm vi những thẩm quyền và chức năng của mình có nhiệm vụ bảo vệ những cơ sở của chế độ hiến định, nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của cá nhân), các quyền và tự do của con người và của công dân, cũng như tính pháp chế tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, góp phần cùng cộng đồng quốc tế giữ gìn hòa bình và an ninh của nhân loại.

4) Chỉ có các CQTP về xét xử (Tòa án) mới có thẩm quyền giải quyết và đưa ra phán quyết cuối cùng về mặt pháp lý đối với các vụ, việc tố tụng về Hiến pháp, hình sự và phi hình sự (hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình).

5) Chỉ có các CQTP về kiểm sát (VKSND) mới có thẩm quyền kiểm sát việc việc tuân theo pháp luật của các cơ quan hành pháp theo hướng chỉ tập trung vào đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong BMQL nhà nước và kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ, việc tố tụng về hình sự và phi hình sự (hành chính, lao động, dân sự, kinh tế, hôn nhân và gia đình).

6) Bất kỳ hành vi nào (bằng hành động hoặc không hành động) nhằm can thiệp, cản trở, tác động hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đối với việc thực hiện thẩm quyền hiến định của các CQTP đều là sự vi phạm nghiêm trọng Hiến pháp và phải bị xử lý nghiêm khắc theo luật định. 

7. Chương “Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân” cần bao gồm các quy phạm hiến định của ba Điều để ghi nhận ba nhóm vấn đề cơ bản - địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống VKSND (3), những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của VKSND (2) và, địa vị pháp lý của KSV ở Việt Nam (3), mà xem xét cụ thể.   

7.1. Điều về địa vị pháp lý và cơ cấu của hệ thống VKSND cần ghi nhận nội dung cụ thể theo hướng như sau:

1) Hệ thống VKSND là các CQTP về kiểm sát của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bài viết có những luận chứng cho tên gọi này của Việt Nam đã được tạp chí Kiểm sát đăng trong số Tân Xuân - tháng 2/2012), độc lập thực hiện quyền tư pháp theo những thẩm quyền tương ứng do Hiến pháp và luật quy định.  

2) Hệ thống các VKSND được tổ chức tập trung và thống nhất từ dưới các địa phương đến TW tương ứng với hệ thống các TAND (thẩm quyền chung) như sau: a) Các VKSND khu vực; b) Các VKSND vùng; c) Các VKSND miền và; d) VKSNDTC. Nhằm bảo đảm cho tất cả các VKSND địa phương vẫn có sự lãnh đạo thống nhất và tập trung của Đảng cầm quyền, nhưng đồng thời việc thực hiện QTP (nói chung) và hoạt động của các CQTP về kiểm sát (nói riêng) cũng thực sự độc lập - không bị tác động của các cấp ủy địa phương tương ứng nơi đóng trụ sở của các VKSND khu vực, vùng hay miền, thì đối với tổ chức Đảng của hệ thống VKSND trên toàn quốc cũng cần được tổ chức lại tương ứng như của hệ thống TAND - từ các Chi bộ của các VKSND các khu vực, các Đảng bộ của các VKSND các vùng, của 3 miền và của VKSNDTC (ở TW) - cần được cần tổ chức theo hướng tập trung và thống nhất theo ngành dọc và cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngành KSND sẽ là Ban cán sự Đảng (hoặc Đảng đoàn) đặt ở trụ sở VKSNDTC.            

3) Viện kiểm sát nhân dân tối cao có những thẩm quyền sau đây: a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc nhánh QHP nhưng theo định hướng chỉ tập trung vào hoạt động đấu tranh phòng - chống tham nhũng trong BMQL nhà nước; b) Kiểm sát việc bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân (Nếu trong cơ cấu của Quốc hội không thành lập Tổng Thanh tra về nhân quyền để giám sát hoạt động này); c) Kiểm sát hoạt động điều tra tội phạm của các cơ quan Điều tra; d) Kiểm sát hoạt động thi hành các bản án, quyết định của các cơ quan Thi hành án; đ) Hướng dẫn và phối hợp hoạt động đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật; e) Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; f) Đưa ra sáng kiến lập pháp đối với những vấn đề có liên quan đến các lĩnh vực tổ chức - hoạt động và tố tụng thuộc thẩm quyền của hệ thống VKSND.

4) Việc thành lập các VKS quân sự các cấp do Luật “Về hệ thống VKSND ở Việt Nam” quy định.

5) Không được thành lập các VKS đặc biệt.

7.2. Điều về những nguyên tắc cơ bản về hoạt động của hệ thống VKSND cần ghi nhận nội dung cụ thể theo hướng như sau:

1) Hoạt động của hệ thống VKSND ở Việt Nam phải tuyệt đối tuân thủ nghiêm chỉnh những nguyên tắc cơ bản sau đây:

a) Nguyên tắc tập trung thống nhất - các Kiểm sát viên phục tùng Viện trưởng VKSND tương ứng của mình, Viện trưởng VKSND cấp dưới phục tùng Viện trưởng VKSND cấp trên, tất cả các Viện trưởng VKSND các cấp phục tùng Viện trưởng VKSNDTC;

b) Nguyên tắc độc lập - ngoài Viện trưởng VKSNDTC, hệ thống VKSND thực hiện thẩm quyền của mình không phụ thuộc vào bất kỳ cơ quan Nhà nước, tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng hay người có chức vụ nào;

c) Nguyên tắc pháp chế - hệ thống VKSND hoạt động trên cơ sở bảo đảm tính pháp chế tối thượng và hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp và của các Luật đối với các văn bản dưới Luật và các văn bản pháp quy khác;

d) Nguyên tắc công khai - hệ thống VKSND hoạt động công khai, trừ những trường hợp phải bảo vệ bí mật nghề nghiệp do pháp luật định; 

đ) Nguyên tắc giữ gìn đạo đức nghề nghiệp - các KSV khi vào ngành Kiểm sát phải tuyên thệ theo luật định và phải giữ gìn đạo đức nghề nghiệp của người cán bộ bảo vệ pháp luật;

e) Nguyên tắc báo cáo trước cơ quan dân cử - các VKSND định kỳ theo quy định của pháp luật phải báo cáo công tác trước các cơ quan đại diện quyền lực Nhà nước do dân cử về thực trạng của việc chấp hành pháp luật và tuân thủ pháp chế;

f) Nguyên tắc kiên định - nghiêm cấm bất kỳ hành vi (bằng hành động hoặc không hành động) nào nhằm cản trở, tác động hoặc gây ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các VKSND.   

2) Các quy phạm và những nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của pháp luật quốc tế về hoạt động công tố là bộ phận cấu thành của pháp luật quốc gia Việt Nam về hoạt động của hệ thống VKSND.

3) Những cơ sở pháp lý của việc tổ chức và hoạt động, của những thẩm quyền và của các đặc điểm hoạt động của hệ thống VKSND do Luật “Về hệ thống VKSND ở Việt Nam” quy định.   

4) Trong khi thực hiện hoạt động công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật thuộc thẩm quyền của mình, các VKSND ở Việt Nam có quyền viện dẫn trực tiếp các quy định của Hiến pháp, cũng như của các Luật và các văn bản dưới Luật tương ứng hiện hành khác.    

7.3. Điều về địa vị pháp lý của KSV ở Việt Nam cần ghi nhận về mặt hiến định những nội dung như sau:

1) Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 25, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ Đại học Luật và thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 5 năm trở lên có thể được Hội đồng tuyển chọn KSV thuộc VKSNDTC đề nghị Chủ tịch nước bổ nhiệm làm Kiểm sát viên VKSND địa phương theo nhiệm kỳ tương ứng với mỗi cấp (khu vực, vùng hoặc miền) như sau: a) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND khu vực là 5 năm và người được bổ nhiệm phải có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật; b) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND vùng là 8 năm và người được bổ nhiệm phải có thâm niên công tác từ 8 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật; c) Nhiệm kỳ của Kiểm sát viên VKSND miền là 12 năm và người được bổ nhiệm phải có thâm niên công tác từ 12 năm trở lên trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật.

2) Công dân Việt Nam ở trong độ tuổi không dưới 40, có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ Đại học Luật chính quy, có thâm niên công tác trong ngành, nghề liên quan đến pháp luật từ 15 năm trở lên và có trình độ chuyên môn giỏi có thể được Chủ tịch nước bổ nhiệm làm Kiểm sát viên VKSNDTC. Nhiệm kỳ của KSV VKSNDTC là 15 năm.

3) Ngoài các tiêu chuẩn hiến định nêu tại Điều này, Luật “Về địa vị pháp lý của các Kiểm sát viên ở Việt Nam” có thể quy định bổ sung một số tiêu chuẩn tương ứng đối với các Kiểm sát viên các VKSND mỗi cấp.  

4) KSV ở Việt Nam: a) Độc lập và chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật trong quá trình thực thi công vụ; b) Không thể bị bắt giam hoặc truy tố nếu không có căn cứ do pháp luật quy định; c) Chỉ có thể bị tạm đình chỉ hoặc tước các thẩm quyền công vụ trong trường hợp vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bị kỷ luật, bị truy cứu trách TNHS hoặc trong những trường hợp khác do pháp luật quy định.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi