Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đối chiếu với những luận điểm về phân quyền của Mông-te-ski-ơ và một số kiến nghị

I. ĐỐI CHIẾU NHỮNG LUẬN ĐIỂM VỀ PHÂN QUYỀN CỦA MÔNG-TE-SKI VỚI TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. Những luận điểm về phân quyền của Mông-te-ski (1689-1755)

 1) Luận điểm thứ nhất: Trong mỗi nhà nước đều có ba thứ quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Mông-te-ski[1] viết: "Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự. Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đ phòng xâm lược. Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, và trên kia là quyền hành pháp quốc gia[2].

 Thuật ngữ quyền lực được Mông-te-skidùng dạng số nhiều (tiếng Pháp: des pouvoirs) do đó phân quyền - separation des pouvoirs - không có nghĩa là chia nhỏ một đơn nguyên thành ba bộ phận mà là phân định, hay là tách biệt, ly khai ba chức năng quyền lực này. Như vậy các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp đây được hiểu là các chức năng của quyền lực nhà nước.

2) Luận điểm thứ hai: Cần có sự phân lập ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; nếu nhập lại vào trong tay một cơ quan hay một người thì có nguy cơ lạm quyền và dân chúng mất tự do.

Theo diễn đạt của Mông-te-skithì ba quyền này đang do một ông vua thực hiện, và do đó thường là "hung bạovà "chuyên chế nghiệt ngã”. Mông-te-skinhắc đi nhắc lại nhiều lần động từ "nhập lại”. Ông viết: "Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra luật độc tài và thi hành một cách độc tài”[3].

Tương tự, "cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.

Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết [4].

Như vậy, cần phải tách ba thứ quyền lực này ra và trao cho ba cơ quan khác nhau. Hơn nữa tư tưởng chủ đạo của Mông-te-skikhông chỉ là tách biệt, ly khai (phân lập) các thứ quyền lực ra mà quan trọng hơn là không được nhập các thứ quyền lực lại. Điểm đặc biệt chỗ: Mông-te-skikhông nói tách ra thì có lợi gì mà nói nếu nhập lại thì có hại gì. Cách đặt vấn đ theo hướng này của Mông-te-ski-ơ ít được các nhà nghiên cứu đ ý và phân tích thấu đáo trong các tài liệu viết về tư tưởng của Mông-te-ski-ơ. Mông-te-ski-ơ đặt ngược vấn đ như vậy là phù hợp với thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến đương thời, do ba quyền đã nhập lại trong tay một ông vua mà dẫn đến áp bức và chuyên chế độc tài.

Với ý nghĩa này thì phân quyền là phân định, hay phân công quyền lực, phân công các chức năng chung nhất của nhà nước chứ không phải là chia nhỏ quyền lực. Phân quyền là đ bảo đảm tự do cho nhân dân, tránh được  chuyên chế, độc tài[5].

3) Luận điểm thứ ba: Quyền lập pháp trao cho nghị viện - một cơ quan dân cử.

       Mông-te-skiviết "Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp chỉ thực hiện ý chí đó”[6].

Từ chỗ xác định vai trò của hai quyền này là thể hiện ý chí chung và thực hiện ý chí chung của quốc gia mà cần có cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động cũng như quan hệ giữa chúng với các quyền khác cho phù hợp. "Dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm được[7]. Quyền lập pháp cần được giao cho nghị viện - một cơ quan đại biểu, vì "dân chúng chỉ nên tham gia việc nước bằng cách chọn đại biểu của mình là những người đ năng lực làm việc”, "cơ quan đại biểu dân chúng không nên giải quyết các công việc cụ thể vì họ không thể làm tốt điều này. Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật, và xem xét người ta thực hiện luật như thế nào”, "điều này thì có thể làm tốt, và không ai làm tốt hơn là cơ quan đại biểu của dân[8]. Nghị viện có chức năng làm luật, quyết định thu thuế, ngân sách, giám sát việc thực hiện luật của hành pháp, có quyền công kích cơ quan hành pháp. Quyền quy định việc thu thuế là quyền quan trọng nhất của nghị viện, "nếu cơ quan hành pháp quy định việc thu thuế mà dân chúng không đồng tình thì không còn tự do nữa, vì như vậy là người hành pháp trở thành người lập pháp ngay điểm quan trọng nhất của việc lập pháp[9].

Như vậy, Mông-te-ski-ơ đã chỉ rõ: quyền lập pháp trao cho nghị viện - cơ quan dân cử - là tốt nhất.

Về cơ cấu tổ chức, theo Mông-te-ski, Nghị viện, với tư cách là " thể hiện ý chí chung của quốc giathì nên có hai viện: Viện của đại biểu dân chúng là Viện Lập pháp, có nhiệm vụ làm luật, còn Viện Quý tộc - Thượng viện - thì "tham gia công cuộc lập pháp với chức năng ngăn cản, chứ không có chức năng quy định”, "có thể bác bỏ ngân sách chứ không được sửa đổi ngân sách”. Như vậy Thượng viện - Viện Quý tộc - có vai trò rất lớn trong kiểm soát quyền lực đối với Hạ viện.

Về phương thức làm việc, hai viện "thảo luận riêng rẽ theo quan điểm của mình”."Nghị viện trong một thời gian khá dài không họp bàn gì cả thì cũng không có tự do”, vì như vậy "sẽ  hoặc không có nghị quyết lập pháp gì cả, nhà nước rơi vào tình trạng vô chính phủ”,  hoặc "các nghị quyết lập pháp cũ bị hành pháp nắm lấy và thao túng, thành ra tình trạng chuyên chế[10]. Mà nếu cơ quan lập pháp "cứ họp luôn luôn thì cũng vô ích”, như thế "sẽ làm cho cơ quan hành pháp quá bận rộn”, "không lo được việc chấp hành mà cứ lo bảo vệ quyền hạn chuyên trách của mình[11]. "Nếu nghị viện thay đổi xoành xoạch, khóa nào cũng như nhau cả, thì nhân dân sẽ thấy rõ cơ quan lập pháp đã bại hoại, chẳng hy vọng gì vào lập pháp nữa[12]. 

Như vậy, nghị viện không làm việc quanh năm như hành pháp nhưng cũng không thể làm việc quá ít, nghị viện phải làm việc sao cho những nghị quyết lập pháp, tức là luật không bị lạc hậu. Đây chính là cơ sở đ nghị viện tư sản là cơ quan dân cử hoạt động lập pháp năng động, không phải quanh năm nhưng ít nhất phải là một số tháng nhất định trong một kỳ duy nhất hay hai kỳ trong năm.

4) Luận điểm thứ  tư: Quyền hành pháp nên giao cho một người.

Theo Mông-te-skithì: "Quyền hành pháp thì phải trong tay một vị vua chúa, vì rằng quyền hành pháp luôn luôn cần đến một hành động nhất thời, đ cho một người làm thì hơn nhiều người cùng nắm, nó khác với lập pháp do nhiều người làm thì hơn là một người ban hành[13], và vì nó, cũng như lập pháp "không áp dụng chung cho một cá nhân”. Do điều kiện lịch sử mà Mông-te-skicho rằng, quyền hành pháp nên trao cho vua chúa. Ông chưa thể hình dung ra một nhân vật như Tổng thống Mỹ, một ông vua kiểu mới, ông vua được bầu cử theo nhiệm kỳ.

Về bố trí con người cụ thể cho hành pháp, Mông-te-skiquan niệm quyền hành pháp không nên giao cho người từ cơ quan lập pháp, không nên kiêm nhiệm hành pháp với lập pháp: "Nếu không có vua chúa thì quyền hành pháp sẽ ủy thác cho một số người trong cơ quan lập pháp, và như thế thì sẽ không còn quyền tự do nữa; vì hai quyền hành pháp và lập pháp nhập làm một, và mấy con người kia vừa nhúng tay vào cả quyền này và quyền kia[14]. Như thế có nghĩa là nghị sĩ không nên giữ chức vụ trong Chính phủ.

Hành pháp phải được bảo đảm tính độc lập, thể hiện trong sự bất khả xâm phạm của con người hành pháp: "Cá nhân con người hành pháp là bất khả xâm phạm, vì ông ta cần thiết cho quốc gia. Nếu cơ quan lập pháp xâm phạm ông ta thì sẽ trở thành chuyên chế và như vậy là không còn tự do[15]. đây cần hiểu là nếu là ông vua hay một Tổng thống, Thủ tướng nắm quyền hành pháp thì họ phải có được quyền miễn tố khi đang tại nhiệm. 

5) Luận điểm thứ năm: Quyền tư pháp không có vị trí cao như lập pháp và hành pháp nhưng cần độc lập.

Mông-te-skichỉ rõ vai trò to lớn của pháp quan, và chỉ ra rằng, khác với chính thể Italia, trong các chính thể chuyên chế châu Á, "đông đảo số lượng các pháp quan đã làm dịu bớt phương thức cầm quyềntức là làm giảm tính chất chuyên chế.

Theo ông, Tòa án phải độc lập, "quyền xét xử không gắn với một cơ quan nàovà "trở thành như vô hình, như là con số không”, dân chúng "sợ cơ chế cai trịchứ không phải là "sợ các quan cai trị[16]. Theo ông, "quyền tư pháp không nên kết hợp với quyền nào” (trừ ngoại lệ là khi truy tố nhà quý tộc thì không đưa ra xử tòa án thường mà đưa ra một bộ phận của cơ quan lập pháp xử)[17].

Về tổ chức tòa án: "Quyền phán xét không nên giao cho Viện Nguyên lão thường trực mà do những người trong đoàn thể dân chúng cử ra trong thời gian một năm đ lập thành toà án, làm việc bao lâu tùy theo sự cần thiết[18]. Như vậy là Mông-te-skimuốn nói đến tòa án bồi thẩm đoàn, một thứ "Tòa án không nên cố định[19]. Ông chủ trương bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án: "Các thẩm phán phải ngang địa vị như bị cáo hoặc những người đồng đẳng với bị cáo, để người bị cáo không nghĩ rằng mình đang nằm trong tay những kẻ sẵn sàng làm hại mình[20]. Mông-te-skichủ trương bảo đảm quyền chọn luật sư bào chữa trong các vụ hình sự lớn. Theo ông, trong các vụ hình án lớn, bị cáo phải được tự chọn luật sư bào chữa cho mình, hoặc ít ra có quyền từ chối luật sư đã được chỉ định mà bị cáo không thích[21].

6) Luận điểm thứ sáu: Quyền lập pháp và hành pháp là cân bằng, vừa có mối quan hệ phối hợp vừa kiềm chế lẫn nhau.

Mông-te-skicho rằng, không chỉ phân định các quyền mà quan trọng hơn là "cần phải thiết lập một trật tự mà theo đó các quyền lực có thể kiềm chế lẫn nhau[22]. Ngay trong quyền lập pháp cũng cần có kiềm chế "Quyền lập pháp gồm hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia”. Còn giữa lập pháp và hành pháp thì "cả hai bộ phận của lập pháp đều bị ràng buộc bằng quyền hành pháp, mà quyền hành pháp cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp”.

Mông-te-skiviết "Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp chỉ thực hiện ý chí đó”[23]. Tuy nhiên "không nên đ cho quyền lực lập pháp có được chức năng ngăn cản quyền lực hành pháp, vì quyền hành pháp có những giới hạn theo bản chất của nó, bao giờ cũng chỉ giải quyết những công việc nhất thời[24]. Mặc dù vậy, ông cho rằng cần có sự giám sát của lập pháp đối với hành pháp: "Trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào[25]. Như vậy quyền lập pháp không nên ngăn cản hành pháp nhưng có quyền giám sát hành pháp trong việc thực thi pháp luật.

 "Trong ba thứ quyền lực thì quyền tư pháp dường như không là cái gì cả; còn hai quyền lập pháp và hành  pháp lại cần có một một uy lực điều chỉnh đ dung hòa; mà bộ phận lập pháp gồm các nhà quý tộc là thích đáng đ phát huy tác dụng điều hòa này[26]. Quyền lập pháp liệu có thể "hạ mình trước tòa án luật định thấp kém hơn quyền lập pháp được không[27]. Như vậy, đối với Mông-te-ski-ơ, sự kiểm soát giữa lập pháp và hành pháp mới là chủ yếu.

Mông-te-skikết luận: "Đây là cấu trúc cơ bản của chính thể mà ta đang nói tới: Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc với nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia. Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp[28].

Tuy nhiên, trong khi kiểm soát lẫn nhau thì chúng vẫn phải phối hợp với nhau: "Cả ba  quyền lực này do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi và bất động. Tuy nhiên vì tính tất yếu của sự vật và vận động, nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng[29].

Cần nhấn mạnh một điều: Mông-te-skikhông đưa ra được mô hình rõ ràng về cơ chế kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau giữa ba quyền cũng như quy chế truy xét trách nhiệm của các quyền khi không thực hiện được vai trò của mình. Cơ chế kiềm chế, đối trọng phải đợi đến Hiến pháp Mỹ 1787 mới trở thành hiện thực. 

 Đáng lưu ý là Mông-te-skikhông quan tâm nhiều đến thứ bậc của các quyền lực như J.Lốc[30]. Nếu J.Lốc chủ trương Nghị viện phải có vị trí cao hơn vì "chỉ có duy nhất một loại quyền lực tối cao đó là quyền lập pháp, các quyền khác cần phải phụ thuộc quyền lập pháp[31], thì Mông-te-skichủ trương vừa phân công, phối hợp nhưng lại có sự kiểm soát quyền lực lẫn nhau phù hợp với tính chất hoạt động của chúng. Ông không chỉ rõ cơ quan nào có quyền cao hơn, đứng trên các cơ quan khác mà là làm sao chúng phải thực hiện đúng chức năng của mình.

Một điểm đáng lưu ý khác là trong khi xác định có ba thứ quyền lực thì Mông-te-ski  không xác định rõ các quyền lực đó có thuộc về một thứ quyền lực thống nhất và duy nhất nào đó hay không? Lúc bấy giờ Mông-te-skichỉ chú ý đến quyền lực của nhà vua mà không khẳng định quyền lực đó thuộc về nhân dân.

Về điểm này, J.Lốc triệt đ hơn Mông-te-ski-ơ. Tư tưởng về quyền lực nhà nước là thống nhất trong sự phân công thực hiện quyền lực  nhà nước của J.Lốc thể hiện tập trung trong tác phẩm "Chuyên luận thứ hai về chính phủ” (1690).

Theo J.Lốc, chỉ có một thứ quyền lực thống nhất đó là quyền lực nhà nước, nhưng quyền lực thống nhất đó phải được phân công cho các cơ quan nhà nước khác nhau. J.Lốc cho rằng "về bản chất, quyền lực nhà nước thống nhất là đương nhiên dù trong chính thể quân chủ, quý tộc hay dân chủ. Còn sự phân công không hề mâu thuẫn với tính thống nhất của quyền lực, đó chỉ là cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước mà thôi”[32].

Điểm khác thứ hai trong quan điểm của J.Lốc là: Trong các quyền của quyền lực nhà nước thống nhất thì vị trí tối cao thuộc về quyền lập pháp.

Đây là điểm nổi bật trong quan niệm về phân quyền của J.Lốc, khác với Mông-te-ski-ơ. J.Lốc khẳng định: "Mặc dù trong một nhà nước hợp hiến, dựa trên nguyên tắc của chính nó và hành động phù hợp bản chất của nó, tức là hành động vì sự bảo vệ xã hội thì chỉ có duy nhất một loại quyền lực tối cao đó là quyền lập pháp, các quyền khác cần phải phụ thuộc quyền lập pháp[33], "bởi lẽ quyền lập pháp là quyền được tín nhiệm bởi nhân dân và do đó nhân dân có quyền tối cao trong việc bãi bỏ hoặc thay thế quyền lập pháp[34].

Đ không xảy ra tình trạng sử dụng quyền lực một cách độc tài, J.Lốc giải thích thêm: "phải xây dựng những nguyên tắc về mối quan hệ và tương hỗ giữa các bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất. Hệ thống đó phải có tính thứ bậc, trong đó vị trí thứ nhất phải là quyền lập pháp, sau đó các quyền khác phải phục tùng lập pháp nhưng không phải một cách thụ động mà  phải có sự tác động tích cực trở lại đối với lập pháp[35]. Bằng cách nói như vậy, J.Lốc đã đ cao nghị viện (là thiết chế dân chủ đại diện cho quyền lực của giai cấp tư sản) trong cơ chế phân quyền nhưng lại không công khai đòi hỏi phải xóa bỏ chính thể quân chủ. "Quan điểm về phân quyền với việc đ cao Nghị viện đã phản ánh thái đ của  J.Lốc trước kết quả của cách mạng tư sản Anh năm 1688 là cuộc cách mạng mà giai cấp tư sản không giành được thắng lợi hoàn toàn[36]. Nói cách khác, J.Lốc "đã phải chấp nhận sự thỏa hiệp giữa một bên là giai cấp tư sản Anh vừa giành thắng lợi nhưng không triệt đ với bên kia là tầng lớp quý tộc Anh tuy không còn vị trí độc quyền nhưng vẫn còn nhiều quyền lực trong bộ máy chính phủ[37]. 

Như vậy, đối với J.Lốc, quan điểm về quyền lực nhà nước thống nhất và vấn đ phân công các chức năng cho lập pháp, hành pháp là hai vấn đ được ông xác định rõ ràng. Có lẽ về điểm này (tức tính thống nhất của quyền lực nhà nước trong sự phân công các chức năng của quyền lực nhà nước) J. Lốc thể hiện quan điểm rõ ràng và dứt khoát hơn Mông-te-ski-ơ.

1.2. Đối chiếu với tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992

1) Có các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước Việt Nam đ thực hiện "ba thứ quyền lựclà  quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp.

Từ Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây đến các bản Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam hiện nay, trong khi quy định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) theo nguyên tắc tập quyền XHCN thì đều quy định các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng khác nhau gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân (TAND), Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND), HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND).

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan này thực chất là thẩm quyền đ thực hiện ba chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp của quyền lực nhà nước thống nhất, mặc dù mãi đến khi sửa đổi năm 2001, Hiến pháp 1992 mới ghi ba quyền này.

Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, ba thứ quyền lực chính là ba chức năng, hay ba loại hoạt động của nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhà nước theo đường lối chính sách của Đảng, phù hợp ý chí của nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đáng tiếc là Hiến pháp 1992 không xác định rõ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp là cơ quan nào mà đây lại là điều quan trọng nhất cho thấy sự phân công các quyền.  

2) Về quyền lập pháp: Quốc hội Việt Nam cũng có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của một cơ quan lập pháp như Mông-te-ski mô tả. Các nhiệm vụ, quyền hạn về lập pháp được Hiến pháp và luật quy định. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội cũng giám sát hành pháp nhưng không có cơ cấu hai viện như ý tưởng của Mông-te-ski.

3)  Về quyền hành pháp: Quyền hành pháp ở Việt Nam được giao cho Chính phủ, nhưng Chính phủ là một tập thể, đứng đầu là Thủ tướng. Vì Chính phủ làm việc theo chế đ tập thể và theo nguyên tắc tập trung dân chủ nên không giống với ý niệm của Mông-te-ski-ơ.

Một điểm nữa là "con người hành pháp Việt Nam lại là Đại biểu Quốc hội, tức đồng thời là "con người của lập pháp”, như thế là "nhập làm mộtvà "nhúng tay vào cả quyền này và quyền kia”, sẽ không khách quan và khó truy xét trách nhiệm.

Chủ tịch nước có tham gia vào quyền hành pháp nhưng không phải là người đứng đầu hành pháp nên không theo mô hình hành pháp một người như ý tưởng của Mông-te-ski.

4) Về quyền tư pháp: Tòa án Việt Nam được xác định là cơ quan xét xử các loại án, là cơ quan tư pháp, Chánh án TAND tối cao do Quốc hội bầu, thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, quyền bào chữa được bảo đảm, thực hiện chế đ hội thẩm nhân dân Như vậy có thể nói, những ý niệm của Mông-te-ski-ơ cũng đã thể hiện trong tổ chức và hoạt động tư pháp của TAND Việt Nam, nhất là khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án độc lập với Quốc hội và Chính phủ. 

Tuy nhiên, khác với ý niệm của Mông-te-skivà tòa án tư sản, Tòa án Việt Nam phải báo cáo công tác trước Quốc hội; ngoài ra, không có Tòa án Hiến pháp hay giao cho Tòa án tối cao kiểm soát Quốc hội và Chính phủ như Toà án tối cao Mỹ, hay Tòa án Hiến pháp của các nước khác, Tòa án không có quyền phán xét tính hợp hiến của quyết định lập pháp hay quyết định hành pháp, Tòa án cũng không giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, không xét xử các vụ vi hiến khi công dân yêu cầu

5) Về Chủ tịch nước: Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu nhà nước, không nắm quyền hành pháp như Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 nên quyền lực của Chủ tịch nước mang tính thủ tục, nghi lễ nhiều hơn.

6) Về VKSND: Chức năng kiểm sát là một chức năng độc lập, nhưng cũng không nằm ngoài nguyên tắc tập quyền XHCN.

7) Về tính độc lập giữa các quyền: Bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay cũng xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính độc lập trong hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND, VKSND cũng như HĐND và UBND địa phương.

Tính độc lập đây thể hiện qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan phù hợp với vị trí, tính chất, vai trò của chúng[38]. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì các cơ quan phải độc lập. Tính độc lập này là tất yếu của sự phân công lao động quyền lực, nhưng vì là tập quyền XHCN và tập trung dân chủ nên tất cả các cơ quan khác đều chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước Quốc hội.

8) Về cân bằng và kiềm chế, đối trọng giữa các quyền: Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, các cơ quan nhà nước độc lập với nhau trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhưng cần phải có sự phối hợp với những hình thức phù hợp với  nguyên tắc tập quyền XHCN và tập trung dân chủ. Phối hợp nhưng không phải là kiềm chế, đối trọng hay đ cân bằng quyền lực.

Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, TAND tối cao không có quyền cân bằng và kiềm chế, đối trọng quyền lực với Quốc hội, Chủ tịch nước không có quyền phủ quyết dự luật của Quốc hội, không có quyền giải tán Quốc hội và Chính phủ. Chính phủ cũng không có quyền giải tán Quốc hội.

Ngược lại, Quốc hội là cơ quan bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao.

Tòa án không kiểm soát Quốc hội và Chính phủ. Tòa án không có quyền phán quyết về tính hợp hiến trong các đạo luật của Quốc hội, hoặc các quyết định  của Chủ tịch nước và Chính phủ, chỉ có quyền phán xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính từ cấp Bộ trở xuống theo thủ tục tố tụng hành chính.

II. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

1. Khác với J.Lốc trước đó và J. Rút-xô sau này, trong "Tinh thần pháp luậtMông-te-skikhông nói đến tính thống nhất và duy nhất của quyền lực nhà nước, vì lúc đó ông tập trung chủ yếu vào chính thể quân chủ của nước Anh nên khái niệm chủ quyền nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân không được ông lưu ý. Việc nghiên cứu phân quyền của ông vẫn dựa trên mô hình chính thể quân chủ nước Anh (Hiến pháp nước Anh).   

2. Sự đối chiếu trên đây cho thấy bộ máy nhà nước Việt Nam đã có sự phân công giữa "ba thứ quyền lựctheo như cách gọi của Mông-te-ski-ơ, đó là lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ba  thứ quyền lực này tuy không được Hiến pháp 1992 chỉ rõ do các cơ quan nào thực hiện, nhưng có thể hiểu là trao cho Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Quyền tư pháp là quyền có nhiều điểm tương đồng nhất với ý tưởng của Mông-te-ski-ơ. 

3. Tuy nhiên, giữa nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay và quan điểm phân quyền của Mông-te-skichủ yếu vẫn là những điểm khác biệt mang tính nguyên tắc, trong đó quan trọng nhất là không có sự cân bằng và kiềm chế, đối trọng giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mà chỉ có sự giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước khác. Các cơ quan nhà nước đều do Quốc hội thành lập ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, do đó bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay hoàn toàn tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN[39].

4. Vì vậy, đối với Việt Nam hiện nay, vấn đ không phải là tiếp thu phân quyền, mà ngược lại, cần nhấn mạnh tập quyền XHCN, nhưng tập quyền với cách hiểu đúng đắn hơn, cụ thể là:

a) Quyền lực nhà nước chỉ thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước đó là thống nhất và duy nhất, không ai có quyền chiếm đoạt quyền lực đó.

b) Quyền lực nhà nước được nhân dân thực hiện trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý và thông qua các cơ quan nhà nước (mọi cơ quan nhà nước chứ không chỉ thông qua cơ quan đại biểu).

c) Quốc hội Việt Nam hiện nay không toàn quyền (và Xô viết tối cao Liên Xô trước đây cũng không toàn quyền), mà chỉ là cơ quan nhà nước tối cao.

iều đương nhiên là, bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có những quyền hạn mang tính quyền lực nhà nước, và vì vậy đều thực hiện quyền lực nh