Ý thức hiến pháp trong nhà nước pháp quyền

1. Nhận thức chung về ý thức hiến pháp

Lâu nay, cùng với nhận thức chưa thật đầy đủ về vị trí, vai trò, chức năng và giá trị của hiến pháp trong đời sống quốc gia, vấn đề ý thức hiến pháp (YTHP) cũng chưa được quan tâm thỏa đáng trên phương diện lý luận và thực tiễn. Nhiều quan điểm cho rằng, phạm trù ý thức pháp luật đã "bao hàm, ôm trọn” trong đó YTHP. Hiến pháp chủ yếu được nhìn nhận như một bản tuyên ngôn, cương lĩnh chính trị thuần túy với nhiều quy định mang tính lý tưởng hóa hiện thực. Dường như YTHP đã được "hòa tan vào ý thức pháp luật”, bởi tư duy để thực hiện các quy định của hiến pháp thì nhất thiết phải có các văn bản pháp luật cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành. Quan niệm này có phần hợp lý bởi sự cần thiết cụ thể hóa nhiều quy định, nguyên tắc hiến pháp để thực hiện trong thực tiễn. Song cách quan niệm này cùng với nhiều nguyên do khác đã dẫn đến việc lạm dụng, làm sai lệch bản chất các nguyên tắc, quy định hiến pháp. Các quy định của hiến pháp hầu như không được viện dẫn, được áp dụng trực tiếp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. YTHP cũng theo đó mà ẩn dật trong ý thức pháp luật. Xưa nay chỉ thấy người ta nói về, bàn về ý thức pháp luật chứ có mấy khi nghe bàn về YTHP.

Chỉ đến những năm gần đây, khi mà nhận thức về nhà nước pháp quyền (NNPQ), quyền con người, quyền công dân ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn thì vấn đề hiến pháp, chủ nghĩa hiến pháp mới được đặt ra một cách tương xứng với vị thế, vai trò của hiến pháp trong đời sống quốc gia. Nhất là thời gian gần đây, trong việc nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Hiến pháp hiện hành, các vấn đề lý luận về hiến pháp, quyền con người, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, cơ chế bảo hiến v.v… đã và đang được quan tâm nghiên cứu một cách thấu đáo, có hệ thống. Những vấn đề này ít, nhiều có liên quan đến YTHP, nhất là đối với các cá nhân công quyền, những chủ thể có trách nhiệm cao nhất và chủ yếu về tuân thủ hiến pháp, đảm bảo tính hiện thực của hiến pháp trong đời sống xã hội[1].   

YTHP có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền, tự do của con người. Không thể nói đến một NNPQ, dân chủ đích thực mà lại thiếu một bản hiến pháp dân chủ; thiếu tinh thần thượng tôn hiến pháp, thiếu chủ nghĩa hiến pháp (chủ nghĩa hợp hiến); YTHP của các cá nhân và toàn xã hội. NNPQ là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp đạo đức, hợp lý và hiệu quả. Hiến pháp nếu không xác định rõ ràng về trách nhiệm nhà nước đối với quyền con người, thiếu cơ chế bảo vệ hiến pháp thì các nguyên tắc, tinh thần, quy tắc của Hiến pháp ít được hoặc thậm chí không được viện dẫn, dẫn dắt ý thức, hành vi của con người trong thực tế là điều không khó hiểu.

Vậy, YTHP là gì, có những đặc trưng cơ bản nào?

Từ lý thuyết về ý thức xã hội, ý thức pháp luật[2], có thể hiểu, YTHP là hình thức cao nhất của ý thức pháp luật, là tổng thể các tư tưởng, học thuyết; quan niệm, tâm lý, tình cảm, tư duy, thái độ của các cá nhân, nhóm xã hội, xã hội nói chung về hiến pháp, về vai trò hiến pháp trong đời sống xã hội, về mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân; về quyền, tự do, nghĩa vụ của cá nhân, công dân và các phương thức bảo vệ quyền, tự do, công bằng; về thực tiễn áp dụng hiến pháp; sự đánh giá về tính hợp hiến, hợp pháp hoạt động của nhà nước; về những mong muốn bổ sung, thay đổi các nguyên tắc, chế định hiến pháp cho phù hợp với cuộc sống. Chính ở yếu tố này mà YTHP được coi là là cơ sở để hình thành và phát triển tất cả các dạng của ý thức pháp luật.

YTHP có tính độc lập tương đối đối với ý thức pháp luật, ý thức chính trị, đạo đức và với tồn tại xã hội nói chung. Trong tương quan giữa NNPQ và hiến pháp, nhận thức chưa đầy đủ về nội hàm và các thành tố cơ bản của NNPQ trong một thời gian dài cũng sẽ kéo theo nhận thức phiến diện về hiến pháp, trong khi hiến pháp là cơ sở, là phương tiện kiểm soát quyền lực nhà nước và thực hiện quyền, tự do của con người. Suy cho cùng, ý thức về chủ quyền nhân dân trong điều kiện NNPQ phải được biểu hiện tập trung ở hiến pháp, bằng hiến pháp và dùng hiến pháp để kiểm soát, đánh giá. Có thể nhận thấy những năm gần đây, dưới tác động của quá trình dân chủ hóa, xây dựng NNPQ, hội nhập, sự quan tâm của nhà nước, xã hội về hiến pháp, YTHP của người dân, các công chức, viên chức đã được đổi mới, nâng cao rõ nét.   

YTHP là một biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội và ý thức pháp luật; là nhân tố xã hội thể hiện các quan điểm về hiến pháp, về vai trò, về tính ưu tiên của hiến pháp trong hệ thống pháp luật, bởi hiến pháp là bản khế ước xã hội, là nguồn xác nhận quyền lực nhân dân, chủ quyền nhân dân. Chính vì vậy, hiến pháp về nguyên tắc phải được làm ra bằng con đường dân chủ theo những hình thức nhất định: "Hiến pháp được một Hội đồng lập hiến hoặc Quốc hội thông qua theo một thủ tục đặc biệt khác với làm luật[3].

YTHP thể hiện sự nhận thức, sự mong muốn về tính hiện thực của hiến pháp, về hiệu lực trực tiếp của các quy định hiến pháp, nhất là các quy định về quyền, tự do của cá nhân và công dân. YTHP xét từ góc độ tâm lý hiến pháp của người dân, đó là sự mong muốn và yêu cầu về quyền được viện dẫn các quy định, nguyên tắc của hiến pháp. Còn xét từ góc độ của các cá nhân công quyền, các cơ quan nhà nước thì đó chính là ý thức về trách nhiệm hiến pháp của mình trong việc thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền, tự do của cá nhân, công dân. Quyền, tự do của cá nhân, công dân là cơ sở để xác định và tiêu chí đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân công quyền thay vì những bản báo cáo thành tích nhiều trang. Tư tưởng, nhận thức về hiệu lực trực tiếp của hiến pháp liên quan đến các quyền con người cũng sẽ định hướng, dẫn dắt và kiểm soát, kìm chế những sự lạm dụng pháp luật gây phương hại, làm sai lệch bản chất của các quyền theo công thức pháp lý: "công dân có quyền… theo quy định của pháp luật”.  Tư tưởng, nhận thức đúng đắn về trách nhiệm hiến pháp sẽ giúp ngăn ngừa, giảm thiểu những hiện tượng hư vô pháp luật thường xảy ra trong thực tiễn. Quyền con người, trình độ cao về sự hài hòa giữa pháp luật và đạo đức chính là tiêu chí căn bản nhất, bản sắc nhất để nhận diện nhà nước và xã hội pháp quyền dân chủ.

Nội dung của YTHP bao hàm sự nhận thức vai trò của các quy định của hiến pháp, quyền tự do và trách nhiệm của con người và công dân; yêu cầu về sự phù hợp với hiến pháp của các văn bản pháp luật quốc gia; khả năng đánh giá tính hợp hiến và hợp pháp của hành vi pháp luật trước hết, chủ yếu là của các cơ quan, cá nhân công quyền; nhận thức về các giá trị dân chủ, đồng thuận, phản biện xã hội; hiểu biết về ý nghĩa của việc bảo vệ hiến pháp quyền và các quyền tự do khác nhau, khả năng sử dụng các quy định hiến pháp để bảo vệ, khôi phục các quyền, lợi ích bị xâm phạm.

YTHP có mối quan hệ chặt chẽ với ý thức chính trị, văn hóa, đạo đức. YTHP được hình thành và phát triển dưới tác động của các nguyên tắc chính trị và tư tưởng. Như vậy, một trong những đặc trưng cơ bản của YTHP là YTHP được hình thành trên nền tảng của ý thức chính trị và ý thức pháp luật với nội dung biểu hiện là tư tưởng về quyền lực nhà nước, chủ quyền nhân dân, mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, về các hình thức dân chủ. Nhận thức về hiến pháp và pháp luật liên quan chặt chẽ với ý thức chính trị, bản thân hiến pháp là một văn bản chính trị - pháp lý, vừa có đặc điểm chung như các văn bản pháp luật khác, vừa có những đặc trưng riêng của mình, phản ánh mối tương quan giữa các thiết chế, các quan hệ chính trị, kinh tế, pháp lý của xã hội. Về vấn đề này, có thể thấy sự vận dụng sáng tạo, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong nội dung Hiến pháp năm 1946, một hiến pháp dân chủ, pháp quyền và nhân bản. 

2. Cơ cấu của ý thức hiến pháp (các cấp độ của YTHP )

Xét về mặt cơ cấu, YTHP được cấu thành từ hai thành tố cơ bản là tư tưởng hiến pháp và tâm lý hiến pháp. Dựa vào mức độ nhận thức và phạm vi nhận thức, có thể chia thành: YTHP phổ thông và YTHP mang tính lý luận. Dựa vào chủ thể YTHP, có thể phân thành: YTHP của các nhóm xã hội và YTHP của cá nhân.  

Tư tưởng (còn được gọi là "hệ tư tưởng”) hiến pháp là tổng thể các tư tưởng, quan điểm, học thuyết, khái niệm về hiến pháp, về tổ chức quyền lực nhà nước, về vai trò, giá trị của hiến pháp; về trật tự hiến pháp, các quyền, tự do của con người; về cơ chế bảo vệ hiến pháp; các mô hình hiến pháp; các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và trách nhiệm của các quốc gia; về mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và cá nhân trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước và pháp luật.

 Tâm lý hiến pháp được thể hiện trong tổng thể các quan niệm, tình cảm, sự đánh giá, sự mong muốn, đặt niềm tin của cá nhân, các nhóm xã hội và toàn xã hội nói chung về hiến pháp, về quyền, tự do và nghĩa vụ của cá nhân, công dân; về tính hợp hiến hay không hợp hiến, hợp pháp hay không hợp pháp của các quyết định, hành vi pháp luật của các cơ quan, cá nhân công quyền; về thực tiễn áp dụng hiến pháp.

Một trong những tư tưởng nền tảng của hệ tư tưởng hiến pháp chính là tư tưởng về chủ nghĩa hiến pháp, về cơ chế bảo vệ hiến pháp, bảo vệ các quyền, tự do của con người. Tính hợp hiến, sự tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền con người phải được coi là tiêu chí đánh giá hoạt động của cơ quan công quyền, đánh giá về quyền con người.

Giữa tâm lý hiến pháp và tư tưởng hiến pháp có mối quan hệ biện chứng, phụ thuộc, tác động lẫn nhau. So với tư tưởng hiến pháp, tâm lý hiến pháp bền vững hơn, bảo thủ hơn. Sở dĩ như vậy là vì, tâm lý hiến pháp của các cá nhân chịu sự tác động, sự va chạm thường xuyên với các hiện tượng xã hội như truyền thống, tập quán, thói quen, cung cách ứng xử của các cá nhân, nhất là các cá nhân công quyền trong hoạt động áp dụng, thực thi pháp luật. Tâm lý hiến pháp có tính độc lập tương đối với hiến pháp, pháp luật, với tư tưởng hiến pháp và thường biến đổi chậm chạp. Tuy ở trình độ cao, mang tính khoa học song tư tưởng hiến pháp chịu ảnh hưởng to lớn của tâm lý pháp luật. Tâm lý hiến pháp của cá nhân chính là điều kiện, tiền đề, là nguồn cảm hứng sáng tạo để họ có thể đạt tới trình độ tư tưởng hiến pháp. Trình độ tư tưởng pháp luật, sự tiếp thu, lĩnh hội các tri thức pháp luật của cá nhân cũng sẽ chi phối ngược trở lại đối với tâm lý pháp luật của họ.

Hợp phần quan trọng nhất của tâm lý hiến pháp chính là sự tôn trọng hiến pháp, là nguyên tắc thượng tôn hiến pháp, đảm bảo tính tối cao của hiến pháp. Chính từ vấn đề quan trọng này mà đòi hỏi phải có một bản hiến pháp có nội dung pháp quyền, dân chủ, ngắn gọn nhưng bao quát về nguyên tắc hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội dựa trên hai trụ cột chính là quyền, tự do, cơ chế bảo đảm thực thi và tổ chức, phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước.

YTHP cũng bao hàm cả quan điểm, mong muốn về việc hiến pháp hóa các quan hệ xã hội bằng các văn bản luật. "Hiến pháp hóa” cần được hiểu là các quy định, các nguyên tắc và nói chung hơn là tinh thần hiến pháp phải được tôn trọng, đảm bảo trong các quy định pháp luật về nội dung và về thủ tục; trong hành vi của các cá nhân công quyền khi sử dụng quyền lực của mình. Trong môi trường đó, hiến pháp sẽ trở về đúng nghĩa của một bản khế ước chính trị, xã hội, thực sự thiết thực trong cuộc sống thường nhật của các cá nhân và toàn xã hội bởi tính thực tế, hiện thực của mình. Cũng vì lẽ đó mà tại nhiều quốc gia, Ngày Hiến pháp được coi là một trong những ngày lễ trang trọng, thiêng liêng của quốc gia. Lời kêu gọi, khát vọng cháy bỏng mà trước đây các bậc tiền bối từ Arixtot, Platon đến Montesquieu, John Locke về một tình yêu dành cho pháp luật, hiến pháp là thuyết phục, bởi hiến pháp, pháp luật là của con người, do con người và vì con người mà tồn tại. Trên quan điểm hiến pháp hiện đại, ngày nay, nhiều quốc gia đã mở rộng nhận thức, điều chỉnh hiến pháp vào những lĩnh vực mới như môi trường, bình đẳng giới; an sinh xã hội… bên cạnh hai trụ cột chính yếu làm nên vị thế, giá trị trường tồn của bản hiến pháp dân chủ là: quyền, tự do con người, tổ chức quyền lực nhà nước, trách nhiệm hiến pháp của nhà nước.

Như đã đề cập, do nhiều nguyên nhân, trình độ YTHP của các cá nhân, các công chức nhà nước ở nước ta hiện nay còn thấp, hạn chế. Trên tinh thần sửa đổi, bổ sung hiến pháp hiện hành, đặc biệt là về nguyên tắc tổ chức, kiểm soát quyền lực nhà nước, chế định quyền, nghĩa vụ cơ bản của cá nhân, công dân, trong nhận thức của người dân, công chức, viên chức đang có sự chuyển biến tích cực. Đặc biệt, trong đó có đề xuất, gợi ý, mong muốn của xã hội về hiệu lực trực tiếp của hiến pháp nhất là các quy định về quyền cá nhân, công dân đã đặt ra nhiều vấn đề cần được lý giải, nhận thức đầy đủ, áp dụng thống nhất sau khi bản hiến pháp sửa đổi được ban hành. Bởi lẽ, đây thực sự là một bước chuyển căn bản trong YTHP, ý thức pháp luật, từ tư duy hiệu lực gián tiếp đến tư duy hiệu lực trực tiếp. Nhận thức và áp dụng nguyên tắc này sẽ không hề đơn giản trong thực tiễn và sẽ tác động mạnh mẽ đến quan niệm về hệ thống pháp luật của chúng ta, đến cách làm luật, cách sử dụng, áp dụng pháp luật của các chủ thể pháp luật. Và, đây cũng chính là câu chuyện về "YTHP” của chúng ta đang trong trạng thái thay đổi theo chiều hướng tích cực và phù hợp với các nguyên tắc của NNPQ, dân chủ. 

Biểu hiện tập trung của tâm lý hiến pháp ở các cá nhân chính là ý thức về các quyền, tự do, nghĩa vụ hiến định của họ cùng với đòi hỏi, mong muốn và niềm tin vào cơ chế tổ chức quyền lực, cơ chế bảo vệ hiến pháp. Trình độ cao về YTHP của cá nhân và của toàn xã hội sẽ tác động đến quá trình thực hiện các quyền, tự do của con người, hình thành thói quen tư duy, ứng xử tôn trọng và tuân thủ hiến pháp. YTHP còn bao hàm nhận thức, thái độ đúng đắn về việc xác lập và áp dụng trách nhiệm hiến pháp đối với các cá nhân công quyền do những hành vi vi phạm hiến pháp dưới các hình thức nhất định. Trách nhiệm hiến pháp, vi phạm hiến pháp theo đó cũng không bị "hòa tan” vào trách nhiệm pháp lý hay vi phạm pháp luật thông thường mà chúng có những đặc điểm riêng trên phương diện chủ thể và thủ tục, trình tự áp dụng. Chính chế độ trách nhiệm hiến pháp tường minh sẽ là điều kiện đảm bảo tính hiện thực của các quyền, tự do của cá nhân, công dân và từ đó xác lập, củng cố niềm tin vào hiến pháp.

3. Mối quan hệ giữa YTHP với hiến pháp, với ý thức pháp luật, pháp luật

Do vị thế, vai trò, chức năng của hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội nói chung, YTHP luôn ở trong các mối quan hệ kép, nghĩa là không chỉ liên quan đến hiến pháp mà liên quan cả pháp luật. Đó cũng chính là một trong những sự phức tạp của vấn đề YTHP, thực thi, áp dụng hiến pháp trong cuộc sống. Bởi lẽ, như đã đề cập, hiến pháp vừa có hiệu lực trực tiếp, vừa cần đến sự điều chỉnh cụ thể bằng các văn bản luật, vừa là công cụ giám sát, kiểm soát tính hợp hiến của các quyết định pháp luật, hành vi pháp luật.

YTHP và bản thân hiến pháp có mối quan hệ biện chứng, tác động, phụ thuộc lẫn nhau. Mối quan hệ này được thể hiện trong xây dựng áp dụng hiến pháp và pháp luật. Không có một hiện tượng xã hội nào có thể được thể hiện dưới dạng quy phạm pháp luật thành quyền và nghĩa vụ pháp lý chừng nào chúng chưa được đi qua ý thức của con người. Đến lượt mình, các quy định pháp luật, quy định hiến pháp muốn thực hiện được cũng phải  thông qua ý thức của con người. Như vậy, con đường, hành trình của YTHP là "trước, trong và sau” khi ban hành hiến pháp cùng các văn bản pháp luật khác.

Tính chất kép và là đặc trưng, điểm nhấn của YTHP do đó không chỉ là bản thân hiến pháp mà quan trọng hơn nữa chính là việc thực hiện hiến pháp từ phía các cơ quan, cá nhân nhà nước. Đứng trước một văn bản pháp luật, một quyết định, hành vi của các cá nhân công quyền, người dân vừa có "ý thức pháp luật”, lại vừa có "YTHP” ví như quyền được viện dẫn hiến pháp, quyền được yêu cầu bồi thường trên cơ sở các quy định, các nguyên tắc của hiến pháp.

Còn về phía các cơ quan, cá nhân công quyền, về nguyên tắc cũng như vậy: để áp dụng đúng đắn pháp luật trên nguyên tắc tuân thủ hiến pháp nhất là về các quyền, tự do của con người đòi hỏi cả hai: ý thức pháp luật và YTHP, cái chính là sự nhận thức không được đánh đồng, hoán vị nhau giữa ý thức pháp luật và YTHP. Bởi lẽ, họ còn phải chịu trách nhiệm hiến pháp chứ không chỉ có trách nhiệm pháp lý, và nhất là khi mà công thức: "công dân có quyền… theo quy định của pháp luật” như hiện nay sẽ được sửa đổi lại cho phù hợp với các nguyên tắc, bản chất của quyền, tự do con người[4].

YTHP là tiền đề trực tiếp cho hoạt động xây dựng hiến pháp và pháp luật. Đặc biệt vai trò, giá trị của YTHP được thể hiện rõ nét trong áp dụng, thực hiện các quy định, các nguyên tắc hiến pháp. Các quy định hiến pháp có đi vào cuộc sống được hay không, phần lớn phụ thuộc vào ý thức pháp luật của con người (hiểu theo nghĩa tích cực của YTHP, pháp luật). Sự tôn trọng, ý thức được sự cần thiết vì lợi ích chung của các quy định hiến pháp sẽ định hướng hành vi của các cá nhân, làm cho hành vi của họ phù hợp yêu cầu của hiến pháp, pháp luật. Ngược lại, sự coi thường hiến pháp, pháp luật cộng với những nguyên nhân khác sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm hiến pháp và pháp luật.

Hiến pháp, pháp luật là sản phẩm vật chất của YTHP - pháp luật nhưng đến lượt mình, hiến pháp, pháp luật lại có tác động mạnh mẽ, có vai trò to lớn đối với YTHP - pháp luật của các cá nhân và toàn xã hội. Sự tác động trở lại của hiến pháp, pháp luật đối với ý thức pháp luật theo hướng tích cực hay tiêu cực được thể hiện tuỳ thuộc vào chất lượng, tính đúng đắn của các quy định hiến pháp, pháp luật.

 Để có được một NNPQ và xã hội công dân, các cá nhân công quyền, người dân trong xã hội ấy phải hiểu biết về hiến pháp và ý thức tuân thủ pháp luật. Xây dựng YTHP do vậy rất cần đến một chiến lược đồng bộ, bao gồm việc xây dựng ý thức và lối sống tôn trọng, tuân thủ hiến pháp trước hết, chủ yếu là đối với các cơ quan, cá nhân công quyền. Việc nghiên cứu về sửa đổi, bổ sung hiến pháp và khi bản Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung được ban hành sẽ là một điều kiện cơ bản trong việc thay đổi những quan niệm, cách tư duy, tình cảm, thái độ chưa hoàn toàn đầy đủ, đúng đắn về hiến pháp lâu nay và là nhân tố đặc biệt quan trọng để hình thành, nâng cao YTHP của cá cá nhân, các nhóm xã hội và toàn xã hội ở nước ta./.     

 


[1] Nguyễn Đăng Dung, Chủ nghĩa hiến pháp và những yếu tố cấu thành, Nghiên cứu Lập pháp số tháng 1/2009; Đào Trí Úc, Hiến pháp trong đời sống xã hội và quốc gia, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 9/2010; Trần Ngọc Đường, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số tháng 10/2012; Nguyễn Như Phát, Một số định hướng và phương pháp ghi nhận quyền cơ bản của công dân, quyền con người trong Hiến pháp sửa đổi, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 2/2012 cùng các bài viết của nhiều tác giả khác.

[2] Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2007;

[3] Nguyễn Đăng Dung,Tlđd.

[4] Nguyễn Đăng Dung, Bùi Tiến Đạt, Cải cách chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp 1992 theo nguyên tắc tôn trọng quyền con người, bài đăng trong sách chuyên khảo: Hiến pháp - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011, tr. 605 – 614.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi