Về nguyên tắc bảo đảm sự kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta.

Nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Điều 2 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 khẳng định: "Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

 

So với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp1992tiếp tục khẳng định nguyên tắc "Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”, "Quyền lực Nhà nước là thống nhất”; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời, Dự thảo đã đưa một nội dung mới vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước ta là có sự "Kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

 

Ghi nhận nguyên tắc bảo đảm sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là bước tiến bộ mới trong lịch sử lập hiến nước ta, một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm thực hiện tốt hơn nguyên tắc nền tảng "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

 

Các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở nước ta bao gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp…

 

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Quốc hội có quyền lập pháp (Làm hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật); quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.

 

So với Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đang được lấy ý kiến nhân dân đã có những quy định bổ sung cho việc thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cụ thể như sau:

 

- Về cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp:

 

Theo quy định tại Điều 103 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch nước không chỉ có quyền công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà còn có quyền đề nghị UBTVQH xem xét lại pháp lệnh trong trường hợp không nhất trí. Trong trường hợp Chủ tịch nước đề nghị xem xét lại nhưng UBTVQH vẫn tán thành quyết định đó thì Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại ở kỳ họp gần nhất (Điều 103 Dự thảo). Quyền đề nghị xem xét lại pháp lệnh mà chưa công bố mặc dù đã được UBTVQH thông qua là điểm mới trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp thể hiện rõ vai trò Chủ tịch nước vừa là chủ thể tham gia, vừa là chủ thể kiểm soát quyền ban hành pháp lệnh của UBTVQH.

 

Để thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lập pháp, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã quy định bổ sung một thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng Hiến pháp. Đây là cơ quan do Quốc hội thành lập có chức năng giúp Quốc hội kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành, có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp.

 

- Về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong việc thực hiện quyền hành pháp:

 

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992tiếp tục khẳng định Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng Chính phủ; có quyền phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng… Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội và thực hiện quyền giám sát hoạt động của Chính phủ, xem xét báo cáo của Chính phủ.

 

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã bổ sung quy định mới là Quốc hội có quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Chính phủ (Khoản 8 Điều 75 Dự thảo)

 

Cơ chế kiểm soát quyền hành pháp còn được thực hiện bởi việc quy định Tòa án có quyền xét xử, ra phán quyết đối với các vụ án hành chính khi có yêu cầu khởi kiện đối với các quyết định hành chính và hành vi hành chính của cán bộ thuộc cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

 

- Về cơ chế kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện quyền tư pháp:

 

Cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền tư pháp thể hiện ở chỗ Quốc hội có quyền bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; Quốc hội có quyền bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật pháp luật của TANDTC, VKSNDTC trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và thực hiện quyền giám sát hoạt động của TANDTC, VKSNDTC, xét báo cáo công tác của TANDTC, VKSNDTC.

 

So với Hiến pháp năm 1992, Điều 75 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã bổ sung quy định Quốc hội còn có quyền lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC. Quy định bổ sung này cũng nhằm tăng cường vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát của mình đối với hoạt động tư pháp (thông qua người đứng đầu các cơ quan tư pháp).

 

Cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của UBTVQH đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp được thể hiện ở việc UBTVQH có quyền giám sát hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (Khoản 3 Điều 79 Dự thảo)

 

Cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của Chủ tịch nước thể hiện ở việc Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án TANDTC, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên VKSNDTC (Điều 93 Dự thảo)

 

Cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan tư pháp ở địa phương thể hiện ở việc Hội đồng nhân dân có quyền giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước ở địa phương, trong đó có các cơ quan tư pháp (Khoản 1 Điều 116 Dự thảo)

 

Ngoài ra, với tính cách là cơ quan do Quốc hội thành lập, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, bao gồm kiểm sát hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án. Ngược lại, thông qua các hoạt động xem xét, giải quyết các kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát (khi Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp), các cơ quan tư pháp khác cũng thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực của Viện kiểm sát. Ví dụ, Viện kiểm sát kháng nghị vì cho rằng bản án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhưng Tòa án không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát và vẫn giữ nguyên bản án…

 

Nhận xét và kiến nghị

 

Qua nghiên cứu những quy định của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, chúng tôi nhận thấy, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã có bước phát triển mới về nguyên tắc kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, còn một số vấn đề cần được xem xét để tiếp tục hoàn thiện như sau:

 

Một là, ở nước ta, quyền tư pháp không phải chỉ là quyền xét xử (phán quyết) của Tòa án, với tính chất là quyền độc lập, đối trọng với quyền lập pháp và hành pháp theo cơ chế "tam quyền phân lập”. Quyền tư pháp ở nước ta là quyền phái sinh từ Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Theo đó, Quốc hội thành lập và giao cho các cơ quan tư pháp (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) thực hiện và hoạt động tư pháp bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Nghị quyết số 49 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị và các văn bản pháp luật hiện hành ở nước ta đều có một quan niệm chung, thống nhất về hoạt động tư pháp và các cơ quan tư pháp như vậy. Do đó, việc quy định "Tòa án nhân dân… thực hiện quyền tư pháp”, tại Điều 107 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, hiểu với nghĩa chỉ có Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp là không chính xác, trái với các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp, không phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, với thực tiễn hoạt động tư pháp ở nước ta và với nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức quyền lực của Nhà nước ta là "Quyền lực nhà nước là thống nhất” và "Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân

 

Hai là, mặc dù Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã đưa ra một thiết chế hiến định độc lập là Hội đồng Hiến pháp để kiểm tra, giám sát tính hợp hiến (phù hợp Hiến pháp) của việc ban hành các văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền, ban hành, song lĩnh vực ban hành văn bản pháp luật vẫn còn những khoảng trống chưa được kiểm soát, hiểu với nghĩa là kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hành quyền lập pháp và quyền tư pháp đối với cơ quan thực hành quyền hành pháp.

 

Theo quy định tại Điều 120 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp.

 

Như vậy, theo Dự thảo sửa đổi Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp chủ yếu có thẩm quyền kiểm tra, giám sát tính hợp hiến (phù hợp Hiến pháp) của các văn bản quy phạm pháp luật do các chủ thể trên ban hành. Hội đồng Hiến pháp không có điều kiện để kiểm tra, giám sát tính hợp pháp (phù hợp với các đạo luật khác ngoài Hiến pháp) của các văn bản pháp luật do các cơ quan khác thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chính quyền địa phương…ban hành.

 

Trước năm 2001, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội – gọi tắt là kiểm sát chung, trong đó có kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc ban hành văn bản pháp luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chính quyền địa phương…nhưng từ năm 2001, sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Viện kiểm sát thôi không thực hiện chức năng kiểm sát chung nữa. Điều này đồng nghĩa với việc Viện kiểm sát cũng không thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc ban hành văn bản pháp luật. Sau khi bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát, việc kiểm tra, giám sát hoạt động ban hành văn bản pháp luật được giao cho Chính phủ thực hiện. Qua hơn 10 năm cho thấy, việc chuyển giao quyền kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của việc ban hành các văn bản pháp luật cho Chính phủ (cơ quan hành pháp) tỏ ra kém hiệu quả. Nhiều văn bản pháp luật do các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan chính quyền địa phương ban hành trái với luật nhưng không được phát hiện, xử lý kịp thời, gây ra nhưng hậu quả xấu về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Điều này có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chính là hoạt động kiểm tra, giám sát văn bản pháp luật (phần lớn là do cơ quan hành pháp ban hành) của cơ quan chức năng thuộc Chính phủ (Bộ Tư pháp) chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát trong nội bộ hệ thống các cơ quan hành pháp, chứ chưa có sự kiểm soát "chéo” từ phía các cơ quan được phân công thực hiện các quyền khác nhau. Nói cách khác, chưa có sự kiểm soát của cơ quan thực hiện quyền lập pháp, tư pháp đối với việc ban hành văn bản pháp luật của hệ thống các cơ quan thực hiện quyền hành pháp.

 

Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội của Viện kiểm sát trước đây (bao gồm cả kiểm sát văn bản và kiểm sát hành vi) là hoạt động kiểm sát của cơ quan do Quốc hội thành lập, việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp bộ trở xuống, nhằm kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật để kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu sửa chữa, khắc phục. Với ưu thể về tổ chức và hoạt động: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Quốc hội) thành lập, hoạt động theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành, không lệ thuộc vào cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, nên Viện kiểm sát có những uy thế hơn các cơ quan khác để tiến hành các hoạt động kiểm sát có hiệu quả, kịp thời phát hiện, xác định các vi phạm pháp luật để kháng nghị, kiến nghị đối với các văn bản, hành vi trái pháp luật của cơ quan và người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước cấp bộ và cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương. Hoạt động kiểm sát chung của Viện kiểm sát trong những năm trước đây đã đóng góp quan trọng vào việc phòng ngừa, ngăn chặn các hiện tượng cục bộ, bản vị, qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ quyền con người.

Từ phân tích trên, chúng tôi cho rằng, để thực hiện có hiệu quả một trong những nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta là có sự kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, thì cần khôi phục lại chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hành chính, kinh tế xã hội của Viện kiểm sát (kiểm sát chung) nhằm thiết lập thêm một thiết chế hiến định kiểm soát quyền lực có hiệu quả, góp phần khắc phục những bất cập trong cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước hiện nay.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi