Nội dung và mối liên hệ giữa chế độ chính trị với quyền con người, quyền công dân

Việc góp ý cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Dự thảo) là một hoạt động chính trị quan trọng có ý nghĩa rất lớn đối với đời sống xã hội của một nhà nước dân chủ. Sự mở rộng sinh hoạt chính trị lần này cho nhân dân cả nước tham gia còn có một ý nghĩa khác rất to lớn là nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời cũng làm cho nhân dân có cơ hội để nâng cao hiểu biết về pháp luật nói chung và về Hiến pháp nói riêng. Tác giả bài viết là một người rất tâm huyết với các vấn đề có liên quan đến Hiến pháp, đặc biệt là vấn đề quyền con người và quyền công dân - một nội dung quan trọng cũng như là gốc rễ của bất cứ một bản Hiến pháp nào trên thế giới. Vì thế, tác giả cũng tập trung hơn cho những quy định về vấn đề quyền con người và quyền của công dân liên quan đến chế độ chính trị.

1. Về tên nước

Theo Dự thảo, tại Điều 1, tên nước là Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung Điều 1 Hiến pháp 1992). Điều này chưa đúng, vì tên nước ta là Việt Nam - với tư cách là một quốc gia. Tên nước để chỉ quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, còn Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tên Nhà nước. Định nghĩa cụ thể về nước ở Điều 1 của Dự thảo "Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời” đã khẳng định điều này. Nhà nước - với tư cách là một tổ chức - người đại diện cho quốc gia trên các phương diện đối nội, đối ngoại, đại diện cho nhân dân được nhân dân ủy quyền. Nước (quốc gia) có chủ quyền độc lập được xác lập trên cơ sở lãnh thổ, dân cư và chính sách đối, ngoại độc lập. Chính dân cư, qua các phương thức khác nhau thành lập ra nhà nước, trao quyền cho nhà nước để thay mặt mình thực hiện các quyền đó. Vì vậy, tên nước sẽ không được đồng nhất và cũng không thống nhất với tên nhà nước được định nghĩa ở Điều 2 tiếp sau (sửa đổi, bổ sung Điều 2) "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Thực tế, đây là điều rất cơ bản vì chủ quyền quốc gia (nước) và chủ quyền nhân dân luôn gắn liền với nhau. Người dân lấy nước làm gốc vì "dân vi bang bản”. Chủ quyền quốc gia gắn với chủ quyền nhân dân, nhân dân trao quyền cho nhà nước, cũng có nghĩa là quốc gia trao quyền cho nhà nước. Điều này còn liên quan đến hệ thống chính trị được quy định tại Điều 9, khoản 2 "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức”. Ở một mức độ nào đó, chính quyền ở đây được hiểu đồng nhất với nhà nước trên phương diện chung. Xác định như vậy, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới là nhà nước "của nhân dân” được. Vì vậy, Điều 1 nên sửa lại là "Việt Nam là một nước (hoặc quốc gia) dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Do đó, cần chú ý thêm ở Dự thảo, Điều 15 (sửa đổi, bổ sung Điều 50) "1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Điều này nên được sửa lại thành "1. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được Nhà nước và xã hội thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Cũng theo điều này, có vẻ như sự bổ sung Điều 20 trong Dự thảo là không cần thiết, vì "quyền được sống” là quyền tự nhiên và là quyền thiêng liêng của con người và điều này đã được thừa nhận tại Điều 15 của Dự thảo rồi. Mặt khác, việc quy định này có thể xung đột với quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về hình phạt tử hình vẫn đang tồn tại và được quy định trong 29 tội.

2. Về quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân

Đối với Điều 2, định nghĩa nhà nước và quyền lực nhân dân về cơ bản là phù hợp nhưng để bản chất nhà nước được khẳng định rõ ràng hơn liên quan đến chủ quyền nhân dân, nên sửa lại là "Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước là của nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Đây là sự kế thừa Hiến pháp năm 1946, bởi Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định:

Điều thứ 1:

Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà.

Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Điều thứ 2

Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”. Trong các loại quyền lực (quyền bính) mà nhân dân có thì có quyền lực nhà nước. Điều này còn liên quan đến Điều 6 (sửa đổi, bổ sung) "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”, theo chúng tôi nên sửa thành "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Đây không chỉ là hình thức thực hiện quyền lực của nhân dân mà còn là sự khẳng định chủ quyền nhân dân, cơ chế trao quyền lực của nhân dân cho Nhà nước. Điều này còn có một ý nghĩa quan trọng khác là Hiến pháp cũng phải là văn bản do nhân dân làm ra, là sự thực hiện quyền lực nhân dân. Thông qua Hiến pháp, nhân dân trao quyền cho Nhà nước như bất cứ quy định của một bản Hiến pháp tiến bộ nào trên thế giới. Đây cũng là một điểm nhấn cho ý kiến tiếp theo về quyền phúc quyết của nhân dân đối với Hiến pháp. Chúng tôi băn khoăn với quy định về thẩm quyền của Quốc hội tại hai điều:

Điều 74 (sửa đổi, bổ sung Điều 83)

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Điều 75 (sửa đổi, bổ sung Điều 84)

Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

Quy định 2 điểm là Quốc hội có quyền lập hiến (Điều 74) và làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp (Điều 75, khoản 1) có vẻ chưa ổn, bởi đây là quyền của nhân dân chứ không phải là của Quốc hội. Nhân dân ủy quyền cho Quốc hội làm Hiến pháp nhưng nếu Quốc hội làm khác hoặc vượt sự ủy quyền của nhân dân thì sao? Thực tế, Tổng thống hoặc Nghị viện của một số quốc gia khi thay đổi hoặc thậm chí chỉ sửa đổi một vài điều trong Hiến pháp mà không tổ chức trưng cầu ý dân hay cho nhân dân thực hiện quyền phúc quyết - đã dẫn đến sự biểu tình phản đối của nhân dân, thậm chí có thể dẫn tới cả việc lật đổ chính quyền đương nhiệm. Vì vậy, nên sửa lại quy định gộp một phần đoạn 2, Điều 74 với khoản 1, Điều 75 này chung thành khoản 1, Điều 75 "Làm hiến pháp, sửa đổi hiến pháp cùng với quyền phúc quyết của nhân dân; làm luật, sửa đổi luật”;

3. Những quy định cụ thể về quyền con người

Tại Điều 27, Dự thảo quy định: "1. Công dân nam, nữ bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.

2. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền bình đẳng giữa công dân nữ và nam trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội.

3. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử về giới”.

Chúng tôi e rằng, quy định này sẽ sớm lạc hậu bởi sự tiến bộ của khoa học (cả y học, pháp lý). Nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã thừa nhận ngoài hai giới tính phổ biến (nam và nữ), loài người còn có giới tính thứ 3 là đồng tính nam (gay), thứ tư là đồng tính nữ (less), thứ 5 là lưỡng giới (ái nam ái nữ) hay thứ 6 là vô tính (liên quan đến những người không có cảm giác luyến ái mà chỉ có khuynh hướng tôn giáo hoặc không hôn nhân). Ngay chính trong Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam, quyền được xác định lại giới tính cũng đã được quy định từ năm 2005. Mặt khác trên thực tế, có không ít người về mặt y học đã chuyển đổi giới tính và cũng có những trường hợp chính quyền công nhận giới tính mới của họ về mặt pháp lý. Điều này liên quan đến tính bền vững, ổn định của pháp luật cũng như liên quan đến quyền con người khi "mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền sống và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Vì vậy, xin kiến nghị sửa lại khoản 1 Điều này là "Mọi công dân bình đẳng và có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”, sửa khoản 2 thành "Nhà nước có chính sách bảo đảm sự bình đẳng giữa các công dân trên mọi lĩnh vực. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội”. Bởi vì nó liên quan chặt chẽ với vấn đề bình đẳng giới đã và đang được đặt ra không chỉ ở các nước phát triển mà ở cả Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển.

Đối với Điều 30 của Dự thảo, cách trình bày chưa được hợp lý vì khi trưng cầu ý dân mà công dân không có quyền được biểu quyết thì trưng cầu để làm gì? Mặt khác, Dự thảo cũng nên quy định rõ hơn những vấn đề nhất thiết phải trưng cầu ý dân. Nếu dành cho Quốc hội quyền quyết định những vấn đề trưng cầu ý dân mà thực tế Quốc hội không cho rằng cần phải trưng cầu ý dân thì toàn bộ quy định về trưng cầu dân ý chẳng có ý nghĩa gì. Do vậy nên có thêm một quy định các vấn đề bắt buộc phải được trưng cầu ý dân, (có thể quy định ngay trong điều này của Dự thảo), đồng thời trình bày lại thành " Điều 30. 1. Những vấn đề thuộc về việc sửa đổi, bổ sung hiến pháp liên quan đến quyền con người, quyền công dân, về tổ chức bộ máy nhà nước,… phải trưng cầu ý dân (điều này cũng cần được bổ sung và làm rõ hơn); 2. Nhà nước quyết định vấn đề được trưng cầu ý dân theo ý kiến đa số được trưng cầu”. Có như vậy thì "quyền trưng cầu ý dân” mới có ý nghĩa.

Với khoản 2 Điều 32 của Dự thảo quy định "Người bị buộc tội có quyền được Tòa án xét xử. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm” cũng cần được trình bày lại cho hợp lý hơn thành "…Không ai bị kết án hai lần đối với một lần phạm tội” vì cũng một tội phạm nhưng một người có thể thực hiện nhiều lần, mỗi lần như thế đều có thể bị kết án.

Đối với khoản 2 Điều 41, là "2. Nghiêm cấm các hành vi đe dọa đến cuộc sống và sức khỏe của người khác và cộng đồng”, đề nghị sửa thành "Nghiêm cấm các hành vi đe dọa hay xâm phạm đến cuộc sống và sức khỏe của người khác và cộng đồng” vì chỉ cấm hành vi đe dọa thôi thì không đủ.

Đối với Điều 44, Dự thảo quy định "Mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận các giá trị văn hóa”. Đây là quy định mới, rất hay và thiết thực khi so sánh với thực tế ở các thành phố lớn với các địa phương khác hay giữa chính hai thành phố lớn nhất đất nước là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Công viên ở Hà Nội thì bị rào hết để phục vụ cho kinh doanh, còn ở TP Hồ Chí Minh, các công viên mới thực sự là nơi chơi chung cho mọi người. Mặt khác, con người còn là chủ thể tạo ra các giá trị văn hóa nữa mà điều này liên quan đến quyền được phát triển của con người. Vì vậy, Hiến pháp phải quy định "Nhà nước đảm bảo cho mọi người có quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa, tiếp cận và sáng tạo các giá trị văn hóa”./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi