Cần hiến định quyền của người chưa thành niên trong Hiến pháp

Có thể nói, giá trị dân chủ của một bản Hiến pháp chắc chắn sẽ không phải vì nó đã xác lập hay thống kê được bao nhiêu quyền lực của bộ máy nhà nước, mà là nó đã làm minh bạch đến mức độ nào những định chế đảm bảo quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó việc xác lập đầy đủ những bảo hộ đối với người chưa thành niên (NCTN), quyền được hưởng sự chăm lo phát triển tốt nhất sẽ luôn là bằng chứng rõ rệt của một Hiến pháp hiện đại - Hiến pháp của Nhà nước pháp quyền. Bài viết xem xét, đối chiếu lại các bản Hiến pháp của nước ta với việc hiến định quyền của NCTN và đề xuất việc xác lập quyền của NCTN vào Hiến pháp sửa đổi, bổ sung hiện nay.

1. Quyền của người chưa thành niên qua các bản Hiến pháp

Hiến pháp 1946dù đã ra đời gần 70 năm nhưng nhiều tư tưởng vẫn mang tầm thời đại, nhiều giá trị độc đáo, đặc biệt là giá trị về các quyền hiến định của NCTN vẫn luôn được các thế hệ kế thừa, trân trọng. Hiến pháp quy định về nghĩa vụ công dân chỉ có hai điều, nhưng quy định về quyền lợi công dân có tới 16 điều, cơ bản và bao quát toàn bộ quyền của công dân trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, sở hữu và quyền nhân thân. Trong đó, có hai điều quy định về quyền của NCTN: "Trẻ con được săn sóc vềmặt giáo dưỡng”(Điều 14);"Nền sơ học cưỡng bách và không học phí ởcác trường sơ học địa phương…Học trò nghèo được Chính phủ giúp”(Điều 15). Có ba định chế được xác lập ở đây: (i) NCTN ở lứa tuổi mẫu giáo được Nhà nước chăm lo về nuôi dưỡng, giáo dục; (ii) bậc học cấp I (sơ học) là bắt buộc đối với NCTN và bắt buộc đối với mọi công dân; mọi người ở mọi lứa tuổi đều phải biết đọc, biết viết[1]; (iii) học sinh các lứa tuổi đi học chữ quốc ngữ "không phải mất tiền”[2]. Một Chính phủ bắt đầu sự nghiệp chỉ với 80.000 đồng bạc Đông Dương còn lại trong quốc khố, đã dũng cảm long trọng thề kiên quyết "Giữ quyền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc”[3]; thắnggiặc đóibằng mọi giá để người dân mình thắnggiặc dốt, biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu rõ giành chính quyền là cực kỳ khó khăn, nhưng giữ vững dài lâu được chính quyền cách mạng còn non trẻ trước nanh vuốt hung bạo của các thế lực thù địch lúc bấy giờ còn khó khăn, nguy hiểm gấp bội lần. Vì thế, từ buổi đầu thành lập Chính phủ, Người đã xác định phải khẩn trương giúp cho người dân thoát nạn mù chữ[4]; xây dựng thế hệ tri thức tương lai ngay từ các cháu thanh, thiếu niên, nhi đồng; chỉ có sự kế thừa của đội ngũ công, nông có tri thức mới, mới có thể đủ sức mạnh tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH). Có lẽ, chưa bao giờ ở một khái niệm pháp lý nghiêm khắc về cưỡng chế hành chính ("cưỡng bách”) trong cụm từ "sơ học cưỡng bách” làm người ta cảm động, thân thương như thế. Bên cạnh các định chế về bắt buộc phải biết chữ đối với NCTN nêu trên, việc xác định "Học trò nghèo được Chính phủ giúp” còn thể hiệnchính sáchbảo hộ tối đa quyền học tập của NCTN của Hiến pháp 1946. Có thể nói, Hiến pháp 1946 là Hiến pháp đầu tiên của nền độc lập, tự do đối với dân tộc ta nhưng cũng có thể nói là Hiến pháp củaquyền học tậpđối với NCTN.

TrongHiến pháp 1959, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân được quy định ở Chương III, cơ bản là sự kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946 về các quyền và nghĩa vụ của công dân, quy định thêm một số quyền và nghĩa vụ mới. Tuy nhiên, cũng chính vì Hiến pháp 1959 là Hiến pháp của thời kỳ cả dân tộc dốc toàn lực thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: giải phóng miền Nam và xây dựng thành công CNXH ở miền Bắc, thì quyền lợi của công dân cũng chính là gánh vác nghĩa vụ, được hy sinh vì nghĩa vụ, vì lợi ích của đại cục. Chương II quy định về kinh tế - xã hội chỉ ngắn gọn có 13 điều (từ Điều 9 đến Điều 21), nhưng đã sử dụng tám lần những cụm từ động viên nghĩa vụ công dân, như: "Nhà nước đặc biệt khuyến khích”, "Hướng dẫn, giúp đỡ sự phát triển”, "Nhà nước ra sức hướng dẫn, giúp đỡ nông dân”... Trong bối cảnh đó, quyền hiến định đối với NCTN nếu phải trở nên mờ nhạt, khuất lấp sau những yêu cầu, bức xúc, khẩn trương của cả đất nước, thì cũng là dễ hiểu. Vì thế, ở Chương III về Quyền lợi và nghĩa vụ công dân, được quy định đến 21 điều (từ Điều 22 đến đến Điều 42), nhưng hầu như không có điều nào quy định đối với quyền của NTCN, ngoại trừ hai điều liên quan là: "Nhà nước bảo hộ quyền lợi của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” (Điều 24);"Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục, thể dục” (Điều 35).Xét nội dung của hai điều nêu trên, khó có thể nói đó là những quyền hiến định của NCTN, vì nội dung của nó chủ yếu là chính sách chung của Nhà nước về chăm sóc sản phụ, ấu nhi và khuyến khích phát triển hệ thống nhà hộ sinh, nhà mẫu giáo. Riêng Điều 35 thì rõ ràng là cơ chế quan tâm cho đối tượng thanh niên đã trưởng thành, khi mà pháp luật thời điểm đó chưa có khái niệm "thanh niên” theo Luật Thanh niên hiện nay[5]. Như vậy, có thể xem Hiến pháp 1959 là Hiến pháp của hai nhiệm vụ chiến lược[6]; nhưng cũng là Hiến pháp thiếu định chế về quyền của NCTN.

Trên cơ sở kế thừa và phát triển quyền học tập của NCTN theo Hiến pháp 1946,Hiến pháp 1980không dừng lại ở nền "sơ học cưỡng bách” mà quy định chế độ giáo dục phổ thông bắt buộc và thực hiện điều tốt đẹp nhất trong những điều tốt đẹp đối với NCTN, đó là "chế độ học không phải trả tiền”, cùng với chính sách cấp học bổng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân học tập (Điều 60). Nhờ đó, trong các thập kỷ tám mươi, chín mươi đã dấy lên phong trào xã hội thi đua học tập mạnh mẽ; nhiều thanh, thiếu niên có thành tích học tập xuất sắc đạt giải cao trong kỳ thi toán, vật lý quốc tế; nhiều học sinh, sinh viên học giỏi được Nhà nước cấp học bổng học tập tại các nước XHCN ở Đông Âu và nhiều người trong số họ đã trở thành lực lượng trí thức, doanh nhân, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp hiện nay.

Xây dựng xã hội tốt dựa trên nền tảng gia đình tốt với phương châm gia đình là tế bào của xã hội, là một trong những nội dung mới của Hiến pháp 1980, qua đó gián tiếp bảo đảm các quyền của NCTN, cụ thể quy định cha mẹ phải có nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành những công dân có ích cho xã hội và ngược lại, con cái có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc cha mẹ. Cơ chế bảo đảm quyền được nuôi dạy, giáo dục của NCTN không chỉ bằng pháp luật mà còn bằng chế tài đạo đức: "Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con” (Điều 64). Đồng thời, khẳng định trách nhiệm của Nhà nước về chăm lo, săn sóc, giáo dục NCTN thành người có ích cho xã hội tương lai: Nhà nước và xã hội chú trọng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, mở rộng dần việc đảm nhiệm nuôi dạy trẻ em, làm cho sinh hoạt, học tập và trưởng thành của trẻ em được bảo đảm (Điều 65). Đặc biệt, đối với NCTN thuộc đối tượng là trẻ mồ côi thì được Nhà nước và xã hội chăm lo, nuôi dạy (Điều 74).

Bên cạnh đó, tại Hiến pháp 1980, tính chất lý tưởng hóa trong giáo dục thế hệ trẻ còn được đề cao và xác lập thành cơ chế giáo dục bao cấp của Nhà nước cũng như là trách nhiệm của xã hội; đồng thời cũng đòi hỏi họ phải trở thành lực lượng xung kích, hăng hái tham gia ba cuộc cách mạng[7]"Nhà nước và xã hội… chăm lo, bồi dưỡng lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên.Thanh niên phải làm tròn nhiệm vụ lực lượng xung kích trong phong trào thi đua xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, trong cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá” (Điều 66).

Đối với NCTN, Hiến pháp 1980 sẽ là dấu ấn không thể phai mờ. Chính bởi có những định chế "giáo điều” về lý tưởng cộng sản, "bao cấp” về quyền học tập, học bổng, quyền được chăm sóc bởi gia đình và xã hội… trong thời điểm đó nên đã động viên, đào tạo được một thế hệ tri thức trẻ, mà nhiều người trong số họ đã có những cống hiến, đóng góp lớn lao cho đất nước trên các lĩnh vực; và cũng chính nhờ những bài học kinh nghiệm quý báu trong thời kỳ này mà thế hệ trẻ có được sự đổi mới, phát triển trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội những năm sau này.

Hiến pháp 1992là Hiến pháp với đầy đủ các khái niệm kế thừa, phát triển và đổi mới về lý luận và thực tiễn sinh động của ba thời kỳ xây dựng Hiến pháp 1946, 1959 và 1980. Hiến pháp 1992 khẳng định và tiếp tục hoàn thiện đường lối đổi mới[8], thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Chiến lược và ổn định phát triển kinh tế - xã hội… Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định ở Chương V, với 34 điều, từ Điều 49 đến Điều 82. So với Hiến pháp 1980, chỉ giữ lại 4 điều (49, 52, 76 và 80), hầu hết số còn lại đều được sửa đổi, bổ sung và có 4 điều hoàn toàn mới, khẳng định sự đảm bảo về các quyền con người trên các lĩnh vực chính trị - xã hội. Trong đó, số lượng những quy định dành cho quyền của NCTN tăng lên với 6 điều, nhiều nhất so với các Hiến pháp trước đó, gồm: một điều (Điều 36) tại Chương III và năm điều tại Chương IV (59, 64, 65, 66 và 67).

Nội dung quyền của NCTN cũng được tổng hợp đầy đủ hơn, với các quyền cơ bản như quyền được Nhà nước, xã hội và gia đình chăm sóc, giáo dục; quyền được học tập, hưởng thụ các phúc lợi xã hội và trẻ mồ côi được Nhà nước, xã hội bảo trợ. Bên cạnh trách nhiệm chung của Nhà nước và xã hội đối với NCTN, Hiến pháp còn quy định cụ thể tổ chức Đoàn thanh niên là tổ chức có trách nhiệm giáo dục NCTN: "Các đoàn thể nhân dân, trước hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng” (Điều 36).Học tập được xác định là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của NCTN, trong đó, bậc tiểu học là bắt buộc và không phải trả học phí; học sinh năng khiếu, học giỏi được Nhà nước tạo điều kiện, phát triển tài năng, các trẻ em khuyết tật, hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được hưởng chính sách học văn hóa, học nghề phù hợp (Điều 59); trẻ mồ côi được Nhà nước và xã hội bảo trợ (Điều 67). Các bảo đảm quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông bà, cha mẹ và con cháu (Điều 64, 65) và quyền được tạo điều kiện học tập, lao động và giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân và lý tưởng XHCN, đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc (Điều 66), được giữ nguyên như đã quy định ở Hiến pháp 1980.

2. Cần hiến định quyền và quyền tư pháp người chưa thành niên trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992

Ngày 6/8/2011, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ nhất, đã ra Nghị quyết số 06/2002/QH13 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 lần thứ hai[9]. Bản Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung đã được công bố, gồm: Lời nói đầu, 11 chương và 124 điều; so với Hiến pháp hiện hành ít hơn một chương và 23 điều. Chương Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương V Hiến pháp hiện hành đã được điều chỉnh trở lại vị trí như ở Hiến pháp 1946, tức là được quy định ở Chương II, ngay sau Chương I về Chế độ chính trị. Đặc biệt, điểm bổ sung của chương này cũng đồng thời là nội dung đổi mới của Dự thảo; đó là sự minh định về các quyền với việc bổ sung vào tên của chương ba chữ:Quyền con ngườivà đặt trang trọng trước cụm từ truyền thống Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương II Dự thảo Hiến pháp). Có thể nói, chỉ xét riêng về hình thức đã cho thấy bằng chứng hàm lượng "pháp quyền” của Dự thảo Hiến pháp được nâng lên một tầm cao mới, khi mà quyền con người từ vị thế bị nén và "hòa tan” trong quyền công dân[10]thì nay được "giải phóng” để trở thành một quyền hiến định độc lập và được "bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Tuy nhiên, quyền của NCTN trong Dự thảo Hiến pháp lại hoàn toàn mờ nhạt và hầu như không kế thừa gì ở các bản Hiến pháp trước đó. Toàn bộ Chương II về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân của Dự thảo Hiến pháp sửa đổi, bổ sung tổng cộng có 38 điều, thì chỉ có vỏn vẹn ba điều đề cập đến NCTN là Điều 38, 39 (trùng lắp Điều 62 của Chương III) và Điều 40[11].

Trước hết, về yếu tố kỹ thuật, có thể thấy tính thiếu thống nhất về khái niệm NCTN và khái niệm "trẻ em”. Thực tế, trẻ em cũng là NCTN[12]. Việc định lượng độ tuổi tối thiểu chỉ có ý nghĩa phân hóa chính sách áp dụng trong từng quan hệ xã hội của luật chuyên ngành. Còn Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là kim chỉ nam định hướng cho mọi luật dưới nó, thì điều đầu tiên phải bảo đảm là sự định danh pháp lý vững chắc và thống nhất làm căn cứ cho các luật. Do đó, việc phân mảnh khái niệm NCTN và trẻ em tại Hiến pháp là không cần thiết. Mặt khác,nội dung giả định và cấm đoán ở hai trường hợp thực chất là tương tự, nhưng nếu tách ra để quy chiếu như thế cho hai chủ thể NCTN (Điều 38 Dự thảo), "trẻ em” (Điều 39, 40 Dự thảo) là khá "gượng ép”.

Thứ hai, về nội dung bảo hộ lợi ích của NCTN trong Dự thảo Hiến pháp chỉ mới đề cập ở ba lĩnh vực: quan hệ lao động (Điều 38); quan hệ hôn nhân - gia đình (Điều 39) và quyền được chăm sóc, giáo dục (khoản 1 Điều 40). Trong đó, khoản 2 Điều 40 là trùng lắp Điều 38 và Điều 39 cũng trùng lắp với khoản 2 Điều 62 như nêu trên. Thiết nghĩ, các bảo hộ lợi ích này còn hạn chế ở phạm vi chính sách xã hội, chưa thể xem là định chế hoàn chỉnh về quyền của NCTN, vì nhiều quyền quan trọng cơ bản khác như: quyền học tập, quyền phổ cập bậc học và chính sách khuyến khích tài năng, chính sách bảo trợ, miễn học phí đối với NCTN khuyết tật, có hoàn cảnh neo đơn, mồ côi...chưa được đề cập, kế thừa từ các Hiến pháp 1946, 1980 và Hiến pháp 1992 hiện hành. Mặc dù ở Điều 42 (sửa đổi, bổ sung Điều 50) cùng chương này và tại khoản 1 Điều 63 (sửa đổi, bổ sung Điều 67) của Chương III về Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường cũng có nêu công dân có quyền, nghĩa vụ học tập và Nhà nước trợ giúp người cao tuổi, khuyết tật, nghèo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thì đây vẫn là chính sách xã hội đối với mọi công dân, chưa phải định chế về quyền của NCTN.

Vấn đề cần bàn thêm là, có sự phân biệt giữa quyền của NCTN với quyền công dân nói chung không và có nên cấu trúc quyền của NCTN chìm lẫn trong quyền công dân như tại các Hiến pháp trước nay hay không? Theo chúng tôi, xét trên những yêu cầu hiện nay về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là không nên, vì các lý do sau đây:

(i) Xét theo năng lực pháp luật thì ngay từ khi sinh ra, NCTN đương nhiên là công dân và được hưởng một số quyền công dân theo quy định của Hiến pháp nhưng vẫn chỉ là quyền công dân không đầy đủ, nói cách khác là công dân bị hạn chế quyền; ví dụ: NCTN không thể có quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền thi hành nghĩa vụ quân sự..., tức là chưa có năng lực hành vi trong những quan hệ pháp luật nêu trên.

(ii) Điều 51 Hiến pháp hiện hành và Điều 20 Dự thảo Hiến pháp quy định: "Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”. Nhưng nếu cấu trúc quyền của NCTN trong quyền và nghĩa vụ công dân như trong Dự thảo Hiến pháp thì hoàn toàn không thấy quy định gì về nghĩa vụ của NCTN, như vậy là thiếu thống nhất với Điều 20 nêu trên của Dự thảo. Xem tại Hiến pháp hiện hành, thì chỉ có quy định "bậc tiểu học là bắt buộc” (Điều 59); và "con cháu có bổn phận kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ” (Điều 64), song những quy định này có thể xem là nghĩa vụ công dân của NCTN hay không, chắc chắn là không. Vì bậc tiểu học bắt buộc là chính sách phổ cập thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước; và vì học tập là quyền chứ không phải là nghĩa vụ công dân của NCTN. Còn thái độ, quan hệ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ là quy phạm đạo đức, không có chế tài pháp lý. Như vậy, đối với NCTN, Hiến pháp chỉ có thể hiến địnhquyềnchứ chưa thể hiến địnhnghĩa vụ. Mặt khác, xét về tương quan thì quyền của NCTN gần với quyền con người hoặc nói cách khác là hàm lượng quyền con người trong quyền của NCTN nhiều hơn so với quyền công dân[13]. Vì thế, nếu vẫn giữ nguyên cấu trúc quyền của NCTN chìm lẫn trong Chương quy định về Quyền và nghĩa vụ công dân là chưa phù hợp.

(iii) Ở nước ta số lượng NCTN luôn chiếm tỷ lệ khoảng 30% tổng dân số[14], có thể nói là "tầng lớp” đông nhất của xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước và là thế hệ kế thừa của hiện tại. Với vị thế chính trị - pháp lý đặc biệt đó, đòi hỏi việc hiến định các quyền của họ không thể chỉ dừng ở những quyền tối thiểu về ăn, học; mà cần được xác lập đầy đủ, tương xứng hơn vềquyềnnhư: quyền được sống và phát triển trong điều kiện, môi trường phù hợp[15]; đặc biệt làquyền tư phápNCTN - một yêu cầu bức thiết cần được sớm hiến định và tách bạch khỏi Chương Quyền và nghĩa vụ công dân của Hiến pháp hiện hành.

Khái niệm quyền tư pháp NCTN là một khái niệm còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nhưng không quá xa lạ. Khoản2 Điều 12 Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em[16]nêu: "Trẻ em phải được đặc biệt tạo cơ hội nói lên ý kiến của mình trong bất kỳ quá trình tố tụng tư pháp hoặc hành chính nào có ảnh hưởng đến trẻ em, hoặc trực tiếp hay thông qua một người đại diện hay một cơ quan thích hợp, theo cách thức phù hợp với những quy định mang tính thủ tục của luật pháp quốc gia”.

Nước ta là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm nhất các văn kiện quốc tế như: Công ước Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em (1990); phê chuẩn Công ước số 182 của ILO (Tổ chức Lao động quốc tế) về Việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (17/6/1999); Công ước số 138 của ILO về Tuổi tối thiểu đi làm việc (1973); Quy tắc tối thiểu của Liên hiệp quốc về Quản lý tư pháp NCTN (Quy tắc Bắc Kinh 1985)[17]... Việc phê chuẩn các văn kiện nêu trên cũng đồng thời là sự cam kết nghĩa vụ pháp lý của chúng ta trong thỏa thuận với cộng đồng quốc tế về thực hiện các quyền của NCTN, trong đó có quyền tư pháp NCTN mà tương ứng với nó là nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, xã hội trong việc bảo vệ quyền nhân thân của NCTN không bị xúc phạm gây tổn thương về thể chất cũng như về tinh thần từ bất kỳ ai và từ bất kỳ lý do gì[18].

Vì vậy, trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 cần tiếp tục hoàn thiện định chế về các quyền của NCTN đã quy định tại các Điều 36, 59, 64, 65, 66 và 67 trong Hiến pháp hiện hành. Ngoài các quyền về ăn, học, cần xác lập các quyền khác như: quyền được sống, phát triển trong môi trường phù hợp; quyền không bị ngược đãi, bị bạo hành và bị lạm dụng trong lao động và thân thể; quyền được bảo vệ an toàn tối đa trong trường hợp bị tước bỏ tự do hoặc giam giữ và bổ sung thêmquyền tư phápcủa NCTN. Về lâu dài, cần tổ chức hệ thống tư pháp NCTN[19]bao gồm: Tòa án NCTN; lực lượng chuyên trách tố tụng và chuyên trách hỗ trợ tư pháp NCTN trong quản lý, giáo dục, tư vấn, trợ giúp tái hòa nhập cộng đồng...; đồng thời cơ cấu thành một Chương riêng về Quyền của NCTN. Trường hợp thấy không cần thiết phải tách riêng quyền của NCTN ra khỏi Chương Quyền con người, Quyền và nghĩa vụ công dân thì đề nghị xây dựng quyền của NCTN thành một mục và các điều khoản độc lập trong chương này.

Nhà nước pháp quyền là nhà nước được tổ chức và quản lý theo pháp luật và đề cao các giá trị nhân văn, tôn trọng và bảo đảm quyền của con người, quyền công dân và quyền của NCTN.Vì vậy, có thể nói, cơ sở nền tảng và bằng chứng rõ rệt về một Nhà nước pháp quyền XHCN thể hiện đầu tiên và trước hết là việc hiến định quyền và quyền tư pháp của NCTN không phải với tư cách là một bộ phận của quyền, nghĩa vụ công dân mà cần và phải với tư cách là những quyền độc lập, cơ bản của NCTN./.

[1]Chính phủ thành lập Nha Bình dân Học vụ theo Sắc lệnh số 17/SL ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh; theo đó đã phát động một phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ của các tầng lớp nhân dân ở các lứa tuổi diễn ra sôi nổi trên toàn quốc.

[2]Sắc lệnh số 20/SL ngày 8/9/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sách và ảnh "60 năm Chính phủ Việt Nam 1945 - 2005”, Nxb Thông tấn - Công ty ITAXA, TP.HCM, 2005, tr.29.

[3]Lời thề của Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tlđd số 2, tr.26.

[4]Ngay sau ngày tuyên bố độc lập 2/9/1945, ngày 3/9/1945 tại phiên họp Chính phủ Lâm thời lần đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình bày 6 nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa, trong đó nhiệm vụ chống nạn mù chữ được xếp thứ hai sau nhiệm vụ chống giặc đói, Người nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” - Tác phẩm Bác Hồ với giáo dục, Nxb Giáo dục TP.HCM, 2008, tr.66.

[5]Luật Thanh niên năm 2005 quy định (Điều 1): "Thanh niên trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.

[6]Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là: Tiến lên CNXH ở miền Bắc, song song với giải phóng dân tộc ở miền Nam, hoàn thànhnhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước(Lời nói đầu của Hiến pháp 1959 và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III năm 1960).

[7]Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV và Lời nói đầu Hiến pháp 1980 xác định:Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH.

[8]Sau 9 năm thực hiện, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 đã ra Nghị quyết số 51/2001/QH10, ngày 25/12/2001, sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (năm 1991) và văn kiện các Đại hội của Đảng (khóa VI, 1986-1991; khóa VII, 1991-1996). Việc sửa đổi, bổ sung gồm Lời nói đầu, 23 điều và bỏ khoản 8 của Điều 91, với số chương, số điều vẫn như trước; có hiệu lực thi hành từ ngày 07/01/2002.

[9]Dựatrên cơ sở Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH và văn kiện Đại hội XI của Đảng (Lần thứ nhất: sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001-QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10).

[10]Điều 50Hiến pháp hiện hành quy định: "Ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền conngười về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôntrọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.

[11]Điều 38 Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung Điều 55, Điều 56): "2. Nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật”;

+ Điều 39 Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung điều 64): "2. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”;

+ Điều 40 Dự thảo Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung Điều 65): "1. Trẻ em có quyền được gia đình, nhà trường, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.2.Nghiêm cấm hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.

[12]Hiến pháp 1992 hiện hành (Điều 54): "Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, … đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử”, như vậy được hiểungười đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người chưa đủ 18 tuổitrở xuốnglàNCTN;

+ Bộ luật Dân sự năm 2005(Điều 20) xác định: "Người chưa đủ 18 tuổi là NCTN”, được hiểu bao gồm mọi độ tuổi dưới 18 tuổi kể từ trẻ sơ sinh trở lên đều là NCTN;

+ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định (Điều 1): "Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”.

[13]Ví dụ: Điều 7 Hiến chương Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em nêu: khi trẻ em sinh ra ở bất kỳ quốc gia nào thì đều có quyền đương nhiên mang quốc tịch, là công dân của quốc gia đó, bất kể sự khác biệt về dân tộc, chính trị, trừ khi có sự từ chối của cha mẹ.

[14]Website Cục Thống kê - Bộ Lao động Thương binh Xã hội: tính đến ngày 01/4/2009, tổng dân số nước ta là: 85.846.997 người, trong đó NCTN dưới 18 tuổi: 26.230.030 người (chiếm tỷ lệ: 30,5% dân số).

(http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=15346).

[15]Chính phủ cũng đã ban hành những văn bản quy phạm tươngtự như:Quyết định số 37/2010/QĐ-TTg ngày 22/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn xã, phường phù hợp với trẻ em; Thông tư số 22/2010/TT-BLĐTBXH ngày 12/8/2010 quy định trình tự, thủ tục đánh giá và công nhận xã, phường phù hợp với trẻ em.Tuy nhiên cũng vẫn là những văn bản dưới luật và chưa thực tiễn; ví dụ ở các địa phương, thường thấy có các biển báo: "khu vực dễ cháy, cấm hút thuốc”; "khu vực bệnh viện, cấm bóp còi”; nhưng chưa thấy ở đâu có biển báo: "Khu vực trẻ em, cấm hút thuốc” hoặc "Khu vực trẻ em, cấm gây ồn, xả rác…”.

[16]Công ước Liênhiệpquốc vềQuyền trẻ em(United Nations Convention on the rights of the child)là văn kiện pháp lý quốc tế do Đại hội đồng Liênhiệpquốc thông qua ngày 20/11/1989 theo Nghị quyết số 44/25; có hiệu lực từ 02/09/1990;quy định các quyền cơ bản của trẻ em như: quyền sống và phát triển vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, quyền tham gia của trẻ em, bảo vệ trẻ không bị bóc lột và lợi dụng.

[17]Quy tắc Bắc Kinh quy định: trường hợp người phạm tội không được xử lý chuyển hướng thì người đó sẽ được xử lý bởi cơ quan có thẩm quyền theo những nguyên tắc bảo đảm một phiên tòa công bằng và công minh.

[18]Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 28/12/2011: Trong năm 2011, cả nước phát hiện 1.385 vụ xâm hại trẻ em với 1.548 đối tượng gây án và 1.397 em bị xâm hại, trong đó nhiều nhất là các vụ hiếp dâm (472 vụ), giao cấu trẻ em (248 vụ), cố ý gây thương tích (128 vụ). Bình quân hàng năm, số vụ xâm hại tình dục trẻ em chiếm hơn 60% tổng số vụ xâm hại trẻ em.

[19]UBND TP.HCM, (2010), Chương trình bảo vệ trẻ em Tp.HCM giai đoạn 2011-2015; Chỉ tính riêng ở TP.HCM, theo thống kê số lượng theo độ tuổi trẻ em (dưới 16 tuổi), tính đến hết tháng 12/2009 có: 1,631,715; trong đó có: 64.255 trẻ thuộc diện Chương trình Quốc gia về trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, gồm các đối tượng là: trẻ mồ côi, khuyết tật, lang thang, phạm pháp, nghiện hút…;

- Thời gian từ tháng 5/2007 - 5/2011, đã xảy ra 7.086 vụ phạm pháp và có 10.679 người phạm tội là thanh, thiếu niên; trong đó NCTN chiếm tỷ lệ đến gần 30%; có 118 vụ và 209 NCTN phạm tội khi đang là học sinh, sinh viên.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi