Bàn về nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước.

Ở góc độ của pháp luật hành chính, nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước là tổng thể các quy phạm pháp luật hành chính có nội dung là những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước[[1]]. Trong quản lý hành chính, nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất. Với khuôn khổ bài viết, tác giả nhằm khái quát và làm rõ hơn về nội dung và các cách thức thực hiện nguyên tắc này.

1. Về nguồn gốc của nguyên tắc:

Trong Hiến pháp năm 1946, một bản Hiến pháp với 70 điều ngắn gọn, được ban hành ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, đã quy định về việc tham gia của nhân dân vào việc quản lý hành chính. Điều 1 Hiến pháp 1946 quy định: "Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Quy định này đã thể hiện rất rõ "quyền bính trong nước” là của toàn dân Việt Nam. Điều này khẳng định nhân dân được toàn quyền tham gia vào việc quản lý hành chính nhà nước. Tuy vào thời điểm này nước Việt Nam còn non trẻ, mới được thành lập, nhưng những quy định trong Hiến pháp 1946 đã thể hiện rõ vai trò của nhân dân trong việc tham gia vào việc quản lý hành chính nhà nước. Điều này cũng thể hiện được bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Tiếp đến Hiến pháp 1959, sự tham gia của quần chúng nhân dân vào quản lý hành chính nhà nước lại được khẳng định rõ ràng và cụ thể hơn qua những quy định tại Điều 4: "Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Như vậy, Hiến pháp 1959 lại một lần nữa đã khẳng định rõ "quyền lực trong nước Việt Nam” thuộc về nhân dân và quyền lực này được thực thi thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Do vậy, quy định này là một trong những nguồn gốc quan trọng nhất để nhân dân tham gia đông đảo vào việc quản lý hành chính. Để khẳng định rõ hơn về vấn đề này, Điều 6 Hiến pháp 1959 cũng quy định: "Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân ”. Quy định này làm nổi bật bản chất của nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Sau khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, nước nhà được thống nhất, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 lần lượt được ban hành đã khẳng định rõ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Việc tham gia của nhân dân vào việc quản lý hành chính trước tiên được thể hiện thông qua việc quy định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều 6 Hiến pháp 1980 khẳng định rõ "Ở nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Cụ thể hơn, Điều 8 Hiến pháp 1980 khằng định: "Tất cả các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, từ quy định tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là căn cứ để nhân dân tham gia vào việc quản lý hành chính. Việc này thể hiện nhân dân vừa có quyền quản lý, vừa có quyền giám sát các hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan hành chính nhà nước. Bản chất nhà nước ta một lần nữa lại được khẳng định rõ ràng hơn thông qua Điều 2 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001): "Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Thêm nữa, Điều 3 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định: "Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”. Từ những quy định trên rút ra được là quyền được tham gia quản lý vào các công việc của Nhà nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và trên thực tế nó đã được bảo đảm thực hiện thông qua hàng loạt những hoạt động cụ thể[[2]].

Hiến pháp năm 2013 được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 đã tiếp tục khẳng định sâu sắc hơn vai trò của nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Bản Hiến pháp này tiếp tục khẳng định việc Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; và hướng đến thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Việc tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước, trong đó có việc quản lý hành chính nhà nước, của nhân dân được nêu khái quát tại Điều 28 như sau:

"1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

Như vậy, một lần nữa, quyền tham gia quản lý nhà nước của nhân dân được ghi nhận một cách cụ thể hơn. Trong quá trình tham gia vào việc quản lý hành chính nhà nước, nhân dân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Và khi nhận được khiếu nại, tố cáo thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo để đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên liên quan.

Bên cạnh đó, việc bảo đảm cho nhân dân lao động tham gia vào quản lý hành chính nhà nước còn được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật. Ví dụ: Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc…

Tóm lại, nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước có nguồn gốc sâu xa từ những quy định trong các bản Hiến pháp đã được ban hành bao gồm các quy định cụ thể nhằm thể hiện bản chất và vai trò của Nhà nước ta. Theo đó, nguyên tắc này cũng đã được thể chế thông qua rất nhiều các văn bản pháp luật đã được ban hành trong thời gian qua.

2. Các cách thức mà nhân dân tham gia vào việc quản lý hành chính nhà nước.

2.1. Một là, nhân dân tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Theo quy định của Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Như vậy, theo nguyên tắc này nhân dân được quyền tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thức tham gia tích cực và có hiệu quả của nhân dân vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Người lao động nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy định đều có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước để trực tiếp hay gián tiếp thực hiện công việc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội[[3]]. Việc tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước của nhân dân được hiểu là nhân dân lao động (dưới vai trò là người lao động) tham gia vào làm việc, thực thi công việc, thực hiện những hoạt động của các cơ quan nhà nước. Lúc này, nhân dân lao động được hiểu chính là các cán bộ, công chức, viên chức hay người lao động tham gia vào công tác, làm việc tại các cơ quan nhà nước. Do vậy, người lao động vừa là người trực tiếp thực hiện hoạt động của cơ quan nhà nước lại vừa trực tiếp thực hiện việc giám sát hoạt động của các cơ quan này.

Trước tiên, nhân dân được quyền tham gia vào hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước. Các cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương (Quốc hội) và các cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp). Thông qua cơ quan này, những vấn đề quan trọng của đất nước, của các địa phương được xem xét, quyết định. Theo quy định của Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Bản Hiến pháp này cũng quy định, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. Đến Hiến pháp năm 2013, Quốc hội được quy định rõ vai trò đại biểu cao nhất của nhân dân và là cơ quan có quyền lực nhà nước cao nhất thể hiện tại Điều 69: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”.

Như vậy, khi người dân lao động có đủ điều kiện, được tín nhiệm và bầu vào làm việc tại các cơ quan này thì được quyền trực tiếp xem xét và quyết định những vấn đề mang tính định hướng, quyết định những vấn đề quan trọng, giám sát các hoạt động của Nhà nước và quyết định định hướng phát triển của toàn xã hội.

Thêm nữa, nhân dân được quyền tham gia vào các hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền hành pháp, tư pháp như cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ trực thuộc chính phủ), cơ quan viện kiểm sát (viện kiểm sát nhân dân các cấp), cơ quan xét xử (toà án nhân dân các cấp). Khi người dân lao động có đủ điều kiện, trải qua các kỳ thi tuyển dụng cán bộ, công chức do các cơ quan này tổ chức thì người dân trở thành thành viên của các cơ quan này. Lúc này, người dân lao động được sử dụng quyền lực nhà nước để tiến hành những công việc khác nhau trong quản lý hành chính nhà nước, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, thể hiện rõ vai trò người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.

Tóm lại, nhân dân được quyền tham gia đông đảo vào hoạt động của các cơ quan nhà nước trên tất cả các lĩnh vực như lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cùng với sự tham gia này, nhân dân được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc quản lý hành chính nhà nước.

2.2. Hai là, nhân dân tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội

Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam, có chung mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và theo điều lệ không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội [[4]]. Các tổ chức xã hội bao gồm các tổ chức như sau: tổ chức chính trị (1); các tổ chức chính trị- xã hội (2); các tổ chức xã hội – nghề nghiệp (3); các tổ chức tự quản (4); các hội được thành lập theo dấu hiệu nghề nghiệp, sở thích hoặc các dấu hiệu khác (5). Có thể thấy rằng, các tổ chức xã hội nhân danh chính mình để tham gia hoạt động quản lý nhà nước. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định tổ chức xã hội mới hoạt động nhân danh nhà nước. Điều này xuất phát từ lý do tổ chức xã hội không phải là bộ phận trong cơ cấu của bộ máy nhà nước.

Nhà nước tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội. Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành nhiều quy định liên quan tới vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức xã hội trong quản lý hành chính nhà nước. Mặt khác, các tổ chức xã hội thông qua hoạt động của mình góp phần vào việc quản lý nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn của xã hội, góp phần chung vào sự phát triển của đất nước. Các tổ chức xã hội hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên trong tổ chức.

Các tổ chức xã hội tham gia vào việc quản lý nhà nước nói chung, quản lý hành chính nhà nước nói riêng và việc ổn định xã hội: thông qua việc thể hiện ý chí nguyện vọng của các thành viên trong tổ chức đối với các cơ quan nhà nước (1); thông qua việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, của các thành viên trong tổ chức và của người dân bằng cách nêu ra yêu cầu giải quyết các vấn đề còn bất cập trong xã hội (2); thông qua việc tham gia phản biện đối với các vấn đề nảy sinh trong xã hội mà chưa được giải quyết cụ thể, dứt điểm, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của thành viên và của nhân dân lao động (3); thông qua việc khiếu nại, tố cáo những hoạt động vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước (4).

Như vậy, nhân dân tham gia vào các tổ chức xã hội và thông qua các hoạt động của các tổ chức xã hội để thực hiện gián tiếp việc quản lý nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước nói riêng.

2.3. Ba là, nhân dân lao động tham gia hoạt động tự quản ở cơ sở

Việc tham gia hoạt động tự quản ở cơ sở là hoạt động thường xuyên của nhân dân bởi vì hoạt động này rất gần gũi, gắn liền với đời sống của người dân, liên quan mật thiết đến sinh hoạt thường ngày của nhân dân. Hoạt động này được chính người dân thực hiện, thể hiện rõ trong các mối quan hệ cộng đồng làng xã hay khu phố, phường. Những hoạt động này cũng góp phần tích cực trong công tác quản lý hành chính nhà nước, giữ gìn an ninh trật tự của xã hội nói chung và của khu dân cư nói riêng. Những hoạt động này rất cụ thể và thiết thực như tham gia bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường sống, sinh hoạt văn hoá khu dân cư, tổ dân phố, tổ chức các hoạt động vì cộng đồng…Việc tham gia những hoạt động này sẽ là những hoạt động gián tiếp góp phần quản lý nhà nước. Những hoạt động này là những hoạt động gắn với cơ sở, thông qua cơ sở để kiến nghị hay tác động lên các hoạt động quản lý nhà nước. Ví dụ: nhiều tổ phụ nữ ở xã, phường khi tham gia hoạt động có quyền kiến nghị về việc xem xét hỗ trợ cho các hộ nghèo hay gia đình neo đơn, không nơi nương tựa nếu thấy những quyết định về việc hỗ trợ này chưa kịp thời hoặc chưa đúng đối tượng hoặc chưa tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật; Hoặc tổ dân cư thôn, xóm có thể góp ý kiến về việc giải quyết chính sách về thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng…Việc kiến nghị của các tổ phụ nữ xã, phường, tổ dân cư trong ví dụ trên đến chính quyền xã, phường cũng là một cách thức tham gia hoạt động quản lý hành chính nhà nước.

Nhà nước luôn tạo nhiều điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để phát huy vai trò chủ động, tích cực của nhân dân trong việc tham gia những hoạt động mang tính chất tự quản. Nhà nước tạo điều kiện thông qua chính quyền ở địa phương kết hợp với việc ban hành các quy định nhằm điều chỉnh, tạo điều kiện để các tổ chức tự quản ở cơ sở hoạt động được tốt hơn. Ví dụ như việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về Quy chế thực hiện Dân chủ cơ sở, trong đó quy định các việc chính quyền cơ sở phải công khai xin ý kiến của nhân dân và quy định cụ thể các công việc mà người dân có quyền quyết định tại địa phương.

2.4. Bốn là, nhân dân lao động trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước.

Theo quy định của Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011 thì "Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân”. Hiến pháp năm 2013 cũng tiếp tục khẳng định việc người dân, là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước.

Như vậy, người dân có quyền được tham gia quản lý Nhà nước dưới nhiều hình thức. Họ có thể tham gia gián tiếp quản lý Nhà nước và xã hội thông qua thực hiện các hoạt động của các cơ quan nhà nước hoặc có thể trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Theo Hiến pháp quy định, nhân dân có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng của đất nước thông qua trưng cầu dân ý và trực tiếp quyết định nhiều vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ sở. Tuy nhiên, đến nay vấn đề trưng cầu dân ý vẫn chưa được triển khai thực hiện[[5]]. Phát huy vai trò làm chủ của mình, công dân có quyền tham gia trực tiếp vào việc quản lý nhà nước và xã hội, thảo luận các vấn đề chung của nhà nước, kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ví dụ như trong thời gian qua khi nhà nước tổ chức việc sửa đổi Hiến pháp, sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, sửa đổi, bổ sung Bộ Luật tố tụng dân sự…đều nhận được sự đóng góp ý kiến từ phía nhân dân, từ phía các cơ quan hữu quan. Ngoài ra, nhân dân cũng có vai trò phản biện đối với các quy định được ban hành để những quy định này thể hiện được nguyện vọng chung của nhân dân, phù hợp với việc thực thi các quy định đó.

Nói tóm lại, nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà nước là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong quản lý hành chính nhà nước. Với bản chất dân chủ của Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì việc tham gia của quần chúng nhân dân trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là thật sự cần thiết và cần được chú trọng hơn nữa. Nhân dân có thể trực tiếp tham gia hoạt động quản lý hành chính nhà nước thông qua việc trực tiếp tham gia làm việc tại các cơ quan nhà nước hoặc thông qua việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình. Nhân dân cũng có thể gián tiếp thực hiện việc quản lý hành chính của mình thông qua việc tham gia vào hoạt động của các tổ chức xã hội, các hoạt động tự quản ở cơ sở. Với các cách thức tham gia quản lý hành chính như trên đã góp phần đảm bảo việc phát huy dân chủ của Nhà nước ta, đảm bảo quyền của nhân dân trong hoạt động quản lý hành chính, góp phần khẳng định bản chất của Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

 

Tài liệu tham khảo:

1.Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2012.

2.Hiến pháp 1946 được Quốc hội thông qua ngày 09 tháng 11 năm 1946.

3.Hiến pháp năm 1959 được thông qua ngày 31 tháng 12 năm 1959.

4.Hiến pháp năm 1980 được thông qua ngày 18 tháng 12 năm 1980.

5.Hiến pháp năm 1992 được thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1992.

6.Hiến pháp năm 2001 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992 được thông qua ngày 25 tháng 12 năm 2001.

7.Hiến pháp năm 2013 được thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013.

 

[1] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2012, trang 76.

[2] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2012, trang 85.

 

[3] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2012, trang 86.

[4] Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2012, trang 253.

[5] http://hongtquang.wordpress.com/2011/05/30/danh-gia-chung-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-nhan-dan-tham-gia-qu%E1%BA%A3n-ly-nha-n%C6%B0%E1%BB%9Bc/

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi