Đóng góp ý kiến về một số nội dung trong Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi)

So với Luật Phá sản năm 2004 có 95 Điều, Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi gồm 124 Điều trong đó chỉ giữ nguyên 7 Điều, sửa đổi 73 Điều và bổ sung mới 44 Điều. Với dự thảo Luật Phá sản sửa đổi lần này có nhiều quy định mang tính đổi mới thể hiện tính tích cực, cố gắng khắc phục những tồn tại, bất cập trong thực tiễn thi hành nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của Luật Phá sản để Luật này đi vào thực tế và có tính khả thi. Tuy nhiên, qua nghiên cứu tôi cho rằng vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục được sửa đổi, bổ sung để Luật Phá sản được hoàn thiện hơn.

Luật Phá sản năm 2004 được ban hành nhằm để xử lý tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã làm ăn thua lỗ trầm trọng, mất khả năng thanh toán, không còn khả năng hoạt động, được chấm dứt tồn tại về mặt pháp lý và xử lý hậu quả theo quy định pháp luật, tránh tình trạng tẩu tán tài sản hoặc xiết nợ, bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ, người lao động và những cá nhân, tổ chức có liên quan, quản lý việc phá sản diễn ra trong trật tự có sự kiểm soát của Nhà nước. Mặt khác, Luật Phá sản cũng nhằm giúp cho doanh nghiệp có phương án phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy Luật Phá sản năm 2004 chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao số 04/BC – TANDTC ngày 09 tháng 9 năm 2013 trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì sau 09 năm áp dụng Luật này đã bộc lộ một số hạn chế, tác động tiêu cực đến việc thúc đẩy sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; có những quy định còn mâu thuẫn, chưa tương thích với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp hoặc không còn phù hợp, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng và còn có những cách hiểu khác nhau nhưng chưa được hướng dẫn kịp thời; có những quy định chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu mở thủ tục phá sản, chưa tương thích với pháp luật quốc tế; chưa phù hợp với tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế gắn liền với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, hợp tác xã... dẫn đến hiệu quả áp dụng quy định Luật Phá sản vào thực tiễn không cao.

Trong Báo cáo tổng kết thi hành Luật Phá sản năm 2004 của Tòa án nhân dân tối cao số 04/BC – TANDTC ngày 09 tháng 9 năm 2013 trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Tòa án thụ lý tổng số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản, Tòa án đã ra quyết định mở thủ tục phá sản 236 trường hợp(trong đó Tòa án quyết định tuyên bố phá sản 83 trường hợp, còn 153 vụ việc chưa ra Quyết định tuyên bố phá sản). Con số trên cho thấy doanh nghiệp, hợp tác xã chấm dứt sự tồn tại bằng việc áp dụng Luật Phá sản để tuyên bố phá sản quá ít so với thực trạng hàng ngàn doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản, mất khả năng thanh toán, không thể tồn tại như hiện nay. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản lần này là rất cần thiết nhằm khắc phục tình trạng nêu trên và một số vấn đề có liên quan được nêu trong Dự thảo 3 Luật Phá sản sửa đổi. Trên cơ sở đó, chúng tôi xin đóng góp một số ý kiến vào Dự thảo như sau:

Một là, về đối tượng áp dụng của Luật Phá sản

Chúng tôi thống nhất với quan điểm của Dự thảo chỉ nên điều chỉnh 2 nhóm chủ thể là doanh nghiệp và hợp tác xã để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tình hình thực tế của nước ta. Đối với các xí nghiệp, mặc dù số lượng còn tồn tại không nhiều nhưng bắt buộc phải đăng ký loại hình doanh nghiệp cụ thể theo Luật Doanh nghiệp để thống nhất quản lý, không thể để cho các xí nghiệp tồn tại một cách chung chung mà không có quy định pháp luật nào điều chỉnh. Còn đối với các cơ sở đào tạo giáo dục thì cần có quy định riêng. Riêng đối với hộ gia đình chúng tôi cho rằng chưa đến mức phải điều chỉnh bằng Luật Phá sản. Hơn nữa số lượng Hộ gia đình rất lớn trong khi số lượng thẩm phán và các thiết chế hỗ trợ khác chưa chuyên nghiệp và chưa quy định rõ ràng.

Hai là, về vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản

+ Trong Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi đã có những quy định bổ sung sửa đổi về việc Viện Kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy Dự thảo lần này quy định vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản của viện kiểm sát nhân dân còn mờ nhạt, đặc biệt là chưa quy định về quyền kháng nghị của viện kiểm sát. Cụ thể là:

Điều 18 về Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản, tại Khoản 2 Điều này có quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp xem xét, giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của viện kiểm sát nhân dân; kiểm sát các quyết định giải quyết phá sản của tòa án". Quy định như vậy là chưa đầy đủ, thiếu trường hợp viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp xem xét, giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của đương sự. Vì vậy, chúng tôi đề nghị quy định như sau: "Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp xem xét, giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của viện kiểm sát và của đương sự; kiểm sát các quyết định giải quyết phá sản của tòa án". Như vậy, sẽ phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự và thống nhất với khoản 3 Điều 109 Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi (về Giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản) cũng như phù hợp với các quy định liên quan.

+ Về Thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định tại Khoản 1 Điều 37 Dự thảo, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm quy định về thủ tục gửi cho viện kiểm sát cùng cấp và gửi cho đương sự. Có như vậy mới phù hợp với quy định tại Điều 106 Dự thảo về Gửi và thông báo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

+ Về Quyết định tuyên bố phá sản, Khoản 6 Điều 105 Dự thảo Luật Phá sản sửa đổi có quy định: "Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định". Về vấn đề này, chúng tôi đề nghị vẫn giữ nguyên quy định của Điều 88 Luật Phá sản năm 2004 về Quyền khiếu nại, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kháng nghị. Như vậy, mới đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như đảm bảo thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát để cơ quan này làm tốt chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Theo đó, Điều 18 và Điều 108 của Dự thảo cũng phải được bổ sung quyền kháng nghị (chứ không phải chỉ có quyền kiến nghị) của Viện kiểm sát và một số quy định khác có liên quan.

Ba là, về quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Dự thảo có đưa ra hai phương án, chúng tôi cho rằng cả hai phương án đều không khả thi, vì theo Phương án 1 quy định quá chung chung, không có điều kiện cụ thể về giá trị khoản nợ bao nhiêu thì chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Còn theo Phương án 2 thì thực tế hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ bị chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bởi lẽ hiện nay đa số các doanh nghiệp đều vay vốn ngân hàng giá trị trên 200 triệu đồng. Do đó, chúng tôi cho rằng có thể căn cứ vào mức vốn điều lệ để quy định cụ thể từng mức đối với doanh nghiệp vừa, nhỏ và lớn hoặc có thể quy định tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu để quyết định tình trạng phá sản của doanh nghiệp và đặc biệt nên có văn bản dưới luật hướng dẫn riêng về vấn đề này.

Bốn là, đối với chế định Quản tài viên

Chúng tôi đồng tình với Dự thảo khi sử dụng chế định quản tài viên để quản lý tài sản phá sản vì như vậy sẽ khắc phục được hạn chế, bất cập của Luật Phá sản năm 2004 khi các thành viên tổ quản lý, thanh lý tài sản đều là những người thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm; những bất cập trong cơ chế phối hợp dẫn đến tình trạng lúng túng, không chủ động về thời gian, công việc. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chế định quản tài viên là chế định mới do vậy, cần có những cơ sở lý luận chuyên sâu hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể này và cơ quan quản lý. Mặt khác, về chủ thể được giao làm quản tài viên, quan điểm của chúng tôi cho rằng không nên giao cho Luật sư tiến hành hoạt động này mà nên giao cho Cơ quan thi hành án dân sự, Cơ quan thi hành án dân sự sẽ cử chấp hành viên thực hiện như vậy sẽ phù hợp hơn và thuận lợi trong công tác quản lý về mặt Nhà nước.

Ngoài ra, theo ý kiến của chúng tôi sử dụng tên gọi "Người quản lý tài sản” thuần Việt hơn thuật ngữ "Quản tài viên”.

Trên đây là một số ý kiến của tác giả đóng góp cho Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi).

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi