Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (sửa đổi) về công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện Kiểm sát nhân dân

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) được Quốc hội khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 11 ngày 02 tháng 4 năm 2002 đã cụ thể hóa các quy định về VKSND trong Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung 2001) gồm 11 chương với 50 điều. Trên cơ sở Luật tổ chức VKSND, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự ngày 4 tháng 11 năm 2002 và Pháp lệnh kiểm sát viên VKSND ngày 4 tháng 10 năm 2002. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng của VKSND trong việc tổ chức bộ máy và thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Qua hơn 10 năm thi hành, Luật tổ chức VKSND và các văn bản Pháp lệnh đã góp phần quan trọng trong việc khẳng định vị trí của VKSND trong hệ thống các cơ quan Nhà nước với hai chức năng cơ bản hiến định là thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, quá trình thi hành các văn bản pháp luật này cũng đã nổi lên một số vướng mắc, tồn tại như: Luật tổ chức VKSND và các Pháp lệnh chưa bao quát hết các vấn đề về tổ chức bộ máy và cán bộ của VKS; nhiều quy định đã không còn phù hợp, mâu thuẫn với các quy định của các luật, bộ luật liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của VKSND như Bộ Luật tố tụng hình sự (TTHS) 2003, Bộ Luật tố tụng dân sự 2004, Luật Tố tụng hành chính 2010, Luật Thi hành án hình sự 2010, Luật Thi hành án dân sự 2008… Bên cạnh đó là các chủ trương đổi mới của Đảng đã đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết một cách toàn diện về tổ chức và hoạt động, về chức năng, nhiệm vụ của VKSND cho phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp. Do vậy, việc sửa đổi Luật tổ chức VKSND năm 2002 là cần thiết.

Dự thảo Luật tổ chức VKSND (sửa đổi) được xây dựng có 07 chương, 13 mục, 110 điều. So với Luật tổ chức VKSND năm 2002, dự thảo giảm 04 chương, nhưng tăng thêm 60 điều luật (trong đó, sửa đổi 78 điều, bổ sung 32 điều mới, không có điều nào được giữ nguyên). Trong đó, Chương III của dự thảo về: Công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND có tổng cộng 30 điều (từ điều 21 đến điều 50), được chia thành 09 mục. Chương này được xây dựng trên cơ sở kế thừa các chương II, III, IV, V, VI Luật tổ chức VKSND năm 2002, quy định về: đối tượng, mục đích của từng công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm chính của VKSND; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong từng lĩnh vực công tác của VKSND.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu, đóng góp ý kiến xây dựng các quy định của chương III trong dự thảo tại các Mục 1. Tiếp nhận, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và Mục 2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự. Bởi đây là một trong những nội dung quan trọng góp phần đảm bảo thực hiện có hiệu quả hai chức năng cơ bản của ngành Kiểm sát nhân dân. Qua nghiên cứu dự thảo, chúng tôi đồng ý với hầu hết với các quy định đã được xây dựng. Tuy nhiên, cũng còn một số vấn đề chúng tôi cho rằng cần phải tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện để dự thảo đạt chất lượng cao hơn, thể hiện ở một số nội dung sau:

1) Về đối tượng của công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Việc xác định chính xác đối tượng của từng khâu công tác là cơ sở đầu tiên, quan trọng đảm bảo các hoạt động thực hiện chức năng có hiệu quả. Do vậy, đối tượng, mục đích của các hoạt động kiểm sát thực hiện chức năng đã được ban soạn thảo quy định trong dự thảo, chúng được xây dựng theo một kết cấu chung từ Mục 1. Tiếp nhận, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đến Mục 7. Kiểm sát thi hành án dân sự, thi hành án hành chính. Nếu như đối với các khâu công tác khác như THQCT và kiểm sát điều tra; THQCT và kiểm sát xét xử; kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự..., dự thảo đã quy định cụ thể đối tượng của hoạt động kiểm sát là: Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Tòa án; nhà tạm giữ, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự... thì tại Điều 23 của dự thảo lại chưa xác định rõ đối tượng của khâu công tác kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố khi chỉ quy định một cách chung chung là:

"1. Trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của các cơ quan có thẩm quyền;

2. Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;

3. .............;

4. Yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật;

5. Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khắc phục các vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”.

Việc quy định như vậy trước hết không thống nhất với các quy định đã nêu ở trên về đối tượng, mục đích của các khâu công tác kiểm sát, mà còn ảnh hưởng tới chính hiệu quả hoạt động của khâu công tác này. Chúng tôi cho rằng quy định này cần được chỉnh lý để tạo sự thống nhất về kỹ thuật lập pháp và phù hợp với quy định tại điều 103 BLTTHS 2003, Thông tư liên tịch 06/2013/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT ngày 2 tháng 8 năm 2013 Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định của BLTTHS về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, hơn nữa cũng để phù hợp với quy định tại Điều 21 dự thảo về trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố khi đã xác định rõ đối tượng của khâu công tác này là cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Vì vậy, nội dung này nên được xây dựng theo hướng:

"1. Trực tiếp kiểm sát việc tiếp nhận, xác minh, lập hồ sơ và kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

2. Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tự kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;

3……..;

4. Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật

5. Yêu cầu cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

2) Về trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát

Trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS được quy định tại khoản 2 Điều 22 dự thảo, theo đó Viện kiểm sát: "Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật”. Đây là nội dung mới được quy định trong dự thảo, tuy nhiên, theo chúng tôi quy định này là chưa hợp lý. Bởi lẽ, Thứ nhất, theo quy định tại điều 103 BLTTHS 2003, VKS có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra (CQĐT) đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, ngoài ra trong trường hợp khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền. Như vậy, theo quy định của BLTTHS 2003 VKS không có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Thứ hai, việc quy định VKS có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tất yếu dẫn dến việc VKS trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nhưng theo quy định tại điều 104 BLTTHS 2003, VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong hai trường hợp: khi VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và trường hợp VKS ra quyết định khởi tố vụ án theo yêu cầu của Hội đồng xét xử. Như vậy, việc quy định VKS có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng đã mâu thuẫn với các quy định của BLTTHS 2003 về khởi tố vụ án hình sự.

Có thể sắp tới BLTTHS 2003 được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định VKS có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cũng sẽ dẫn đến việc nảy sinh câu hỏi "Cơ quan nào có trách nhiệm kiểm tra, giám sát lại việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKS để đảm bảo cho hoạt động thật sự đúng đắn ?”

Với những lý do như trên, chúng tôi cho rằng không nên quy định việc VKS có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như trong dự thảo, mà chỉ nên quy định như tại khoản 4 Điều 23 dự thảo đó là VKS có quyền: "Yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo quy định của pháp luật”. Trong trường hợp Viện kiểm sát đã có yêu cầu nhưng các cơ quan này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì Viện kiểm sát mới trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

3) Về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của VKS

Khoản 3 Điều 25 dự thảo về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra Viện kiểm sát có quyền: "Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra, điều tra vụ án hình sự theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật”. Đây là quy định mới được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật tổ chức VKSND 2002. Theo quy định trong dự thảo ngoài thẩm quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như trước đây, thì khi THQCT trong giai đoạn điều tra VKS còn có quyền điều tra vụ án hình sự, cụ thể trong các trường hợp: Thứ nhất, Viện kiểm sát tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định pháp luật, khi xét thấy cần thiết; Thứ hai, VKS đã yêu cầu điều tra nhưng yêu cầu đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ; Thứ ba, vụ án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình điều tra; Thứ tư, vụ án mà Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng xét thấy không cần thiết phải chuyển cho CQĐT, cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Việc dự thảo quy định VKS có thẩm quyền điều tra vụ án hình sự như trên xuất phát từ thực tiễn khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, có những vụ án VKSND yêu cầu khởi tố, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, nhưng cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ yêu cầu của Viện kiểm sát thì pháp luật lại không có quy định để xử lý trách nhiệm cũng như các hoạt động tiếp theo đối với vụ án. Chính vì vậy, VKSND rất khó khăn trong việc bảo đảm thực hiện có hiệu quả trách nhiệm không để lọt tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, theo chúng tôi quy định như vậy cũng chưa thật sự phù hợp. Thể hiện ở chỗ, Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã chỉ rõ: "Ở ngành kiểm sát chỉ tổ chức cơ quan điều tra tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra một số loại tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp” và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng quy định: "Trước mắt, tiếp tục thực hiện mô hình tổ chức cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành; nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát và hoạt động điều tra tố tụng hình sự” và mới đây nhất là Kết luận số 92-KL/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 Kết luận của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: "Giữ nguyên hệ thống tổ chức các cơ quan điều tra chuyên trách trong Công an, Quân đội và ngành Kiểm sát như hiện nay và sắp xếp tinh gọn đầu mối trong từng cơ quan, bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm, không chồng chéo nhiệm vụ; xác định rõ mối quan hệ giữa hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự và hoạt động trinh sát. Xác định rõ cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan điều tra trong Viện kiểm sát quân sự Trung ương”. Như vậy, việc quy định cho VKS thẩm quyền điều tra vụ án hình sự sẽ không đảm bảo được việc thu gọn đầu mối các CQĐT đã nêu trong Nghị quyết của Đảng. Mặt khác, quy định mới này nếu được thực hiện sẽ mang nặng tính hình thức khó có thể áp dụng được trên thực tế, rất dễ dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm điều tra vụ án cho VKS, đồng thời quy định này sẽ làm hạn chế mối quan hệ "chế ước” giữa VKS với CQĐT. Chúng tôi cho rằng, quy định về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự của VKS cần được tiếp tục nghiên cứu xem xét đánh giá nhiều mặt, và nếu có chỉ nên quy định cho CQĐT của VKSND tối cao điều tra trong một số trường hợp nêu trên (ngoài những trường hợp mà pháp luật đã quy định), đồng thời có cơ chế để đảm bảo các yêu cầu của VKS trong giai đoạn điều tra đối với CQĐT được tuân thủ một cách nghiêm túc. Như vậy, vừa đảm bảo được tính hiệu quả trong hoạt động, vừa thực hiện đúng quan điểm "tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra” đã được nêu trong Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi