Một số ý kiến đề xuất sửa đổi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Trong hai ngày 06, 07/12/2012 tại Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức Hội nghị toàn quốc "Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003”. Tại hội nghị, có 80 ý kiến của các đại biểu góp ý tham gia xây dựng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)(1) . Đa số ý kiến đều đồng tình việc pháp điển hoá ba văn bản: Luật Tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND và Pháp lệnh Tổ chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 thành một văn bản luật để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng trên thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin góp ý kiến về một số nội dung Dự thảo Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi) như sau:

1.Về tên gọi của luật

Hiện nay có hai quan điểm khác nhau về tên gọi của luật. Ngoài quan điểm giữ nguyên tên gọi Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã xuất hiện quan điểm với tên gọi Luật về Viện kiểm sát nhân dân(2). Việc sử dụng tên gọi nào của Luật có liên quan đến sử dụng hai thuật ngữ là "tổ chức” hay "về”. Tổ chức có nghĩa là sắp xếp, bố trí cho thành một chỉnh thế, có một cấu tạo, một cấu trúc và có những chức năng chung nhất định (3). Theo đó "Luật To chức Viện kiểm sát nhân dârí’ là Luật quy định về việc sắp xếp, bố trí, các đơn vị của Viện kiểm sát thành một chỉnh thể để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành. Cách hiểu này chủ yếu nhấn mạnh đến khía cạnh kiện toàn sắp xếp, tổ chức các đơn vị. Còn về được hiểu là từ biểu thị điều sắp nêu ra là phạm vi, phương hướng hoạt động, hay phạm vi tính chất được nói đến . "Luật về Viện kiểm sát nhân dân” có nghĩa là luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, những công việc, phương hướng hoạt động cụ thể và các vấn đề khác có liên quan đến Viện kiểm sát. Do đó, dự thảo Luật sử dụng thuật ngữ "Luật về Viện kiểm sát nhân dân” sẽ bao trùm được toàn bộ các vấn đề liên quan đến VKSND mà thuật ngữ Luật Tổ chức VKSND không có được.

Mặt khác, quy định của một số nước cũng sử dụng thuật ngữ Luật về Viện kiểm sát (Viện công tố) như: Luật về Công tố viên Hoàng gia (Anh và xứ Wales); Luật về Viện công tố Hàn Quốc. Chính vì vậy, chúng tôi ủng hộ quan điểm sử dụng tên gọi của Luật là Luật về Viện kiểm sát nhân dân. Tuy nhiên, tên gọi này sẽ không đồng bộ với các tên gọi của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Toà án nhân

dân... Nhưng chúng tôi cho rằng việc quy định tên gọi của Luật là luật về Viện kiểm sát nhân dân sẽ phù hợp, gần gũi với người dân, dễ hiểu, dễ tiếp cận và bao quát được toàn bộ những nội dung của Luật thì ngành ta nên sừ dụng tên gọi này.

2.Các công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ ca Viện kiểm sát nhân dân.

Các công tác thực hiện chức năng, nhiệm vụ là những hoạt động cơ bản thể hiện quyền năng pháp lý của VKSND. Theo quy định tại các Điều 3, 4, 5, 10 Luật Tổ chức VKSND năm 2002, VKSND thực hiện chức năng, nhiệm vụ bằng 10 công tác cơ bản là:

1-Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

2-Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp;

3-Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự;

4-Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật;

5-Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân;

6-Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.

7-Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiếm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật.

8-Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và cá nhân chuyển đến.

9-Viện kiểm sát nhân dân chịu trách nhiệm thực hiện việc thống kê tội phạm. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng khác có trách nhiệm phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ này;

10-Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, quản lý đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên, Điều tra viên nhằm thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình, xây dựng ngành Kiểm sát trong sạch, vững mạnh.

Về cơ bản chúng tôi nhất trí với các công tác thực hiện chức năng này của VKSND, đồng tình quan điểm VKSND thực hiện một số công tác khác như: Nghiên cứu khoa học; Điều tra các vụ án hình sự khi xét thấy cần thiết (ngoài thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra VKSND tối cao); nghiên cứu tội phạm học; hoạt động báo chí, dẫn độ tội phạm, tương trợ tư pháp về hình sự.

3. Cần bổ sung quy định "Kiểm sát viên đọc lời tuyên thệ” khi được bổ nhiệm

"Lời tuyên thệ” của Kiểm sát viên là việc Kiểm sát viên trịnh trọng đọc lời thề tại lễ trao quyết định bổ nhiệm Kiểm sát viên; đó là lời thể hiện cho sự nỗ lực, quyết tâm của Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao; là phuơng hướng cho hoạt động nghề nghiệp của Kiểm sát viên. Hiện nay "lời tuyên thệ” của Kiểm sát viên không được quy định trong Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên VKSND năm 2002 (sửa đổi). Nghiên cứu lịch sử lập pháp nhà nước ta cho thấy: Tại Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định cách tổ chức các Toà án và các ngạch thẩm phán trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định bắt buộc: Thẩm phán xử án, Thẩm phán của Công tố viện phải đọc lời tuyên thệ khi nhậm chức(5). Như vậy, quy định Thẩm phán của Công tố viện (Kiểm sát viên ngày nay) phải đọc lời tuyên thệ khi nhậm chức đã có từ ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây là quy định rất tiến bộ, thể hiện tâm nhìn sâu sắc ý nghĩa chính trị. Tuy nhiên, đến Luật Tổ chức VKSND năm 1960 và các Luật Tổ chức VKSND năm 1981, 1992 và 2002 quy định này đối với Kiểm sát viên không còn nữa. Chúng tôi cho rằng, việc quy định Kiểm sát viên phải đọc lời tuyên thệ khi được bổ nhiệm sẽ đáp ứng được các ý nghĩa của lời thề nêu trên; góp phần xoá đi định kiến "Dường như đã từ lâu, cái tập quán tốt đẹp này bị mai một trong đời sống chính trị”(6).

Luật pháp một số nước trên thế giới đều quy định Kiểm sát viên/Công tố viên khi nhậm chức phải đọc lời tuyên thệ như: Điều 40 Luật liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga, Điều 6 Luật Tổ chức Toà án Pháp, Điều 10 Luật Tổ chức cơ quan công tố nước cộng hoà Indonesia... Do đó, tôi đề nghị bổ sung quy định "Kiểm sát viên đọc lời tuyên thệ khi được bổ nhiệm” trong Luật Tổ chức VKSND (sửa đổi).

Vấn đề đặt ra, lời tuyên thệ của Kiểm sát viên gồm những nội dung gì? Thành phần buổi lễ gồm những ai? và các vấn đề có liên quan khác. Vì mỗi nhà nước lại có cách thức tổ chức, hình thức lời tuyên thệ khác nhau. Có nước thì Công tố viên đặt tay lên bản Hiếp pháp, có nước thì Công tố viên đặt tay lên cuốn Kinh thánh... để tuyên thệ. Ở nước ta hiện nay, lời tuyên thệ chỉ còn được thể hiện tại Lễ kết nạp Đảng viên mới và Lời tuyên thệ của lực lượng vũ trang. Theo quan điểm của chúng tôi, những quy định về cách thức, hình thức thể hiện, nội dung Lời tuyên thệ cần được Viện trưởng VKSND tối cao quy định bằng một văn bản đế áp dụng trong nội bộ ngành.

4. Hoàn thiện các quy định về lương và phụ cấp

Thứ nhất, đối với tiền lương. Chúng tôi đồng ý với các ý kiến "cần có quy định riêng về thang, bảng lương của Kiểm sát viên ngành Kiểm sảt”(7);"chính sách, chế độ tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ, Kiểm sát viên còn chậm được điều chỉnh, bổ sung tương xứng với quyền hạn trách nhiệm được giao...(8). Đến nay, Kiểm sát viên vẫn chưa có thang, bậc lương riêng theo khoản 2 Điều 31 Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002. Theo chúng tôi, ngay từ bây giờ, VKSND tối cao cần làm việc với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ để thống nhất về việc xây dựng thang, bậc lượng cho Kiểm sát viên, để khi Luật có hiệu lực thì quy định này có hiệu lực thi hành ngay. Chúng tôi đồng tình với việc thu gọn số bậc lương của Kiểm sát viên sơ cấp, nâng mức khởi điểm của Kiểm sát viên sơ cấp bậc 1 ít nhất phải từ hệ số 4,00. Vì những lý do sau đây:

-Kiểm sát viên sơ cấp là lực lượng chủ yếu giải quyết các công việc của ngành Kiểm sát nhân dân.

-Bản thân những Kiểm sát viên này làm việc trực tiếp tại cơ sở; có nhiều địa bàn còn rất khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội.

-Để thu hút nhân lực có chất lượng vào công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân.

Thứ hai, đối với các khoản phụ cấp, hiện nay, Kiểm sát viên ngành Kiểm sát được hưởng các khoản phụ cấp: Phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ lãnh đạo; phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, theo chúng tôi, phụ cấp thâm niên nghề cần phải được sửa đổi, bổ sung.

Theo Nghị định số 76/2009/NĐ-CP; Thông tư số 04/2009/TTLT/BNV-BTC chỉ có " Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm sát viên Viện kiếm sát nhân dân các cấp, Điều tra viên các cấp và Kiểm tra viên ngành Kiểm sát (Kiểm tra viên cao cấp, Kiểm tra viên chính và Kiểm tra viên)” mới được hưởng phụ cấp thâm niên nghề. Tức là cán bộ mới được tuyển dụng vào ngành Kiểm sát, sau 03 năm nếu được bổ nhiệm vào ngạch Kiểm tra viên thì bắt đầu được tính để hưởng phụ cấp thâm niêm nghề. Theo đó, hết 08 năm, đến năm thứ 09 thì cán bộ đó (nếu còn thuộc đối tượng được hưởng phụ cấp thâm niên nghề) mới bắt đầu được hưởng thâm niên nghề là 5%. Trong khi đó, theo Nghị định số 54/2011/NĐ-CP, giáo viên ngoài thời gian tập sự (01 năm đối với đại học, cao đẳng, 06 tháng đối với trung cấp), có thời gian giảng dạy đủ 05 năm thì được hưởng phụ cấp thâm niên nghề. Có nghĩa là giáo viên đủ 6 năm, đến năm thứ 7 (đối với người có trình độ Đại học, Cao đẳng) hoặc đủ 5 năm 6 tháng và đến 5 năm 7 tháng đối với người có trình độ trung cấp) được hưởng phụ cấp thâm niên nghề là 5%. Như vậy, với mức khởi điểm được hưởng phụ cấp thâm niên nghề là 5% thì giáo viên được hưởng sớm hơn Kiểm sát viên. Quy định như vậy là rất thiệt thòi cho cán bộ, Kiểm sát viên. Chúng tôi cho rằng, trong thời gian tới, VKSND tối cao cần có biện pháp tháo gỡ để sửa đổi, bổ sung quy định về thâm niên nghề càng sớm càng tốt và phải được quy định trong Luật.

Thứ ba, ngoài các chế độ phụ cấp như hiện nay, chúng tôi đề nghị bổ sung phụ cấp đối với cán bộ Kiểm sát có học hàm, học vị đang làm việc trong ngành Kiểm sát nhân dân. Quy định này nhằm: (1) Để kêu gọi, động viên các nhà khoa học pháp lý đã, đang và sẽ đến công tác trong ngành Kiểm sát nhân dân; (2) Tạo nguồn nhân lực giảng dạy tại trường Đại học Kiểm sát sau này(9); (3) Động viên cán bộ, Kiểm sát viên tích cực nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ đáp ứng xu thế hội nhập hiện nay và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Đến năm 2012 ngành Kiểm sát mới có 25 tiến sĩ, 511 thạc sĩ (10), việc chi trả phụ cấp đối với số cán bộ này là không nhiều và có khả năng thực hiện được. Tham khảo quy định Luật về Viện công tố của các nước, chúng tôi thấy: Điều 44 Luật Tổ chức Viện kiểm sát Liên Bang nga đã quy định cán bộ, Kiểm sát viên Liên bang Nga được hưởng phụ cấp học hàm, học vị(ll).

5. Quy định tuổi nghỉ hưu của Kiểm sát viên

Hiện nay cán bộ ngành Kiểm sát đang thực hiện chế độ hưu trí theo Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội. Do đặc thù nghề nghiệp, Kiểm sát viên phải trải qua thời gian công tác, tích luỹ nhiều kinh nghiêm, nên theo chúng tôi cần phải quy định tăng tuổi nghỉ hưu của Kiểm sát viên là 65 tuôi đối với nam và 60 đối với nữ, không quy định theo cấp hiệu Kiểm sát viên.

-------------------------------------

(1) Tạp chí kiếm sát (2012), "Tường thuật trực tuyến Hội nghị toàn quốc ngành kiểm sát nhân dân (phn 4)”, http://tapchikiemsat.org.vn/?mod=viewtopic&parent_id=7l&id=2132(07/12/2012)

(2) (8) (10) Ban soạn thảo Luật Tổ chức VKSND sừa đổi - VKSND tối cao (2012), Báo cáo dự thảo tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Pháp lệnh Tố chức Viện kiểm sát quân sự năm 2002 và đề xuất sửa đổi, bổ sung, Hà Nội, tháng 12/2012, tr.25; tr. 22, tr.13.

(3) Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nằng, tr.1293.

(4) Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng việt, NXB Đà Nang, tr.1417.

(5) Xem Điều 90, 91 sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

(6) Báo Lao động (2012), "Lời tuyên thệ”, http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Loi-tuyen- the/93003.bld (25/11/2012)

(7) Th.s Phạm Hoàng Diệu Linh, sổ chuyên đề pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, Thông tin khoa học kiểm sát - VKSNDTC, số 1+2, năm 2012 tr.78.

(9) Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2013), Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghe báo cáo về dự thảo kế hoạch về thành lập Đại học Kiểm sát, http://www.vksndtc.gov.vn/tintuc/3043.aspx (06/01/2013)

(11) Xem Điều 44 Luật Tổ chức Viện kiểm sát Liên bang Nga, bản dịch Bùi Quang Thạch.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi