Về khái niệm hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế

Hiện nay, hiện tượng một số hành vi vi phạm nghĩa vụ xác lập từ các giao dịch dân sự, kinh tế không cấu thành tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự đang là vấn đề bức xúc được dư luận, giới nghiên cứu và các nhà hoạt động thực tiễn đặc biệt quan tâm. Tình trạng này không chỉ gây nhiều thiệt hại trực tiếp đối với không ít người dân, các nhà doanh nghiệp mà còn làm tổn hại môi trường đầu tư, kinh doanh, gây mất niềm tin vào nền công lí và nền tư pháp. Thực tiễn ấy đòi hỏi phải có sự quan tâm nghiên cứu, luận giải của các nhà khoa học pháp lí để sớm có giải pháp khắc phục.

Theo thống kê, trong năm 1998, chánh án, phó chánh án TANDTC, viện trưởng VKSNDTC đã kháng nghị tất cả 279 vụ án trong đó có 48 vụ án về các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng trái phép tài sản XHCN. UBTP TANDTC và Toà hình sự - TANDTC đã xét xử 33 vụ án, trong đó có 8 vụ toà án cấp giám đốc thẩm đã xác định các bị cáo không phạm tội hình sự, chuyển giải quyết lại theo thủ tục kinh tế hoặc dân sự; 19 vụ bị sửa đổi từng phần do có những hành vi đã bị hình sự hoá không đúng pháp luật. Cũng trong năm 1998, các toà án địa phương đã gửi hồ sơ vụ án về TANDTC để trao đổi với tổng số là 39 vụ án do VKSND truy tố các bị cáo về các hành vi lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng qua nghiên cứu chuẩn bị xét xử TAND cấp tỉnh thấy có vấn đề vướng mắc về tội danh và đường lối xử lí vụ án, cần trao đổi xin ý kiến TANDTC. Qua nghiên cứu các vụ án này TANDTC cũng đã phát hiện khoảng 1/3 số vụ án, trong đó các bị can bị truy tố không đúng tội hoặc oan và theo yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp tỉnh xem xét và giải quyết lại theo trình tự thủ tục các vụ án dân sự hoặc kinh tế.(1) Theo Báo cáo của VKSNDTC, trong năm 1999 và 6 tháng đầu năm 2000, đã có 76 vụ án và 349 bị can bị khởi tố, điều tra về các nhóm tội: Tội phạm kinh tế, xâm phạm sở hữu nhà nước, xâm phạm sở hữu công dân sau đó phải đình chỉ điều tra vì không có tội mà thực chất đây chỉ là vụ việc thuộc các quan hệ dân sự và kinh tế.(2) Cũng theo Báo cáo này, có 115 người bị khởi tố, điều tra, truy tố và đưa ra xét xử sau đó toà án đã tuyên bị cáo không phạm tội (trong đó có 59 người do toà án cấp sơ thẩm tuyên án và 56 người do toà án cấp phúc thẩm tuyên án không phạm tội).

Để đặt tên cho hiện tượng kể trên, trên báo chí, công luận và một số nhà nghiên cứu đã xuất hiện một số cách gọi tương đối phổ biến như "hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế", "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế", "hình sự hoá các tranh chấp dân sự, kinh tế"(3) (xin gọi chung là "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế")...

Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc có nên hay không nên sử dụng cụm từ này đồng thời cũng có nhiều ý kiến khác nhau về cách hiểu của cụm từ này. Đáng lưu ý có quan điểm cho rằng cách dùng cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" là hoàn toàn không chính xác về mặt khoa học và vì vậy không nên sử dụng cụm từ này. Vấn đề mấu chốt của sự phản đối này chính là sự bất đồng trong việc sử dụng cụm từ "hình sự hoá". Thực ra, cụm từ "hình sự hoá" đã trở thành một trong những khái niệm cơ bản của khoa học luật hình sự truyền thống. Trong lí luận luật hình sự truyền thống, "hình sự hoá" (penalisation) cùng với khái niệm "tội phạm hoá" (criminalisation), "phi tội phạm hoá" (decriminalisation), "phi hình sự hoá" (depenalisation) trở thành những khái niệm chủ chốt để mô tả quá trình phát triển, vận động của luật hình sự. Theo lí luận luật hình sự truyền thống thì "tội phạm hoá" là việc thông qua hình thức văn bản nhất định, nhà làm luật quy định những hành vi nào đó là tội phạm. Còn việc quy định hình phạt hay xác định loại hình phạt, khung hình phạt, điều kiện quyết định hình phạt đối với loại tội phạm này hay tội phạm kia được khoa học pháp lí hình sự gọi là hình sự hoá. Như vậy, "hình sự hoá" chỉ diễn ra ở giai đoạn xây dựng pháp luật chứ không thể có ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Thêm vào đó chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền tiến hành việc hình sự hoá. Quan điểm này đã được trình bày khá nhất quán trong các tác phẩm về lí luận luật hình sự ở Việt Nam.(4)

Xuất phát từ cơ sở đó thì rõ ràng việc giải thích cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" hoặc "hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế" bằng cách tổng hợp nghĩa của các cụm từ thành phần sẽ trở nên có vấn đề. Khi đó cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" sẽ không thể có nội hàm phản ánh hiện tượng áp dụng pháp luật oan sai trong việc xử lí các vi phạm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự, kinh tế. Đây cũng chính là lí do cơ bản để không ít nhà nghiên cứu phản đối việc sử dụng cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" để phản ánh hiện tượng xử lí oan sai các vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế bằng pháp luật hình sự.

Tuy nhiên, phải khẳng định rằng, cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" hoặc "hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế" xuất hiện khá độc lập với bản thân cụm từ "hình sự hoá" của khoa học luật hình sự truyền thống. Cách hiểu về "hình sự hoá" trong cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự - kinh tế" được sử dụng nhiều trên báo chí và trong nhiều bài viết của một số nhà nghiên cứu trong một vài năm gần đây không có nội hàm như khái niệm "hình sự hoá" vừa phân tích ở trên. Thay vào đó khi được sử dụng để mô tả hiện tượng oan sai trong tố tụng, mô tả hành vi trái pháp luật của cơ quan tố tụng trong việc làm oan sai người vô tội thì cụm từ này đã mang trong mình nội hàm mới. Với việc xuất hiện trên hàng chục báo chí, nhiều diễn đàn quan trọng được thông tin trong toàn quốc trong thời gian qua cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" đã trở thành cách sử dụng khá phổ biến và chứng tỏ sức sống độc lập của nó. Như vậy, việc xuất hiện và sử dụng cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" là hiện tượng ngôn ngữ, có thể coi như kiểu "dùng mãi thành quen" và nhờ đó trở thành cụm từ có sức sống độc lập với các cụm từ thành phần. Nếu thừa nhận lập luận này, việc sử dụng cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" sẽ không thể bị coi là thiếu khoa học mà ngược lại do được sử dụng rộng rãi trên diễn đàn, trên báo chí, trong công luận việc sử dụng cụm từ kể trên có giá trị thực tiễn to lớn.

Tuy vậy, vấn đề hiện nay phải đặt ra chính là làm sao thống nhất được những nội dung cơ bản trong nội hàm của cụm từ này bởi lẽ, hiện tại tuy việc sử dụng cụm từ kể trên khá phổ biến song không phải những người sử dụng đều đã thống nhất về cách hiểu cụm từ này. Trong thực tế, có ý kiến cho rằng "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" là việc xử lí các hành vi vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế chưa cấu thành tội phạm bằng biện pháp hình sự. Có ý kiến chỉ bó hẹp việc xử lí các hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán, trả tài sản trong các hợp đồng kinh tế dân sự bằng con đường hình sự mới là hình sự hoá. Có quan điểm cho rằng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế xảy ra không chỉ trong quá trình áp dụng pháp luật mà cả trong quá trình xây dựng pháp luật. Qua các diễn đàn, hội thảo về chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế vừa qua, chúng tôi thấy hầu hết các nhà nghiên cứu đều tán đồng một số điểm sau đây trong nội hàm của cụm từ (khái niệm) "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế":

- Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là hiện tượng được đặc biệt lưu ý trong một vài năm gần đây khi mà quá trình chuyển đổi kinh tế diễn ra ngày một mạnh mẽ.

- Hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là sự sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự.

- Sự sai lầm kể trên có thể là do cơ quan tố tụng chưa điều tra đầy đủ, khách quan, nôn nóng trong khi giải quyết hoặc cũng có thể do một số cán bộ biến chất trong các cơ quan tố tụng cố ý hình sự hoá để trục lợi.

- Nội dung của sự sai lầm này là một hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng kinh tế (chủ yếu là nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản) không cấu thành tội phạm nhưng đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Dựa trên những điểm thống nhất đó, có thể hiểu khái niệm "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" như sau: "Hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế là sự sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự theo đó người có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán, hoàn trả tài sản xác lập từ giao dịch dân sự, kinh tế (chủ yếu từ hợp đồng dân sự, kinh tế) tuy không cấu thành tội phạm nhưng đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật hình sự và tố tụng hình sự bởi các cơ quan tiến hành tố tụng".

Theo cách hiểu này, hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế trước hết là sự sai lầm trong việc áp dụng pháp luật hình sự, là dạng làm oan sai người vô tội. Sự sai lầm này có thể là do cố ý hoặc vô ý. Trong thực tiễn, tuy không loại trừ hiện tượng cơ quan tố tụng (thông qua người tiến hành tố tụng) cố ý "hình sự hoá" nhưng sự sai lầm này chủ yếu được thực hiện một cách vô ý. Sự sai lầm ấy thể hiện ở việc cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố (tức là áp dụng pháp luật hình sự, áp dụng pháp luật tố tụng hình sự) ngay cả đối với hành vi chưa phạm tội (chưa đủ cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự). Cách hiểu về hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế kể trên cũng ám chỉ rằng hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế là sự can thiệp trái pháp luật của các cơ quan tố tụng vào sự vận động bình thường của các giao dịch dân sự, kinh tế, do đó xâm hại tới các quan hệ dân sự, kinh tế. Vì thế, chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế cũng là một trong những biện pháp bảo vệ các giao dịch dân sự, kinh tế, làm lành mạnh môi trường kinh doanh, góp phần làm giảm rủi ro trong môi trường kinh doanh vốn đầy thách thức của các nhà doanh nghiệp.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, không nên coi việc sử dụng cụm từ "hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế" là không có tính khoa học, không có giá trị thực tiễn mà thay vào đó, chúng ta cần thống nhất về cơ bản cách hiểu về cụm từ này, nhận diện thực trạng của hiện tượng, phân tích nguyên nhân và đề ra hệ thống giải pháp hợp lí để sớm khắc phục hiện tượng kể trên./.

(1).TS. Nguyễn Văn Hiện - Tạp chí kiểm sát số 6/1999.

(2).Xem: Báo Kinh doanh và Pháp luật số 44 ra ngày 2/11/2000. tr.15, Báo pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 28/11/2000. tr. 3.

(3). Lời của ông Phạm Quốc Anh - quyền trưởng Ban nội chính trung ương trả lời Báo lao động số ra ngày 29/5/2000.

(4). Xem: Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật, Nxb. Chính trị quốc gia 1994, tr.124; TSKH Đào Trí úc: Luật hình sự Việt Nam, quyển 1 - Những vấn đề chung, Nxb. Khoa học xã hội - 2000, tr. 85.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi