Tiếp nhận những giá trị chung của luật pháp quốc tế

Luật Trọng tài thương mại VN đã tạo cơ sở pháp lý giải quyết những bất đồng, tranh chấp trong kinh doanh một cách giản tiện, nhanh chóng.

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay, tự do thương mại gắn liền mật thiết với tự do lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp xảy ra giữa các bên. Quan hệ thương mại ngày càng đa dạng và các tranh chấp thương mại vì thế cũng ngày càng trở nên phức tạp.

Các tranh chấp trong thương mại có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, các bên luôn quan tâm lựa chọn phương thức giải quyết nào có thể đem lại hiệu quả nhanh chóng, giản tiện và ít tốn kém nhất.

Trọng tài là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến và có hiệu quả trong điều kiện tự do hóa thương mại hiện nay.

Nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đầy đủ và thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp, Luật Trọng tài thương mại đã được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

Luật Trọng tài thương mại có 13 chương gồm 82 điều với những nội dung cơ bản sau đây:

Chương I: Những quy định chung:  (Điều 1- Điều 15)

Xác định phạm vi điều chỉnh, xác định giải thích một số khái niệm; thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài; Các nguyên tắc, điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài;  xác định Tòa án có thẩm quyền đối với hoạt động trọng tài; Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng trọng tài; thương lượng, hòa giải trong tố tụng trọng tài; ngôn ngữ và luật áp dụng giải quyết tranh chấp.

Điểm quan trọng nhất so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại trước đây là Luật Trọng tài thương mại mở rộng hơn phạm vi thẩm quyền của Trụng tài tới nhiều loại tranh chấp (Điều 2 LTTTTM).

Chương II: Thỏa thuận trọng tài: (Điều 16-Điều 19)

Xác định các hình thức thỏa thuận trọng tài, tính độc lập của thỏa thuận trọng tài. Đặc biệt, Luật Trọng tài xác định các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu và quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng không phụ thuộc vào điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Chương III: Trọng tài viên:


Xác định tiêu chuẩn Trọng tài viên - quyền, nghĩa vụ của Trọng tài viên; về Hiệp hội trọng tài (từ Điều 20-Điều 22). Theo Điều 20 Luật TTTM, tiêu chuẩn tối thiểu của Trọng tài viên là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có trình độ đại học và đã qua thực tế công tác từ năm năm trở lên. Trung tâm trọng tài có thể quy định các tiêu chuẩn cao hơn các tiêu chuẩn luật định đối với các trọng tài viên của tổ chức mình. Đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế, Luật TTTM không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt nam như Pháp lệnh Trọng tài TM năm 2003.

Chương IV: Trung tâm trọng tài: (Điều 23 - Điều 29)

Xác định các điều kiện và thủ tục thành lập Trung tâm trọng tài, chức năng của Trung tâm trọng tài, đăng ký hoạt động, công bố thành lập Trung tâm trọng tài, tư cách pháp nhân và cơ cấu, quyền và nghĩa vụ, chấm dứt hoạt động của Trung tâm trọng tài.

Chương V: Quy định việc khởi kiện

Thời điểm bắt đầu tố tụng trọng tài, thời hiệu khởi kiện, phí trọng tài, vấn đề sửa đổi, bổ sung, rút đơn khởi kiện và thương lượng trong tố tụng trọng tài. (Điều 30-Điều 38).

Chương VI: Về Hội đồng Trọng tài:
(Điều 39 – Điều 47)

Vấn đề thành lập Hội đồng Trọng tài tại Trung tâm Trọng tài, thành lập Hội đồng Trọng tài vụ viêc, thay đổi trọng tài viên và thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài. Tiếp thu quy định của Luật mẫu UNCITRAL, nhằm giúp cho tố tụng trọng tài có hiệu quả, Luật TTTM quy định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ, triệu tập người làm chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (ĐIều 46,47,48,49,50)

Chương VII:  Biện pháp khẩn cấp tạm thời:
(Điều 48 - Điều 53)

Chương này quy định quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,trách nhiệm của bên yêu cầu; Thẩm quyền và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng Trọng tài; thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo Điều 48, các bên tranh chấp có quyền yêu cầu trọng tài, tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Việc yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không bị coi là sự bác bỏ thỏa thuận trọng tài hoặc khước từ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.

Chương VIII: Quy định về phiên họp giải quyết tranh chấp (Điều 54 - Điều 59)

Chuẩn bị phiên họp, thành phần thủ tục phiên họp giải quyết tranh chấp của Hội đồng Trọng tài, vấn đề hoãn phiên họp hoặc đình chỉ giải quyết tranh chấp.

Chương IX: Về phán quyết Trọng tài (Điều 60 - Điều 64)

Nguyên tắc ra phán quyết của Hội đồng Trọng tài là biểu quyết và quyết định theo đa số. Nếu không đạt đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.

Chương X: Thi hành phán quyết trọng tài (Điều 65 - Điều 67).

Phán quyết trọng tài được thi hành tự nguyện hoặc thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Chương XI: Hủy phán quyết trọng tài
(Điều 68 - Điều 72)

Các bên có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết trọng tài và có đủ căn cứ để yêu cầu theo quy định tại khoản 2 Điều 68.

Điều 71 quy định việc Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết Trọng tài. Hội đồng xét đơn yêu cầu gồn 03 thẩm phán. Quyết định của Tòa án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành.

Chương XII: Tổ chức và hoạt động của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam (Điều 73 - Điều 79)

Tổ chức trọng tài nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức là chi nhánh và văn phòng đại diện. Luật quy định điều kiện hoạt động, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể là chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức trọng tài nước ngoài.

Chương XIII: Điều khoản thi hành (Điều 80 - Điều 82)

Vấn đề áp dụng luật đối với các Trung tâm trọng tài được thành lập trước ngày Luật Trọng tài thương mại có hiệu lực, xác định ngày có hiệu lực và phạm vi áp dụng; vấn đề quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Các Trung tâm trọng tài được thành lập trước ngày 1/1/2011 không phải làm thủ tục thành lập lại. Tuy nhiên, các trung tâm trọng tài phải sửa đổi, bổ sung điều lệ, quy tắc tố tụng trọng tài cho phù hợp với quy định của Luật trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày 01/01/2011.

Như vậy, với ý nghĩa là một bộ phận của thể chế thị trường, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam ra đời với những nội dung cơ bản nêu trên đã khắc phục được những bất cập của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, đồng thời đã tiếp nhận những giá trị chung của luật pháp và thông lệ quốc tế về cơ chế giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài, tạo cơ sở pháp lý cho các thương gia, các chủ thể kinh doanh chủ động giải quyết những bất đồng, tranh chấp trong kinh doanh.


Tải luật Trọng tài Thương mại Việt Nam: Tại đây

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi