Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển khởi sắc và mạnh mẽ. Tuy nhiên, để có được sự phát triển như ngày nay thì đã có sự cạnh tranh rất khốc liệt trên thị trường, đặc biệt là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tính đến năm 2012, cả nước ta có hàng trăm nghìn doanh nghiệp hoạt động trên khắp các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Bên cạnh sự cạnh tranh mang tính tích cực, thì còn tồn tại một dạng cạnh tranh khác đã được pháp luật điều chỉnh, đó chính là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật cạnh tranh có quy định cụ thể về những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các doanh nghiệp. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu trao đổi, tác giả chú trọng đi sâu vào việc xem xét các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại.
Theo từ điển Cornu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là: "Chạy đua kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau, cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để mất đi một lượng khách hàng thường xuyên” ([1]). Như vậy, chúng ta thấy được cạnh tranh bao gồm các yếu tố như khách hàng, các bên tham gia cạnh tranh, thị trường liên quan, môi trường kinh doanh.

Trong Luật cạnh tranh 2004 của Việt Nam cũng không quy định về thế nào là cạnh tranh không lành mạnh mà chỉ quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại khoản 3 Điều 4 như sau:"Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”.

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được biểu hiện trong nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp trong quá trình tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định rõ tại Điều 39 Luật cạnh tranh năm 2004, bao gồm : "Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Xâm phạm bí mật kinh doanh; Ép buộc trong kinh doanh; Gièm pha doanh nghiệp khác; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Phân biệt đối xử của hiệp hội; Bán hành đa cấp bất chính; Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định”. Như vậy, theo quy định trên thì có quy định rõ về việc khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

Khuyến mại, dưới góc độ pháp lý được hiểu là hành vi thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến bán hang, cung ứng dịch vụ trong phạm vi kinh doanh của thương nhân bằng cách dành những lợi ích nhất định cho khách hàng. Luật Thương mại năm 2005 quy định tại khoản 1 Điều 88: "Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định”.

Từ những nhận thức chung về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động khuyến mại, ta thấy rõ được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại là những hành vi thông qua hoạt động khuyến mại của thương nhân nhưng nhằm gây ra những bất lợi cho đối thủ cạnh tranh của mình nhằm thu về cho mình những lợi ích nhất định.

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại bị ngăn cấm bởi Luật Cạnh tranh năm 2004, bao gồm:

Thứ nhất, tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng.

Các doanh nghiệp tổ chức hoạt động khuyến mại nhằm thu hút khách hàng, thông qua việc giành cho khách hàng những giải thưởng, từ đó nhằm thu hút khách hàng chú ý đến sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Cách thức khuyến mại thông qua việc dành cho khách hàng những giải thưởng được đưa ra dựa trên việc khách hàng có trên tâm lý mong muốn có được giải thưởng. Doanh nghiệp dựa trên tâm lý ham muốn giải thưởng của khách hàng khi tham gia mua hàng hay sử dụng dịch vụ mà đưa ra những chương trình khuyến mại với giải thưởng rất lớn, rất hấp dẫn. Tuy nhiên, thực tế khách hàng không có cơ hội nhận được những phần thưởng dùng để khuyến mại hoặc những phần thưởng đó không đúng như chương trình khuyến mại đã đề ra. Như vậy, trong các chương trình khuyến mại này đã có sự gian dối về giải thưởng.

Có nhiều hành vi gian dối khác nhau về phần thưởng đã được các doanh nghiệp thực hiện trong hoạt động khuyến mại. Trong vụ gian dối về giải thưởng của công ty điện tử LG Việt Nam diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2006 thì việc gian dối về giải thưởng thực hiện kín đáo, rất khó phát hiện. Giải thưởng được đưa ra bao gồm chiếc xe Toyota trị giá gần 30.000 đô la (giải nhất), xe tải Huyndai 1,5 tấn (giải nhì), xe máy Honda Dylan (giải ba). Chương trình bốc thăm giải thưởng đang được diễn ra thì có một khách hàng tuyên bố lá phiếu 233 mà anh ta đang giữ cuống vé không có trong thùng phiếu. Ban tổ chức để khách hàng đó kiểm tra thùng. Quả nhiên trong thùng không có lá phiếu số 233. Và tất cả các tờ phiếu từ số 200 trở lên do một số người khác nắm giữ đều không có trong thùng ([2]).

Khuyến mại gian dối về giải thưởng còn thể hiện thông qua trường hợp đưa ra giá trị giải thưởng khuyến mại rất lớn nhưng thực hiện việc trao giải thưởng thì rất nhỏ. Điển hình như chương trình khuyến mại của một công ty bia "bật nắp chai trúng thưởng” diễn ra cách đây không lâu. Trong chương trình này, cơ cấu giải thưởng gồm 200.000 giải thưởng, trong đó có 6 xe ôtô BMW, không ai có thể chắc chắn rằng có đủ 200.000 giải thưởng với 6 nắp chai in hình xe BMW trong số sản phẩm được bán trong đợt khuyến mại. Theo ông Đỗ Thắng Hải, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Thương mại), trong tổng số 215 tỉ đồng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại mà các thương nhân đăng ký thì tổng số giá trị giải thưởng đã trao rất thấp, chỉ đạt 6 tỷ đồng, tương đương 3% tổng số tiền đã đăng ký cho chương trình khuyến mại ([3]). Như vậy, giá trị thật mà các doanh nghiệp trao cho khách hàng nhỏ hơn rất nhiều những con số được nêu ra trong chương trình khuyến mại. Khách hàng cũng không nhận được nhiều những phần thưởng có giá trị từ các chương trình khuyến mại gian dối trên.

Khuyến mại gian dối về phần thưởng còn thể hiện thông qua việc cho khách hàng được nhận phần thưởng nhưng phải kèm điều kiện mua kèm theo các hàng hóa khác của doanh nghiệp. Trong bài báo "Đánh lừa người tiêu dùng bằng các chiêu khuyến mại” đăng trên trang web báo Lao động ngày 23/12/2010 đã đưa ra một trường hợp khuyến mại gian dối của siêu thị Vinaconex (Quang Trung – Hà Đông – Hà Nội). Một khách hàng mua sản phẩm tại siêu thị Vinaconex thì nhận được phiếu cào trong chương trình khuyến mại "Mừng giáng sinh – Chào năm mới”. Sau khi cào, khách hàng này trúng giải nhất với trị giá 500.000 đồng. Tuy nhiên, khi đến lĩnh thưởng thì điều kiện lĩnh thưởng là: "Phiếu chỉ có giá trị lĩnh thưởng khi khách hàng mang theo phiếu này và mua 01 chiếc áo Complet hoặc 01 bộ quần áo Complet tại cửa hàng”. Khách hàng này vui mừng đi xem quần áo Comple để mua thì thất vọng khi nhận ra rằng các sản phẩm này có giá từ 880.000 đồng đến 3.200.000 đồng/bộ nhưng chất lượng tồi đến mức "có cho không cũng không nhận” ([4]).

Như vậy, trong thực tiễn hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường xuyên tổ chức hoạt động khuyến mại. Hình thức khuyến mại thông qua việc trao tặng các giải thưởng cho khách hàng là hình thức thu hút được nhiều khách hàng đến với doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra là, các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chương trình khuyến mại, có thể gian dối trong việc trao giải thưởng cho khách hàng. Một trong các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng khuyến mại gian dối xuất phát từ sự quản lý chưa chặt chẽ của các cơ quan chức năng, hoặc do các doanh nghiệp thiếu đạo đức trong kinh doanh, vì hám lợi trước mắt mà quên nguồn lợi lâu dài từ khách hàng.

Thứ hai, khuyến mại không trung thực gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng

Khuyến mại không trung thực là việc đưa thông tin khuyến mại không đúng về hàng hóa, dịch vụ khiến khách hàng nhầm lẫn, tin theo thông tin khuyến mại sai lệch mà mua hàng hóa hay sử dụng dịch vụ đó. Việc khuyến mại không trung thực này tác động đến tâm lý "hám lợi” của người tiêu dùng, hay khách hàng mà khiến họ tiêu thụ nhiều hơn hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Đồng thời, việc khuyến mại sai lệch này cũng làm tác động xấu đến đối thủ cạnh tranh, làm giảm mức tiêu thụ hàng hóa của đối thủ cạnh tranh. Điều này là do việc xuất hiện tâm lý so sánh các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mại với sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Bên cạnh đó, thông tin khuyến mại sai lệch còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của khách hàng nếu như họ không nắm bắt được thực chất của thông tin đưa ra khuyến mại.

Với phương thức khuyến mại không trung thực về giá của hàng hóa sản phẩm, dịch vụ còn có một dạng hành vi phổ biến khác nữa là nâng giá hàng hóa, dịch vụ lên thật cao rồi đưa ra chiêu thức khuyến mại giảm giá với các biển hiệu quảng cáo rất ăn khách như "giảm giá 50 – 70%” hay "Đại hạ giá”… Khách hàng những tưởng mua được hàng hóa với giá rẻ, nhưng thực tế lại bị "móc túi” một cách trắng trợn mà không hề hay biết. Với chiêu thức rất đơn giản và phổ biến, các doanh nghiệp tham gia chương trình khuyến mãi tự động tăng giá bán lên 10 – 15% trước thời điểm diễn ra tháng khuyến mại, để đến khi vào chương trình khuyến mại thì lại "giảm giá”. Như vậy, doanh nghiệp vẫn đảm bảo được giá bán sản phẩm của mình, người tiêu dùng thì lầm tưởng nhận được khuyến mại từ người bán. Một điểm đáng lưu ý, các doanh nghiệp sử dụng thủ đoạn gian dối này vừa "hợp pháp”, tức là không vi phạm các quy định về tổ chức khuyến mại, lại vừa "qua mặt” được khách hàng. Vậy nên, cần có những biện pháp quản lý giá hàng hóa một cách hữu hiệu để đảm bảo quyền lợi của khách hàng và vạch trần được thủ đoạn gian dối của các doanh nghiệp trong các chương trình khuyến mại.

Một thủ đoạn gian dối khác trong hoạt động khuyến mại cũng thường xuyên được sử dụng là các doanh nghiệp liên tục đưa ra những chương trình "siêu khuyến mại”, "giảm giá từ 50 – 70%” nhưng đi kèm với việc giảm giá này là chất lượng hàng hóa, dịch vụ rất thấp. Ngoài ra, khuyến mại không trung thực còn thể hiện thông qua việc gian dối trong việc thực thi cam kết khuyến mại từ phía doanh nghiệp đối với khách hàng.

Tình trạng khuyến mại không trung thực, gây nhầm lẫn đối với khách hàng về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng đang xảy ra rất đa dạng và rất khó phát hiện. Các doanh nghiệp luôn nghĩ ra nhiều cách thức khác nhau để khách hàng "mắc bẫy”, và đạt được mục đích bán hàng, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp. Trong quy định của Luật Vạnh tranh thì cấm những hành vi này, vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Trên thực tế, những hành vi khuyến mại gian dối gây ảnh hưởng đến lợi ích của cả người tiêu dùng và các doanh nghiệp kinh doanh cùng mặt hàng vẫn diễn ra phổ biến. Hành vi này đã thể hiện rõ bản chất lừa dối khách hàng thông qua hoạt động khuyến mại và cũng tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp thông qua con đường "không lành mạnh”.

Thứ ba, phân biệt đối xử với khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại.

Nhà làm luật đã quy định hành vi này thuộc hành vi cấm trong Luật Cạnh tranh. Hành vi này được hiểu là trong một chương trình khuyến mại chung, các thương nhân đưa ra chương trình khuyến mại nhưng lại không khách quan, công bằng, phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau trong các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau. Luật quy định rất chung chung như trên gây ra cách hiểu không chính xác về điều luật. Ở đây, cần phải làm rõ khái niệm "phân biệt đối xử”, "các khách hàng như nhau”. Hành vi phân biệt đối xử tức là hành vi của thương nhân ưu ái khách hàng này hơn khách hàng kia, dành cho họ lợi ích nhiều hơn khách hàng kia mà thực tế thì phải dành cho họ những lợi ích như nhau. Các khách hàng như nhau thì cần được hiểu tiêu chí nào là như nhau. Cần một cách hiểu rõ ràng hơn đối với quy định này của Luật Cạnh tranh. Trên thực tế đã xảy ra nhiều trường hợp, các doanh nghiệp đã cố tình "phân loại khách hàng” để cho hưởng khuyến mại. Điển hình như: Chương trình khuyến mại của mạng di động Vinaphone thực hiện từ ngày 15/5 đến 17/5/ 2010, khuyến mại nhân 100% số tiền nạp thẻ cho các thuê bao của mạng. Tuy chương trình khuyến mại thực hiện trong 03 ngày như trên nhưng không phải khách hàng nào cũng nhận được tiền khuyến mại. Chỉ những khách hàng nhận được tin nhắn thông báo về việc khuyến mại thì mới được hưởng khuyến mại. Tuy nhiên, một điều băn khoăn được đưa ra đó là Vinaphone dựa vào tiêu chí nào để phân loại cho các thuê bao mạng di động được hưởng khuyến mại và tổng số thuê bao được hưởng khuyến mại là bao nhiêu. Câu trả lời không rõ ràng từ phía lãnh đạo của Vinaphone, đó là tiêu chí phân loại có thể thay đổi, có khi là ưu đãi cho khách hàng trung thành, các thuê bao trả trước đã sử dụng nhiều năm, có khi là những người vừa hòa mạng, cước phí phát sinh chưa nhiều ([5]). Rõ ràng là đã có sự phân biệt đối xử đối với khách hàng trong chương trình khuyến mại của Vinaphone.

Tuy đây là một hình thức được quy định trong Luật Cạnh tranh, nhưng trên thực tiễn thì trường hợp phân biệt đối xử này thường ít diễn ra bởi điều kiện khách quan của nền kinh tế đất nước và mong muốn chủ quan của các doanh nghiệp là cần có thêm nhiều khách hàng và mở rộng thị trường của mình. Những trường hợp phân biệt đối xử trong khuyến mại chủ yếu là hành vi xuất phát từ phía chủ quan của thương nhân muốn dành những ưu đãi của mình cho những khách hàng lâu dài và tin cậy của họ.

Thứ tư, tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình

Một trong những phương pháp để khách hàng nhanh chóng biết đến hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp là việc cho khách hàng dùng thử hàng hóa, dịch vụ. Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử sẽ tạo cơ hội cho khách hàng biết về sản phẩm, cảm nhận được giá trị của sản phẩm, từ đó có thể sẽ tích cực tham gia sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng hàng hóa của mình là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Hành vi này của doanh nghiệp xét ở góc độ sâu xa, đó là hành vi nhằm làm thay đổi thói quen tiêu dùng của khách hàng, từ đó để khách hàng sử dụng sản phẩm của mình nhiều hơn. Kết quả là làm giảm thị phần của đối thủ cạnh tranh, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp thực hiện chương trình khuyến mại. Bên cạnh đó, hành vi này phần nào tác động đến quyền tự do lựa chọn sử dụng sản phẩm của khách hàng. Việc pháp luật cấm các doanh nghiệp thực hiện hành vi này là hoàn toàn xác đáng, bởi lẽ khi thực hiện khuyến mại như trên đã tạo ra những hành động xấu tác động trực tiếp đối thủ của mình.

Ví dụ điển hình cho hoạt động cạnh tranh không lành mạnh này, đó là việc mạng di động Viettel đã tố giác mạng di động MobileFone về hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong đơn tố giác ngày 17/6/2009, mạng di động Viettel đã nêu rõ hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của mạng MoblieFone tại địa bàn tỉnh Hải Dương. Tại đây, MobiFone đã bán hàng lưu động với chương trình "Đổi sim mạng khác lấy sim MobiFone có 230.000 đồng trong tài khoản”. Theo đó, khách hàng có sim của mạng khác (trong đó có Viettel), còn tài khoản dưới 15.000 đồng và còn hạn sử dụng, có thể đổi miễn phí lấy 1sim MobiZone của MobiFone có sẵn trong tài khoản 50.000 đồng, mỗi tháng tặng thêm 15.000 đồng, tặng trong 12 tháng. Như vậy, có thể thấy đây là hành vi khuyến mại trực tiếp gây ảnh hưởng đến đối thủ cạnh tranh của MobiFone. Hãng này thu hút khách hàng của mạng di động khác chuyển sang sử dụng dịch vụ của mình bằng việc khuyến mại không lành mạnh. Việc làm này đã vi phạm nghiêm trọng về pháp Luật Chống cạnh tranh không lành mạnh..

Loại hình khuyến mại này cũng đã không ít lần được các doanh nghiệp sử dụng trong quá trình xúc tiến thương mại của mình. Đây là loại hình khi thương nhân sử dụng sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của đối thủ, thay đổi thói quen người tiêu dùng, gây ra việc cạnh tranh không lành mạnh. Tuy vậy, loại hình này được thương nhân sử dụng cũng xuất phát từ nguyên nhân thiếu hiểu biết về pháp luật cạnh tranh mà thương nhân vô tình vi phạm pháp luật. Nhiều thương nhân chỉ cho rằng đây là hành vi khuyến mại thông thường, cạnh tranh một cách lành mạnh, do vậy đã dẫn đến việc vi phạm pháp luật. Cần có sự tuyên truyền sâu rộng pháp luật cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh này để thương nhân và người tiêu dùng hiểu rõ, tránh những vi phạm pháp luật không đáng có xảy ra.

Nghị định số 06/2008/NĐ-CP ngày 16/1/2008, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại và Nghị định số 112/2010/ NĐ-CP ngày 01/10/2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2008/ NĐ-CP ngày 16/01/2008 của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại đã có những quy định rất cụ thể về việc xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động thương mại. Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật quy định cấm, được thể hiện chi tiết tại Điều 29 Nghị định 06/2008.

Từ thực tiễn nghiên cứu về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại có thể rút ra một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Một, mức xử phạt đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn quá thấp. Theo quy định tại Điều 36 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP thì mức phạt tiền cao nhất đối với hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh chỉ là 50.000.000 đồng và mức phạt thấp nhất là 15.000.000 đồng. Như vậy, với lợi ích rất to lớn thu được trong mỗi đợt khuyến mại của doanh nghiệp có hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh thì con số nói trên là không đáng kể; đồng thời, nếu những doanh nghiệp vi phạm pháp luật cạnh tranh mà thu hút được nguồn khách hàng, hay người tiêu dùng của doanh nghiệp đối thủ thì quả thật số tiền phạt trên là không đáng kể gì. Như vậy, trên thị trường sẽ xuất hiện nhiều doanh nghiệp cố tình vi phạm pháp luật cạnh tranh gây thiệt hại cho doanh nghiệp đối thủ để nhằm tới những nguồn lợi ích to lớn cho mình.

Hai, các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết một cách nhanh chóng và triệt để. Theo thống kê thì sau 5 năm Luật Cạnh tranh đi vào thực tiễn, mới có 40 vụ vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh được đưa ra giải quyết. Trong số đó, chỉ xử lý một vài vụ việc liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại. Trên thực tế, có rất nhiều vụ việc vi phạm pháp luật cạnh tranh xảy ra nhưng thông thường các thương nhân cùng nhau thương lượng để giải quyết, không có mong muốn giải quyết tại các cơ quan chuyên trách về chống cạnh tranh không lành mạnh. Việc thương lượng cùng nhau giải quyết những vụ việc xảy ra khi có sự xâm hại đến quyền lợi giữa các thương nhân xuất phát từ tâm lý ngại kiện tụng, giải quyết lòng vòng gây tốn kém về tiền, của lãng phí thời gian.

Một nguyên nhân khác, chính là sự thờ ơ của người tiêu dùng đối với những sai phạm của các thương nhân. Bởi, trên thực tế những người tiêu dùng thường là những cá nhân đơn lẻ, khi bị xâm hại quyền lợi cũng rất khó tìm ra phương thức để bảo vệ quyền lợi cho mình, khi mà trong thực tế những vụ vi phạm pháp luật cạnh tranh chưa được giải quyết một cách triệt để.

Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp bị cạnh tranh không lành mạnh cũng không thiết tha và cảm thấy nản lòng khi tốn thời gian và tiền bạc vào việc kiện cáo lòng vòng mà kết quả có khi lại không như mình mong muốn. Thay bằng việc nhờ vào pháp luật xử lí những hành vi vi phạm thì các doanh nghiệp này lại dùng những chiêu bài khác "chơi xấu” lại đối thủ, điển hình như việc cạnh tranh giữa các mạng di động thời gian gần đây. Việc trả đũa lại đối thủ vô hình trung lại tạo thành một vụ việc vi phạm pháp luật cạnh tranh mới. Nếu tình trạng này kéo dài, thị trường sẽ trở nên hỗn loạn. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải xử lý triệt để các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, tạo niềm tin cho người tiêu dùng và ổn định thị trường.

Ba là, do pháp luật thiếu cơ chế bảo đảm quyền lợi cho khách hàng đứng ra đấu tranh chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Trong thương trường vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận mà thương nhân có những hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại. Việc thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại sẽ làm xâm phạm đến lợi ích của doanh nghiệp trên thị trường và cũng gây ra thiệt hại đối với lợi ích của khách hàng hay người tiêu dùng nói chung. Về quy định của pháp luật cạnh tranh có quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng tại Điều 58 khoản 1 và Điều 65 khoản 1 Luật cạnh tranh năm 2004. Theo đó, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật cạnh tranh có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh. Tuy nhiên, pháp luật lại không quy định thêm những cơ chế khác để có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng triệt để hơn nữa. Xét trên bình diện khía cạnh xã hội, các doanh nghiệp bao giờ cũng là một bên có tiềm lực kinh tế. Do vậy, khách hàng hay đặc biệt là người tiêu dùng nhỏ lẻ thì càng yếu thế hơn so với doanh nghiệp. Khi xảy ra tranh chấp, việc khách hàng tham gia vụ việc và đi đến cùng để giành lại phần thắng về phía mình là một điều rất khó khăn.

Bốn, sự hiểu biết về pháp luật cạnh tranh còn hạn chế trong đời sống cộng đồng. Đầu năm 2009, khi Cục Quản lý cạnh tranh tiến hành khảo sát các doanh nghiệp về mức độ hiểu biết Luật cạnh tranh thì có trên 70% doanh nghiệp Việt Nam không biết nội dung của văn bản luật này ([6]). Số lượng doanh nghiệp hiểu biết về những hành vi cạnh tranh bị cấm, mức xử phạt khi vi phạm, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh. Đối với hoạt động khuyến mại, các doanh nghiệp chỉ cần biết là khi kinh doanh thì cần tiến hành hoạt động khuyến mại chứ không biết rõ bản chất của hoạt động khuyến mại là gì, những hoạt động khuyến mại nào bị cấm, thủ tục để tiến hành một chương trình khuyến mại như thế nào. Thực tế, có rất nhiều doanh nghiệp tổ chức chương trình khuyến mại nhưng hầu như không để ý đến các thủ tục pháp lý để thực hiện chương trình đó. Nhiều doanh nghiệp tiến hành những hoạt động khuyến mại bị cấm nhưng cũng không hề biết và cứ thản nhiên thực hiện. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp khác không biết những hoạt động khuyến mại đó là vi phạm pháp luật cạnh tranh và cho rằng đó là những "chiêu khuyến mại” của đối thủ, chứ không hề biết đó là hành vi vi phạm pháp luật. Do vậy, họ cũng không tự bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp của mình được.

Năm, công tác quản lý việc thực thi pháp luật cạnh tranh còn yếu kém. Công tác quản lý thực thi pháp luật cạnh tranh là việc xem xét các doanh nghiệp hoạt động có đúng với khuôn khổ của các quy định của pháp luật cạnh tranh không. Công tác quản lý việc thực thi pháp luật cạnh tranh còn nhiều hạn chế bởi rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Đầu tiên, phải kể đến tính phức tạp trong việc quản lý những hoạt động của các doanh nghiệp nhằm mục tiêu cạnh tranh, đặc biệt là trong hoạt động khuyến mại. Việc quản lý được tất cả các chương trình khuyến mãi của các doanh nghiệp là rất khó khăn. Thêm vào đó, ý thức thực thi công vụ của các đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý cạnh tranh còn chưa cao. Điển hình như rất nhiều tuyến phố tại Hà Nội treo bảng biển, băng rôn chương trình khuyến mãi giảm giá trong thời gian rất dài vi phạm các quy định của pháp luật canh tranh mà không hề bị xử lý. Bên cạnh đó, phải kể đến công tác hậu kiểm các chương trình khuyến mại hầu như bị bỏ ngỏ. Trên thực tế, rất nhiều chương trình khuyến mại với phần thưởng rất lớn nhưng sau khi chương trình kết thúc thì không rõ phần thưởng đó có ai nhận được hay không hoặc có xem xét đến tính gian lận trong việc trao giải thưởng không hoặc có thực hiện đúng quy định nộp 50% giá trị khuyến mại vào ngân sách nhà nước khi không có người trúng thưởng ở một số loại hình khuyến mại…

Nội dung đã nêu trên chỉ là những nét chấm phá nhỏ của một bức tranh đầy mầu sắc của hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại đang diễn ra trên thương trường thời gian qua. Bài viết cũng nhằm nêu lên một số nguyên nhân có thể dẫn đến những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động khuyến mại.
----------------------------------------

[1] ThS. Nguyễn Hữu Huyên, Luật cạnh tranh Pháp và liên minh châu âu, Nxb Tư pháp, 2004.

[2] http://vietbao.vn/Kinh-te/Gian-doi-trong-chuong-trinh-khuyen-mai-cua-LG/10952177/87/

[3] http://vietbao.vn/Kinh-te/Chi-3-gia-tri-qua-khuyen-mai-den-tay-nguoi-tieu-dung/30076266/88

[4] http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Danh-lua-nguoi-tieu-dung-bang-cac-chieu-khuyen-mai/26412

[5] http://giadinh.net.vn/20100516034540173p0c1002/nha-mang-bi-mat-khuyen-mai.htm

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi