Tiếng việt   |   English Trí tuệ, Bản lĩnh, Nhân ái, Công tâm, Trách nhiệm.

 

Căn cứ BLTTDS (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Luật tổ chức VKSND và Quy chế công tác giải quyết các vụ việc dân sự ban hành kèm theo Quyết định số 567/2012/QĐ-VKSTC-V12 ngày 08/10/2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Quy chế công tác kiểm sát dân sự), Viện kiểm sát nhân dân có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1. Kiểm sát việc thụ lý vụ việc dân sự hoặc trả lại đơn khởi kiện của Toà án:

Theo quy định tại Điều 174 BLTTDS trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ việc dân sự, Toà án thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ việc dân sự. Văn bản thông báo phải có đầy đủ các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 174 BLTTDS.

Sau khi thụ lý vụ việc dân sự, nếu xét thấy vụ việc dân sự đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình, thì Toà án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc cho Toà án có thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 BLTTDS, đồng thời gửi ngay quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 168 BLTTDS, khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lí do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp. Điều 170 BLTTDS cũng quy định trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, VKS cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát, Chánh án phải ra quyết định trả lời kiến nghị. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án đã trả lời đơn khởi khởi kiện, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Chánh án Tòa án cấp trên phải ra quyết định giải quyết. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng.

Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý theo dõi, kiểm tra văn bản thông báo thụ lý theo những nội dung được quy định tại Điều 174 BLTTDS; lập phiếu kiểm sát theo dõi vi phạm để tổng hợp kiến nghị với Toà án các vi phạm về thời hạn gửi thông báo, nội dung, hình thức thông báo; theo dõi quyết định chuyển vụ án của Toà án và xem xét kiến nghị với Chánh án Tòa án về việc trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 170 BLTTDS.

Trường hợp Toà án không gửi, chậm gửi thông báo thụ lý hoặc văn bản trả lại đơn khởi kiện vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát hoặc nội dung, hình thức thông báo không đúng quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị với Toà án khắc phục vi phạm.

2. Tham gia phiên toà, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và phiên họp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC

2.1. Tham gia phiên toà, phiên họp sơ thẩm

Khoản 2 Điều 21 BLTTDS quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.

- Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà sơ thẩm:

Theo quy định tại Điều 25, Điều 27, Điều 29 và Điều 31 BLTTDS Tòa án có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Tuy nhiên, VKSND không tham gia tất cả các phiên tòa sơ thẩm giải quyết tranh chấp dân sự mà chỉ tham gia trong những trường hợp do pháp luật quy định. Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là TTLT 04/2012) Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm trong trường hợp sau:

+ Trường hợp thứ nhất, vụ án dân sự do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 và các Điều 86, 87, 88, 89, 90, 92, 93 và 94 BLTTDS.

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, kể từ khi thụ lý đến khi xét xử sơ thẩm, nếu phát hiện vụ án dân sự thuộc một trong các trường hợp nêu trên, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát biết để Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm.

+ Trường hợp thứ hai, vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng:

a) Tài sản công là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, được hình thành từ nguồn do ngân sách nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.

Ví dụ: Vụ án dân sự tranh chấp về tài sản của một cơ quan nhà nước mà tài sản đó được mua sắm từ nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.

b) Lợi ích công cộng là những lợi ích vật chất hoặc tinh thần liên quan đến xã hội hoặc cộng đồng dân cư.

Ví dụ: Vụ án dân sự do đương sự khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường. Trong trường hợp này, Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.

+ Trường hợp thứ ba, vụ án dân sự có đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở, bao gồm:

a) Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất hoặc ai là người có quyền sở hữu nhà ở;

Ví dụ: A và B tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất đối với một thửa đất có diện tích là 500 m2 hiện do B đang quản lý, sử dụng. A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc B phải trả lại thửa đất đó cho A. Trong trường hợp này, đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất, Viện kiểm sát có trách nhiệm tham gia phiên tòa sơ thẩm.

b) Tranh chấp về hợp đồng có đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở ( ví dụ: tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng mua bán nhà ở; tranh chấp về hợp đồng thuê quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê nhà ở; tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng tặng cho nhà ở; tranh chấp về hợp đồng góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng góp vốn bằng giá trị nhà ở…). Đối với tranh chấp về hợp đồng có liên quan đến quyền sử dụng đất hoặc nhà ở nhưng quyền sử dụng đất hoặc nhà ở đó không phải là đối tượng của hợp đồng, thì không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Ví dụ : A vay ngân hàng B số tiền là 500 triệu đồng, đồng thời thế chấp cho ngân hàng một ngôi nhà và quyền sử dụng đất giá trị 1 tỷ đồng. Đến thời hạn trả nợ, A không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ nhưng không xử lý được vì khu đất này đang trong diện quy hoạch, không được phép chuyển đổi, chuyển nhượng. Ngân hàng đã khởi kiện ra Tòa án yêu cầu Tòa án giải quyết buộc A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trong vụ án dân sự này, đối tượng tranh chấp là khoản tiền A vay ngân hàng chứ không phải là quyền sử dụng đất và nhà ở A dùng để thế chấp, do đó, không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.

c) Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc thừa kế nhà ở;

d) Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất hoặc đòi lại nhà ở đang cho mượn, cho sử dụng nhờ;

e) Tranh chấp trong các giao dịch dân sự khác có đối tượng giao dịch là quyền sử dụng đất, nhà ở.

+ Trường hợp thứ tư, vụ án dân sự có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người có nhược điểm về tâm thần có giấy tờ, tài liệu được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận;

b) Người có nhược điểm về thể chất thuộc một trong các trường hợp: bị mù hai mắt, bị câm, bị điếc có xác nhận của cơ quan y tế từ cấp huyện trở lên.

- Các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 BLTTDS Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự của Toà án.

Toà án gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát ngay sau khi Toà án ra quyết định mở phiên họp. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Toà án để mở phiên họp theo quy định tại Khoản 1 Điều 313 BLTTDS.

2.2. Tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm

Theo quy định tại các Điều 21 Khoản 3, Điều 264 Khoản 2, Điều 280, Điều 292 và Điều 310 BLTTDS thì Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm giám đốc thẩm, tái thẩm.

Điều 21 khoản 3 quy định "Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm”.

Theo quy định tại Điều 262 BLTTDS, sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho VKS cùng cấp nghiên cứu. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của VKS cùng cấp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, VKS phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.

Kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia phiên tòa phúc thẩm, nếu vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa (Điều 264, Điều 266 BLTTDS)

Theo Điều 280 BLTTDS quy định về thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì khi phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định. Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 280 BLTTDS lại quy định Kiểm sát viên VKS cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Như vậy, việc tham gia phiên họp phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án của VKS là bắt buộc.

2.3. Tham gia phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm:

VKSND tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm, kể cả trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm và trường hợp Toà án kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Quy định Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên toà, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm xuất phát từ lý do thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt, không phải là một cấp xét xử, nhằm xem xét lại những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, đã được đưa ra thi hành, thậm chí có thể đã thi hành xong. Phiên toà, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ tiến hành khi có căn cứ cho rằng có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ việc trước đó (phiên toà giám đốc thẩm), hoặc có tình tiết mới quan trọng (phiên toà tái thẩm). Xuất phát từ tính chất quan trọng của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát phải tham gia các phiên tòa, phiên họp để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Trong trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho VKS cùng cấp. VKS nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, VKS phải chuyển hồ sơ cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm (Khoản 2 Điều 290 BLTTDS).

2.4. Tham gia phiên họp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC:

Theo quy định tại Điều 310a BLTTDS, trường hợp xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kể cả trường hợp Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị và không có kiến nghị xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC.

3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

3.1. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp sơ thẩm

Điều 234 BLTTDS quy định "Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sư, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án".

Điều 8 TTLT số 04 ngày 01/08/2012 hướng dẫn KSV phát biểu ý kiến của VKS như sau:

a) Phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án;

Trong trường hợp Kiểm sát viên yêu cầu Hội đồng xét xử khắc phục các vi phạm về thủ tục tố tụng, thì Hội đồng xét xử phải xem xét, quyết định và có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận; trường hợp không chấp nhận, thì phải nêu rõ lý do. Quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án và phải được ghi vào biên bản phiên toà.

b) Phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án.

Tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, sau khi những người tham gia tố tụng trình bày, giải thích, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 314 BLTTDS.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp và phải được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự.

 Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án mà chỉ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đồng thời phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật (bao gồm cả pháp luật về nội dung và pháp luật về tố tụng) của những người tham gia tố tụng.

3.2. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp phúc thẩm

Điều 273a BLTTDS về "Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm" quy định: "Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm".

Tùy từng trường hợp, hoặc chỉ có kháng cáo hoặc chỉ có kháng nghị hoặc vừa có kháng cáo vừa có kháng nghị thì thì việc phát biểu của KSV được thực hiện như sau:

Trường hợp 1: Trường hợp chỉ có kháng cáo của đương sự

a) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo;

b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm;

c) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.

Trường hợp 2: Trường hợp chỉ có kháng nghị của Viện kiểm sát:

a) Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị; có quyền xuất trình bổ sung hồ sơ, tài liệu, vật chứng (nếu có) làm cơ sở cho việc kháng nghị; phân tích để làm rõ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định sơ thẩm;

b) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về các nội dung hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này;

c) Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị.

Trường hợp 3: Trường hợp vừa có kháng cáo của đương sự, vừa có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát:

a) Phát biểu về kháng cáo của đương sự theo hướng dẫn tại điểm a khoản 1 Điều này;

b) Trình bày kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều này;

c) Phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về các nội dung hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết đối với bản án, quyết định sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.

Như vậy, trong giai đoạn này, ngoài việc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm và những người tham gia tố tụng , Kiểm sát viên có quyền phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án của Tòa án. Phát biểu của Kiểm sát viên ở phiên tòa phúc thẩm phải thể hiện rõ thái độ, trách nhiệm của Viện kiểm sát trước sự đúng, sai của bản án, quyết định của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để giúp Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, quyết định.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp và phải được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự.

 3.3. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Điều 295 BLTTDS quy định: "Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án".

Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát kháng nghị, thì việc trình bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp được thực hiện như sau:

a) Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị; có quyền xuất trình bổ sung hồ sơ, tài liệu, vật chứng; phát biểu quan điểm kháng nghị và phân tích để làm rõ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

b) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự.

Trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị, thì việc trình bày, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa, phiên họp được thực hiện như sau:

a) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị, nêu rõ lý do nhất trí hoặc không nhất trí với quan điểm kháng nghị của Chánh án Tòa án;

b) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ việc dân sự.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa và phải được gửi cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, phiên họp để lưu vào hồ sơ vụ việc dân sự.

Tại phiên họp giải quyết việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, Điều 280 BLTTDS quy định: "Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị ... Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định".

Như vậy, so với việc phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, việc phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm và giám đốc thẩm là phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, không chỉ là việc phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật như tại phiên tòa sơ thẩm.

4. Kiểm sát các bản án, quyết định giải quyết các vụ việc dân sự của Toà án

4.1. Kiểm sát các quyết định của Tòa án để thực hiện quyền kiến nghị:

VKSND thực hiện quyền kiểm sát đối với: Quyết định chuyển vụ việc dân sự cho Tòa án khác (Điều 37 BLTTDS); Quyết định nhập hoặc tách vụ án (khoản 3 Điều 38); Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 123); Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm (Điều 195); Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm (Điều 258); Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm (Điều 208); Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm (Điều 266)…

Khi nhận được các quyết định trên, cán bộ, Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ lý theo từng loại quyết định, lập phiếu kiểm sát để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định, như: Thời hạn Tòa án gửi quyết định cho Viện kiểm sát; nội dung, hình thức của các quyết định; nếu có vi phạm thì xác định mức độ của vi phạm và báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị Tòa án khắc phục đối với từng quyết định hoặc tập hợp kiến nghị chung.

4.2. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án để thực hiện quyền kháng nghị

Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát đối với: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án; Bản án sơ thẩm; Bản án phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm; Quyết định tái thẩm.

Khi nhận được các loại quyết định và bản án nói trên, cán bộ, Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát và hồ sơ kiểm sát theo mẫu hướng dẫn; kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định. Trường hợp phát hiện vi phạm về thời hạn Tòa án gửi bản án, quyết định cho Viện kiểm sát hoặc bản án, quyết định vi phạm về hình thức, sai sót về nội dung không nghiêm trọng thì tập hợp để báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát kiến nghị với Tòa án.

Trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì báo cáo Viện trưởng kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ; bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật) hoặc đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm (đối với quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm).

Quá trình kiểm sát bản án, quyết định, xét thấy cần thiết để bảo đảm việc kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc để bảo vệ quan điểm kháng nghị tại phiên tòa, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc làm văn bản yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện kiểm sát hồ sơ, tài liệu, vật chứng theo quy định tại khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 94 BLTTDS và hướng dẫn tại Điều 4 của Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT.

Như vậy, khi thực hiện kiểm sát bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Toà án, nếu phát hiện có vi phạm trong quá trình giải quyết vụ việc, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật.

5. Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ, việc dân sự để tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc xem xét, quyết định việc kháng nghị

5.1. Trường hợp Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp

Trường hợp Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho VKS cùng cấp để VKS tham gia phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm: Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho VKS cùng cấp để VKS tham gia phiên tòa, phiên họp theo quy định tại Khoản 2 Điều 195, Khoản 2 Điều 262, Khoản 1 Điều 313 và Điều 318 BLTTDS trừ trường hợp VKS cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

Đối với phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự: Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho VKS cùng cấp.

Đối với phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Tòa án phải gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Tòa án ra quyết định mở phiên họp. Trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, VKS phải trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp theo quy định tại Khoản 1 Điều 131 BLTTDS.

Đối với phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự: Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cáp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án dân sự cùng với quyết định đưa vụ án ra xêt xử cho VKS cùng cấp.

Đối với phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, Tòa án phải gửi hồ sơ việc dân sự cùng với quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi Tòa án quyết định mở phiên họp.

Đối với phiên họp xét quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi hồ sơ vụ án cùng với quyết định mở phiên họp phúc thẩm cho VKS cùng cấp ngay sau khi Tòa án ra quyết định mở phiên họp.

Đối với phiên họp xét kháng cáo quá hạn: Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm gửi đơn kháng cáo quá hạn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho VKS cùng cấp để nghiên cứu tham gia phiên họp.

Ở trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm: Trường hợp Chánh án TAND tối cao hoặc Chánh án TAND cấp tỉnh kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm hoặc tái thẩm gửi hồ sơ vụ việc dân sự cùng với quyết định kháng nghị cho VKS cùng cấp ngay sau khi Chánh án Tòa án ra quyết định kháng nghị.

5.2. Trường hợp Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho VKS xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Sau khi nhận được bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà Viện kiểm sát cùng cấp (trong trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự) hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xét thấy cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ việc dân sự để xem xét việc kháng nghị phúc thẩm, thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát.

Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát, Toà án cấp sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu.

5.3. Trường hợp chuyển hồ sơ vụ án giữa Tòa án với Viện kiểm sát để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Theo quy định của BLTTDS có hai loại chủ thể có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, đó là Chánh án TANDTC, Chánh án TAND cấp tỉnh và Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. Trường hợp VKS có yêu cầu chuyển hồ sơ thì VKS có văn bản yêu cầu Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ việc dân sự đó. Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu chuyển hồ sơ, Tòa án đang quản lý hồ sơ phải chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho VKS có yêu cầu.

5.4. Việc chuyển các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án thu thập bổ sung sau khi đã chuyển hồ sơ cho VKS:

Theo hướng dẫn tại khoản 5 Điều 2 TTLT 04/2012, trước khi mở phiên tòa, phiên họp, nếu hồ sơ vụ việc dân sự đã được chuyển cho VKS mà có chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập bổ sung thì Tòa án chuyển cho VKS bản sao chứng cứ đó. Việc chuyển bản sao chứng cứ cho VKS trong trường hợp này phải đảm bảo thời gian để VKS nghiên cứu, tham gia phiên tòa, phiên họp.

6. Yêu cầu cung cấp chứng cứ, cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để thực hiện thẩm quyền kháng nghị

Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 85, khoản 2 Điều 94 BLTTDS.

Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ. Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của VKS thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật theo quy định tại Khoản 2 Điều 94 BLTTDS.

Các hồ sơ, tài liệu, vật chứng mà đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp cho Viện kiểm sát theo yêu cầu của Viện kiểm sát trong trường hợp này phải được chuyển cho Toà án để đưa vào hồ sơ vụ việc và bảo quản tại Toà án theo quy định tại Khoản 1 Điều 95 BLTTDS.

7. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Toà án

7.1. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát là văn bản pháp lý làm phát sinh một thủ tục tố tụng mới yêu cầu Toà án phải xem xét lại toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định bị kháng nghị nhằm mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công minh và đúng pháp luật, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của toà án; kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của bản án hoặc quyết định của toà án. Thẩm quyền và trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 và tại Điểm đ Khoản 1 Điều 44, Điều 250 và Điều 316 BLTTDS. Theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm. Như vậy, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp sẽ là người ký kháng nghị. Đối với các vụ việc dân sự do Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ủy quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 252 BLTTDS, thời hạn kháng nghị đối với bản án của Toà án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên toà thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 252, Khoản 2 Điều 317 BLTTDS, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 358 và Khoản 2 Điều 372 BLTTDS.

Theo Điều 256 BLTTDS thì Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm. Nếu thời hạn kháng nghị vẫn còn thì việc thay đổi phạm vi kháng nghị được chấp nhận, nếu thời hạn kháng nghị đã hết thì việc thay đổi phạm vi kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng nghị ban dầu.

Trước khi bắt đầu phiên tòa, việc rút kháng nghị có thể do Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. Tại phiên tòa phúc thẩm, việc rút kháng nghị thuộc thẩm quyền của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

7.2. Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo Điều 285 và Điều 307 BLTTDS thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Về thời hạn kháng nghị, theo quy định tại Điều 288 BLTTDS người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 288 BLTTDS.

Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 288 BLTTDS nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày kết thời hạn kháng nghị:

- Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của BLTTDS và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều 288 đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của BLTTDS, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.

Theo Điều 308 BLTTDS, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 305 của BLTTDS.

Theo Điều 289 BLTTDS, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, người đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.

Việc rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm trước khi bắt đầu phiên tòa do người đã ra quyết định kháng nghị quyết định, còn tại phiên tòa, nếu thấy cần thiết phải rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị thì Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên tòa và báo cáo Lãnh đạo Viện xem xét, quyết định.

8. Yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án và quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án khi thực hiện kháng nghị theo thẩm quyền

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 286 BLTTDS, người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

 Khoản 2 Điều 286 BLTTDS quy định người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.

Theo Khoản 3 Điều 307 BLTTDS, người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.

9. Kiến nghị đối với các vi phạm của Toà án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự

Trường hợp vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án đã thụ lý thì Tòa án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xóa sổ thụ lý. Quyết định này cũng phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp theo quy định tại Khoản 1 Điều 37 BLTTDS. Viện kiểm sát có quyền kiến nghị quyết định chuyển hồ sơ vụ án trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

Khoản 2 Điều 168 BLTTDS về việc trả lại đơn khởi kiện quy định: "Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Theo quy định tại Điều 170 BLTTDS thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời đơn kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án,Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết.

Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, VKSND có quyền thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị đối với các vi phạm của Tòa án.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc thực hiện quyền yêu cầu, cần chú ý các yêu cầu phải sát với thực tiễn, cụ thể, rõ ràng, theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Khi thực hiện thẩm quyền kiến nghị, cần chú ý cần tập hợp, phân loại các vi phạm chung để kiến nghị.

10. Kiến nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao

Theo quy định tại Chương XIXa BLTTDS quy định về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trong đó quy định Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kiến nghị với Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC khi có căn cứ xác định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định đó..

Khi có kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC thì Chánh án TANDTC có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét kiến nghị. Có thể xảy ra các trường hợp sau:

- Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC, thì Hội đồng Thẩm phán TANDTC ra quyết định giao Chánh án TANDTC tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán TANDTC tối cao xem xét, quyết định. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán TANDTC để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC phải có sự tham dự của Viện trưởng VKSNDTC.

- Trường hợp Hội đồng Thẩm phán không nhất trí với kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do; phiên họp của Hội đồng Thẩm phán xem xét kiến nghị của Viện trưởng VKSNDTC (và cả trường hợp xét kiến nghị của Ủy ban Tư pháp, đề nghị của Chánh án TAND tối cao) phải có sự tham dự của Viện trưởng VKSNDTC.

Như vậy, tất cả các phiên họp của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (kể cả trong trường hợp Viện trưởng VKSNDTC kiến nghị và không có kiến nghị) phải có sự tham dự của Viện trưởng VKSNDTC.

 


 


Mục Lục Hướng dẫn    

1.4

4