Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh về án dân sự, hành chính, kinh tế.

1. Thông báo rút kinh nghiệm số 763/TB-VKS-P5 ngày 19/09/2012 vụ án "Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ” bị cấp phúc thẩm xử huỷ án.

 

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử và tuyên huỷ vụ án "Yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe ” giữa:

 

Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị Nam

 

Địa chỉ: Thôn 3, xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

 

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thêm

 

Địa chỉ: số 34 Bà Triệu, thị trấn Quảng Phú, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

 

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

 

Ông: Mai Văn Thụ

 

Trú quán: Thôn Mậu Tài, thị trấn Nga Sơn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá

 

Nội dung vụ án:

 

Ngày 26/12/2010, Bà Nguyễn Thị Nam điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47H1 - 1931 trên đường liên xã đi theo hướng từ xã Ea H’Ding đến xã Ea Kpam, huyện Cư M’gar. Khi đi đến đoạn đường thôn 6, xã Ea Kpam thì bị Mai Công Hậu sinh năm 1995) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47FB - 0098 chạy ngược chiều không đúng phần đường đâm vào. Hậu quả bà Nam bị gãy xương đùi phải, thiệt hại 30% sức khoẻ. Sau khi bị tai nạn, bà Nam điều trị thương tích tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk 10 ngày (từ 26/12/2010 đần 05/01/2011). Ngày 31/12/2010, bà Nguyễn Thị Thêm (mẹ đẻ của Mai Công Hậu) đã bồi thường cho bà Nam 3.000.000đ (ba triệu đồng).Hành vi gây tai nạn cho bà Nam của Hậu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar chỉ xử lý hành chính đối với Hậu. Do hai bên không thỏa thuận được việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam, nên ngày 14/4/2011, bà Nam khởi kiện dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, yêu cầu gia đình Mai Công Hậu phải bồi thường cho bà toàn bộ chi phí điều trị thương tích và tiền sửa chữa xe máy là 85.755.000đ.

 

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2012/DSST ngày 12/6/2012 của Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

 

Áp dụng Điều 298; Điều 604; Điều 606; Điều 609 BLDS.

 

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Nam

 

Buộc ông Mai Văn Thụ và bà Nguyễn Thị Thêm có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nguyễn Thị Nam là 42.877.000đ, chia theo phần ông Mai Văn Thụ phải bồi thường là 21.438.400đ; bà Nguyễn Thị Thêm phải bồi thường số tiền còn lại là 18.438.500đ.

 

Án sơ thẩm cũng tuyên án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

 

Ngày 22/6/2012, bà Nguyễn Thị Thêm có đơn kháng cáo bản án nói trên với nội dung: Cháu Hậu khi gây tai nạn chưa đủ 15 tuổi, nhưng Toà án không chỉ định luật sư bào chữa cho Hậu là vi phạm pháp luật; Bà Nam chỉ bị thương tích 16% chứ không phải 30% như Toà án xác định; Một số khoản Toà án buộc bà bồi thường cho bà Nam là quá cao (thu nhập bị mất, tiền công người nuôi dưỡng, tiên sửa xe máy...);Theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn số 02/QĐTTLH ngày 03/02/2005 của Toà án thì ông Mai Văn Thụ là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Mai Công Hậu, vì vậy Toà án buộc bà phải bồi thường 1/2 thiệt hại cho bà Nam là không đúng, vì về pháp lý bà không còn trách nhiệm gì đối với cháu Hậu. Bà đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

 

Ngày 09 tháng 7 năm 2012, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 514/QĐ/KNPT - P5, theo hướng huỷ bản án dân sự sơ thẩm trên, vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

 

Ngày 12/9/2012, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm: Chấp nhận Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thêm. Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 19/2012/DSST ngày 12/6/2012 của Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại, vì thu thập, đánh giá chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.

 

Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này là:

 

*Về tố tụng:

 

-Cháu Mai Công Hậu là người trực tiếp gây thiệt hại về sức khoẻ cho bà Nam khi đã đủ 15 tuổi, nhưng cấp sơ thẩm không đưa cháu Mai Công Hậu vào tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn và xem xét tình trạng tài sản cá nhân cũng như khả năng bồi thường của cháu Mai công Hậu, mà lại xác định người giám hộ đương nhiên bà Nguyễn Thị Thêm là bị đơn, vi phạm khoản 3 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 606 Bộ luật dân sự.

 

- Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47FB - 0098 do Hậu điều khiển gây tai nạn cho bà Nam ngày 26/12/2010 thuộc sở hữu của ai? Ai đã giao xe cho Hậu điều khiển trước khi gây tai nạn? chưa được cấp sơ thẩm xác minh làm rõ để xem xét trách nhiệm của họ, là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự.

 

* Về nội dung:

 

- Theo đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, bà Nam yêu cầu bồi thường tiền công, tiền ăn, nằm viện là 15 ngày, nhưng theo bệnh án thì bà Nam điều trị tại bệnh viện 10 ngày (từ ngày 26/12/2010 đến ngày 05/01/2011), nhưng cấp sơ thẩm lại buộc bà Thêm ông Thụ phải bồi thường thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc 60 ngày là không có cơ sở, trái quy định tại điểm c khoản 1 Điều 609 BLDS và điểm 1.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

 

-Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Nam, buộc bà Thêm phải bồi thường tiền sửa chữa xe máy 4.000.000đ, nhưng bà Nam không có hoá đơn, biên nhận xuất trình, trong khi bà Thêm cũng không đồng ý, là không có cơ sở (vì tại phiên toà bà Nam khai xe không sửa, bà đi hỏi thợ thì họ nói nếu sửa thì hết khoảng 3.000.000 đến 4.000.000 đồng)

 

-Tổng số tiền phải bồi thường theo từng mục tại phần nhận định của bản án là 48.877.000đ, nhưng án sơ thẩm tính tổng số tiền và buộc bà Thêm, ông Thụ phải bồi thường cho bà Nam 42.877.000đ là không chính xác, vi phạm khoản 5 điêu 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

 

Trách nhiệm để vụ án trên bị cấp phúc thẩm xử huỷ án, trước hết thuộc về Kiểm sát viên Y Hiăng Kbuôr. Trong quá trình kiểm sát việc lập hồ sơ của Toà án đã không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, chưa nắm vững các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nên không phát hiện được những vi phạm về thủ tục tố tụng trong quá trình thu thập, đánh giá chứng cứ để yêu cầu Tòa án bổ sung, khắc phục trước khi đưa vụ án ra xét xử. Mặc dù Kiểm sát viên có tham gia phiên toà, nhưng do không nghiên cứu kỹ hồ sơ, nên không phát hiện được vi phạm để đề xuất kháng nghị phúc thấm đối với vụ án nói trên.

 

Đối với Lãnh đạo đơn vị chưa sâu sát trong việc kiểm tra, chỉ đạo giải quyết vụ án, xem xét kỹ nội dung đề xuất của Kiểm sát viên và kết quả xét xử sơ thẩm.

 

Vậy, Phòng 5 thông báo để Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã, thành phố biết, rút kinh nghiệm chung cho cán bộ, Kiểm sát viên đơn vị, nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự của Toà án./.

 

2. Thông báo rút kinh nghiệm số 2765/TB-VKS-P12 ngày 10/10/2012 của VKSND tỉnh An Giang rút kinh nghiệm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại.

 

Qua công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính và kinh doanh thương mại trong quý III/2012, Phòng Kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Phòng 12) xin thông báo rút kinh nghiệm đối với các vụ, việc đã được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm hủy án và sửa án sơ thẩm, cụ thể như sau:

 

1.Vụ khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính, giữa:

 

-Người khởi kiện:Ông Nguyễn Bình Đông, sinh năm 1944 và bà Dương Kim Phụng, sinh năm 1948. Địa chỉ: Tổ 2, ấpCây Gòn, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

 

-Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

 

*Nội dung vụ kiện: Do ông Nguyễn Bình Đông có hành vi tranh chiếm sử dụng trái phép 10.114m2 đất nông nghiệp tọa lạc tại ấp Cây Gòn, xã Lương An Trà, huyện Tri Tôn (thuộc quỹ đất công UBND xã quản lý và đang cho ông Nguyễn Lợi Đức thuê), nên ngày 17/2/2005 ƯBND xã Lương An Trà đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Bình Đông. Ngày 10/3/2005 Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 224/QĐ.UBND.XP đối với ông Nguyễn Bình Đông bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng và hình thức xử phạt bổ sung thu hồi diện tích 10.114m2 đất nông nghiệp bị ông Đông bao chiếm, giao cho UBND xã Lương An Trà quản lý. Ông Đông khiếu nại quyết định xử phạt trên và ngày 11/7/2006 Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn ra Quyết định số 1791/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại: Giữ nguyên nội dung Quyết định số 224/QĐ.UBND.XP.

 

Ngày 03/8/2011, ông Đông cùng vợ là Dương Kim Phụng đứng đơn khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu Tòa án xét xử hủy các quyết định hành chính nói trên, vì cho rằng nguồn gốc đất tranh chiếm là của cha mẹ vợ ông Đông khai hoang từ trước năm 1975, sau đó đã cho vợ chồng ông canh tác đến năm 1978 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam nên phải di tản. Năm 1983 gia đình ông quay về canh tác lại đất này thì xảy ra tranh chấp, dẫn đến việc ông chiếm lại đất và bị xử phạt như trên.

 

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 03/2012/HC-ST ngày 19/6/2012 của TAND huyện Tri Tôn xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bình Đông vàbà Dương Kim Phụng về việc khởi kiện Quyết định số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và Quyết định số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch UBND huyện Tri Tôn; ông Nguyễn Bình Đông và bà Dương Kim Phụng phải chịu 200.000đ án phí hành chính sơ thẩm.

 

Ngày 25/06/2012, ông Nguyễn Bình Đông và bà Dương Kim Phụng kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại toàn bộ bản án theo trình tự phúc thẩm.

 

Bản án phúc thẩm số 13/2012/HCPT ngày 05/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định sửa án sơ thẩm:

 

+ Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Dương Kim Phụng đối với các Quyết định số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

 

+ Bác đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đông đối với các Quyết đinh số 224/QĐ.UBND.XP ngày 10/3/2005 và số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

 

+ Ông Đông phải chịu 200.000đ án phí hành chính sơ thẩm.

 

*Lý do sửa ản và những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Bà Dương Kim Phụng đứng đơn khởi kiện cùng với ông Nguyễn Bình Đông đối với Quyết định số 224/QĐ.UBNĐ.XP ngày 10/3/2005 và Quyết định số 1791/QĐ-UBND ngày 11/7/2006 của Chủ tịch UBNDhuyện Tri Tôn, là Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại đối với cá nhân ông Đông. Các Quyết định hành chính này không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân bà Phụng, nên bà Phụng không có quyền khởi kiện. Lẽ ra, qua công tác kiệm sát thụ lý giải quyết vụ án hành chính nói trên, Kiểm sát viên cần kiến nghị Tòa án ra Quyết định đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phụng theo đúng quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 120 Luật Tố tụng hành chính. Việc Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định bà Phụng là người khởi kiện và tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Phụng, buộc bà Phụng phải chịu tiền án phí hành chính sơ thẩm là vi phạm về thủ tục tố tụng và không đúng pháp luật.

 

2.Vụ khiếu kiện quyết định hành chính, giữa:

 

-Người khởi kiện: Ông Trần Văn Nguyên, sinh năm 1978.

 

Địa chỉ: Ấp Cây Me, xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

 

-Ngườibị kiện:Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

 

*Nội dung vụ kiện: Năm 1994 ông Trần Văn Chinh (là anh ruột của ông Nguyên) khiếu nại tranh chấp diện tích 20.500m2đất nông nghiệp tọa lạc tại xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn. Vụ việc được ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn giải quyết bằng Quyết định số 452/QĐ.UB ngày 15/7/1996 bác đơn khiếu nại của ông Chinh về tranh chấp đất nông nghiệp nêu trên. Ông Chinh tiếp tục khiếu nại đến ủy ban nhân dân tỉnh An Giang, ngày 19/4/1999 ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 715/QĐ.UB.KN giữ nguyên nội dung Quyết định số 452/QĐ.UB ngày 15/7/1996 của ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn. Sau khi ông Chinh chết, ông Nguyên tiếp tục khiếu nại tranh chấp phần đất nói trên đối với ông Nguyễn Văn Thao và ông Dương Thanh Liêm. Ngày 06/4/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang có Công văn số 11/UBND-TD trả lời việc khiếu nại của ông Nguyên không có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc đã được giải quyết tại Quyết định số 715/QĐ.UB.KN; yêu cầu ông Nguyên nghiêm chỉnh chấp hành.Nhưng ông Nguyên vẫn tiếp tục có hành vi xạ lúa để tranh chiếm diện tích đất đã được cấp cho ông Dương Thanh Liêm. Ngày 06/02/2012, Ủy ban nhân dân xã Châu Lăng đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về lĩnh vực đất đai đối với ông Nguyên. Ngày 09/02/2012, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn ban hành Quyết định số 554/QĐ-UBND về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn Nguyên, bằng hình thức phạt tiền 30.000.000 đồng và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất như trước khi vi phạm.

 

Ngày 22/02/2012, ông Trần Văn Nguyên khởi kiện án hành chính yêu cầu Toà án xét xử hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 554/QĐ-UBND nói trên.

 

Bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2012/HC-ST ngày 25/7/2012 của TAND huyện Tri Tôn đã xét xử; Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Nguyên đòi hủy Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 9/02/2012 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn.

 

Ngày 26/7/2012, ông Trần Văn Nguyên kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử lại toàn bộ bản án theo trình tự phúc thẩm.

 

Quá trình Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, ngày 31/8/2012 Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện tri Tôn đã có Quyết định số 5511/QĐ-UBND thu hồi và bãi bỏ Quyết định số 554/QĐ- UBND ngày 09/02/2012 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Trần Văn Nguyên (do xác định việc xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp nói trên là không đúng thẩm quyền và người khởi kiện cũng có đơn rút lại yêu cầu khởi kiện. Tại Quyết định số: 14/2012/QĐ-PT ngày 10/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã quyết định: Hủy bản án hành chính sơ thẩm số: 04/2012/HC- ST ngày 25/7/2012 của TAND huyện Tri Tôn và đình chỉ giải quyết vụ án.

 

*Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 9/02/2012, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn đã áp dụng Điểm d Khoản 1 Điều 9 Nghị định số: 105/2009/NĐ- CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, để áp dụng mức phạt tiền 30.000.000 đồng đối với ông Trần Văn Nguyên là chưa phù hợp về nguyên tắc xử phạt quy định tại Khoản 6 Điều 6 và thẩm quyền xử phạt quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, bởi vì: Giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp mà ông Nguyên tranh chiếm trái phép được xác định là 230.000.000 đồng, do đó theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 9 Nghị Định số105/2009/NĐ-CP có khung tiền phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (mức phạt trung bình khung là 65.000.000 đồng). Nhưng theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện chỉ có quyền phạt tiền đến 30.000.000 đồng (tại Điểm a Khoản 3 Điều 13 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003: Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định cho mỗi hành vi vi phạm hành chính). Do đó, việc án sơ thẩm đã tuyên xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Nguyên đối với Quyết định số 554/QĐ-UBND ngày 09/02/2012 của Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tri Tôn nói trên là chưa xem xét đúng các căn cứ pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hiện hành. Công tác kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm chưa phát hiện được nội dung vi phạm trên để kiến nghị, kháng nghị theo thẩm quyền là có thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

 

3.Vụ kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng, giữa:

 

-Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc, tỉnh An Giang. Địa chỉ: số 55 - Lê Lợi, phường Châu Phú B, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

 

-Bị đơn: Ông Thái Ngọc Tính, sinh năm 1987

 

Địa chỉ: Ẩp Tân Lợi, xã Tân Tiến, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

 

-Người có quyền lợỉ, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Ba, sinh năm 1957 và ông Thái Ngọc Dũng, sinh năm 1958.

 

Địa chỉ: Ấp Tân Lợi, xã Tân Tiến, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

 

*Nội dung vụ kiện:Vào ngày20/01/2009, Phòng giao dịch Tịnh Biên thuộc Chi nhánh Châu Đốc - NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam có ký hợp đồng số 29/2009/PGD.TB-TL cho ông Thái Ngọc Tính vay số tiền 300.000.000 đồng, thời hạn cho vay 06 tháng, lãi suất 0,96%/tháng, lãi suất quá hạn là 150% so với lãi suất trong hạn. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay bằng Hơp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009, theo đó bên thứ ba là bà Nguyễn Thị Ba và chồng là ông Thái Ngọc Dũng đồng ý thế chấp tài sản quyền sử dụng 28.687m2 đất 2L theo giấy chứng nhận QSDĐ số 02112 QSDĐ/cL do UBND huyện Tri Tôn ký cấp ngày 20/9/1999 và diện tích 4.956m2 đất 2L theo giấy chứng nhận QSDĐ số 02261 QSDĐ/cI do UBND huyện Tri Tôn ký cấp ngày 01/3/2002 (đều do bà Nguyễn Thị Ba đứng tên giấy CNQSDĐ).

 

Kết quả thực hiện, đến tháng 7/2009 Hợp đồng vay số 29/2009/PGD.TB- TL nói trên đã được thanh lý xong. Ông Thái Ngọc Tính và Phòng giao địch Tịnh Biên tiếp tục ký kết thực hiện các Hợp đồng vay số 158/2009/PGD.TB- HM ngày 16/7/2009 (số tiền vay là 1.200.000.000đ, thời hạn vay 06 tháng, lãi suất 0,875%/tháng); Hợp đồng vay số 21/2010/PGD.TB.TL ngày 22/01/2010 (số tiền vay 400.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng và Hợp đồng vay số 16/2011/PGD.TB-HM ngày 21/01/2011 (số tiền vay là 158.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất vay do bên cho vay công bố tại thời điểm nhận nợ). Ông Tính và bên cho vay vẫn tiếp tục sử dụng Hợp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 (đã được vợ chồng bà Ba, ông Dũng ký kết ngày 22/01/2009) để bảo đảm nghĩa vụ thực hiện các Hợp đồng vay số 158/2009/PGD.TB-HM;số 21/2010/PGD.TBTLvà số 16/2011/PGD.TB-HMnêu trên, nhưng không được ông Dũng và bà Ba đồng ý.

 

Do ông Thái Ngọc Tính vi phạm nghĩa vụ trả nợ tiền vốn và lãi vay, nên ngày 25/8/2011 Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc làm đơn khởi kiện, yêu cầu xét xử buộc ông Thái Ngọc Tính và vợ là Lê Thị Nhi cùng bên thế chấp tài sản là bà Nguyễn Thị Ba và ông Thái Ngọc Dũng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ 158.000.000 vốn gốc và tiền lãi phát sinh.

 

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2012/KDTM-ST ngày 03/5/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn đã quyết định xử: Buộc vợ chồng ông Thái Ngọc Tính, bà Lê Thị Nhi và vợ chồng ông Thái Ngọc Dũng, bà Nguyễn Thị Ba liên đới trách nhiệm thanh toán nợ vay ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên, với số tiền nợ cộng chung vốn và lãi là 195.779.116 đồng; như vậy, anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng là 48.944.779 đồng; Khi án có hiệu lực pháp luật anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba còn phải chịu, lãi suất đối với phần vốn gốc. (158.000.000đ) theo mức lãi suất hai bên đã ký kết hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, vềán phí: Anh Tính, chị Nhi, ông Dũng và bà Ba mỗi người phải nộp là 2.447.239đ tiền án phí KDTM-ST.

 

Ngày 21/5/2012, ông Tháỉ Ngọc Dũng kháng cáo cho rằng: Án sơ thẩm đã xử buộc vợ chồng ông phải liên đới trả nợ vốn, lãi phát sinh cho Ngân hàng là không đúng pháp luật. Do Hợp đồng thế chấp tài sản số 14/TC3- QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 đã được chấm dứt ngay tại thời điểm Thái Ngọc Tính hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng số 29/2009/PGD.TB- TL ngày 20/01/2009. Sau đó ông Dũng không đồng ý bảo đảm cho các hợp đồng vay khác của ông Tính, nhưng phía Ngân hàng vẫn cho ông Tính vay là ngoài phạm vi bảo đảm của hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nói trên (tuy nhiên, kháng cáo của ông Tính quá hạn luật định và không có lý do chính đáng nên đã không được cấp phúc thẩm chấp nhận).

 

Ngày 05/6/2012, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện TriTôn ban hành Quyết định kháng nghị số 136/QĐ/KNPT yêu cầu xét xử phúc thẩm sửa bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2012/KDTM-ST ngày 03/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn: vềphần trách nhiệm liên đới thanh toán nợ, án phí và nghĩa vụ trả tiền lãi chậm thi hành án.

 

Đến ngày 24/7/2012, Ngân hàng TMCP Ngoại thương - Chi nhánh Châu Đốc có văn bản xác nhận bị đơn đã thanh toán xong số tiền 158.000.000 đồng nợ vốn và chỉ còn nợ lãi 38.517.766 đồng, nên chỉ tiếp tục yêu cầu ông Thái Ngọc Tính, bà Lê Thị Nhi và bà Nguyễn Thị Ba, ông Thái Ngọc Dũng phải liên đới trách nhiệm trả số tiền nợ lãi còn lại nói trên.

 

Tại bản án phúc thẩm số 16/2012/KDTM-PTngày 15/8/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã phúc xử: Chấp nhận Kháng nghị số 136/QĐ/KNPT ngày 05/6/2012 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn:

 

+ Buộc Thái Ngọc Tính và Lê Thị Nhi có nghĩa vụ trả Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên số tiền 38.518.766 đồng.

 

+ Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Châu Đốc - Phòng giao dịch Tịnh Biên trả lại ông Thái Ngọc Dũng, bà Nguyễn ThịBa Giấy chứng nhận QSDĐ số 02112 QSDĐ/cI ngày 20/9/1999 và Giấy chứng nhận QSDĐ số 02261 QSDĐ/cI ngày 01/3/2002.

 

+ về án phí: Thái Ngọc Tính và Lê Thị Nhi phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

 

+ Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thanh toán số tiền trên thì bên phải thi hành án còn phải chịu thêm lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian thi hành án.

 

*Lý do sửa án và những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

 

Trong vụ kiện này, ông Thái Ngọc Dũng và bà Nguyễn Thị Ba tham giatố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan (bên thế chấp tài sản bảo đảm nợ vay), nhưng án sơ thẩm lại xử buộc ông Dũng và bà Ba phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ như trên là chưa bảo đảm căn cứ chính xác, vì: Nghĩa vụ trả nợ trướctiên phải là trách nhiệm của ông Tính (người vay tiền), nếu tới thời hạn mà ông Tính không trả được nợ và các bên không có thỏa thuận nào khác thì phải xử lý tài sản thế chấp đề thanh toán nợ. Như vậy, tại thời điểm Hợp đồng số 29/2009/PGD.TB-TL ngày 20/01/2009 được thanh lý xong và khi chưa phát sinh nghĩa vụ mới, thì đương nhiên hợp đồng thế chấp tài sản số 14/TC3-QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009 đã hết thời hạn và chấm dứt theo quy định tại Điều 344, Điều 357 Bộ luật dân sự. Do đó số nợ 158.000.000 đồng phát sinh theo Hợp đồng vay số: 16/2011/PGD.TB-HM ngày21/01/2011 hoàn toàn nằm ngoài phạm vi bảo đảm của hợp đồng thế chấp QSDĐ số 14/TC3- QSDĐ/PGD.TB ngày 22/01/2009.

 

Về án phí sơ thẩm: Ông Thái Ngọc Dũng và bà Nguyễn Thị Ba tham gia vụ kiện với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan và họ không có yêu cầu độc lập trong vụ án này. Nhưng án sơ thẩm đã xử buộc mỗi người phải nôp 2.447.239 đồng tiền án phí KDTM-ST là không đúng với quy định tại Điều 131 Bộ luật tố tụng dân sự.

 

Về biện pháp bảo vệ quyền lợi cho bên được thi hành án: Án sơ thẩm đã quyết định: "Khi án có hiệu lực các đương sự Thái Ngọc Tính, Lê Thị Nhi, Thái Ngọc Dũng và Nguyễn Thị Ba phải chịu lãi suât đối với phần vốn gốc là 158.000.000 đồng theo mức lãi suất hai bên đã ký hợp đồng tín dụng, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán” là chưa đúng với quy định tại các Điều 7, Điều 30 và Điều 31 Luật thi hành án dân sự và Điều 305 Bộ luật Dân sự. Theo Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản tại Khoản 3 Mục I có quy định: "Đối với các khoản tiền vay, gửi ở tài sản Ngân hàng, tín dụng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, trong mọi trường hợp Tòa án đều không phải quy đổi các khoản tiền đó ra gạo, mà quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay, gửi cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày khi giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định”.

 

Do Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã làm tốt công tác kiểm sát bản án và kịp thời ban hành kháng nghị, kết quả xét xử phúc thẩm đã được chấp nhận kháng nghị và sửa án sơ thẩm như nêu trên.

 

Thông qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm các vụ án hành chính và kinh doanh thương mại nói trên, Phòng 12 - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang xin thông báo đến các Viện Kiểm sát nhân dân huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh nghiên cứu rút kinh nghiệm chung nhằm thực hiện tốt công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính và án kinh doanh thương mại trong thời gian tới./.

 

3. Thông báo rút kinh nghiệm số 3178/TB-VKS-P5 ngày 29 tháng 11 năm 2012 của VKSND tỉnh An Giang rút kinh nghiệm " Vụ án dân sự có vi phạm tố tụng bị cấp phúc thẩm hủy án”.

 

Thông qua công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự phúc thẩm, Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự (Phòng 5) Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng, cần nêu lên để rút kinh nghiệm chung. Cụ thể:

 

Vụ án "Tranh chấp Đòi lại quyền sử dụng đất” giữa:

 

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Tương, sinh năm 1958.

 

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Giao, sinh năm 1938.

 

Cùng địa chỉ: Áp Phú Trường, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

 

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thị Hẩn, sinh năm 1955.

 

Địa chỉ: Ấp Phú Trường, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

 

* Nội dung vụ án:

 

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn về nguồn gốc đất tranh chấp của ông Nguyễn Văn Cho (ông nội) để lại theo trích lục sổ Điền thổ số 151 của xã Phú An, với diện tích ngang 7,2m chạy dài từ sông Cái Vừng vào đồng ruộng. Trong đó, cha của bà được phân chia 1/2 đất, còn lại của cô ruột (Nguyễn Thị Chuyển) đã chết do các con đang thừa hưởng quản lý. Quá trình sử dụng, vào năm 1994 vợ chồng ông Nguyễn Văn Giao, bà Phạm Thị Hẩn có hỏi xin mẹ của bà là bà Nguyễn Thị Rớt cho cất 01 căn nhà ở nhờ trên phần đất có diện tích 209,4m2. Sau khi cha mẹ bà chết, đến tháng 9 năm 2009 bà mới đi kê khai đăng ký thì phát phát hiện trước đó vào năm 2006 vợ chồng ông Giao, bà Hẩn được ủy ban nhân dân huyện Phú Tân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên. Nay yêu cầu ông Giao, bà Hẩn phải tháo dỡ di dời căn nhà và các vật dụng khác ra khỏi nền đất có diện tích 209,4m2để trả lại cho bà. Việc ông Giao, bà Hẩn kê khai đăng ký được cấp giấy đỏ là không đúng. Nếu ông Giao chứng minh được ông là con của ông Tượng (cha ruột của bà) thì bà đồng ý chia cho ông Giao 1/2 phần đất mà bà thừa hưởng.

 

Phía bị đơn ông Nguyễn Văn Giao, bà Phạm Thị Hẩn trình bày: Do ông Giao là con ruột của ông Tượng và là anh cùng cha khác mẹ của bà Tương (có giấy khai sinh). Ông, bà được bà Rớt là mẹ kế cho cất nhà ở trên đất từ năm 1991 có diện tích ngang 7,lm; dài khoảng 29,5m và ở liên tục. Đến năm 2006, ông bà kê khai đăng ký và được ủy ban nhân dân huyện Phú Tân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư số H0543/aC ngày 30/6/2006, với diện tích 209,4m2 do ông bà đứng tên. Không đồng ý trả đất theo yêu cầu của nguyên đơn.

 

Bản án dân sự sơ thẩm số 289/2012/DS-ST ngày 21 và 24/9/2012 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xử: Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim Tương đòi ông Nguyễn Văn Giao và bà Phạm Thị Hẩn trả lại diện tích 209,4m2tại thửa 174 tờ bản đồ số 27, đất tọa lạc tại ấp Phú Trường, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

 

* Những nội dung cần rút kinh nghiệm:

 

- Về thủ tục tố tụng:

 

Nhận thấy năm 2001, con bà Tương là ông Lê Hoàng Nhi tranh chấp phần đất nêu trên với ông Giao, bà Hẩn, đã bị Ủy ban nhân dân huyện Phú Tân ra quyết đinh số 124/QĐ.UB ngày 26/02/2001 bác tư cách tranh chấp đất của ông Nhi và giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông Giao. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa cấp sơ thẩm không đưa ông Lê Hoàng Nhi vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng theo quy đinh tại khoản 4 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Sửa đổi, bổ sung năm 2011).

 

- Về thu thập chứng cứ:

 

Ngày 30/5/2012, nguyên đơn có đơn khởi kiện, ngày 01/6/2012 nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 000793 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Trước đó, vào ngày 08/9/2011 Tòa cấp sơ thẩm đã tiến hành lập biên bản thẩm định tại chỗ; định giá tài sản (bút lục số 69; 70). Ngày 15/9/2011 lập biên bản hòa giải (bút lục số 72; 73) thể hiện nội dung trong biên bản hòa giải có 07 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Trần Thị Lệ Thi, Trần Thanh Tâm, Trần Kim Linh, Trần Thị Ý Nhi, Trần Thị Thanh Thúy, Trần Thị Mỹ Xuyên, Trần Thanh Tuấn (con bà Nguyễn Thị Chuyển) tham gia hòa giải. Nhận thấy Tòa cấp sơ thẩm tiến hành thu thập chứng cứ trước khi thụ lý vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy đinh tại các Điều 89, 92, 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Sửa đổi, bổ sung năm 2011).

 

Do có những vi nhạm trong việc xác định thành phần tham gia tố tụng và thu thập chứng cứ như nêu trên nên cấp phúc thầm đã hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

 

Phòng 5 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang Thông báo để Viện Kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh nghiên cứu rút kinh nghiệm chung nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi