Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh về án hình sự

1. Thông báo số 24/TB-VKSTC-P4 ngày 05/09/2012của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình rút kinh nghiệm về việc kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong công tác kiểm sát thi hành án phạt tù

 

Kính gửi: Các đồng chí Viện trưởng VKSND huyện, thành phố.

 

Trên cơ sở quản lý theo dõi, tổng hợp kết quả công tác kiểm sát thi hành án phạt tù của Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố từ đầu năm 2012 đến nay; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình (Phòng 4) thông báo kết quả kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố trong công tác kiểm sát thi hành án phạt tù như sau:

 

I.  TÌNH HÌNH CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ, KIẾN NGHỊ, YÊU CẦU TRONG CÔNG TÁC KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ

 

Trong thời gian qua, Viện kiểm sát các huyện, thành phố đã có nhiều cố gắng trong việc kiểm sát thi hành án phạt tù. Thông qua công tác kiểm sát thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thành phố đã phát hiện kịp thời những vi phạm của các cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án hình sự và các cơ quan tố tụng có liên quan trong việc thi hành án phạt tù đồng thời ban hành văn bản kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu khắc phục vi phạm và thực hiện việc gửi báo cáo về Phòng 4 Viện kiểm sát tỉnh Thái Bình theo quy định của ngành.

 

Nhìn chung, các kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát các huyện, thành phố đã đảm bảo chất lượng, hình thức và nội dung nên công tác kiểm sát thi hành án phạt tù đạt hiệu quả cao so với trước đây chưa có Luật thi hành án hình sự.

 

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong công tác kiểm sát thi hành án phạt tù của một số Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố vẫn còn những tồn tại cần khắc phục, như sau:

 

1. Về đối tượng

 

Nghiên cứu các văn bản kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của các Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thấy vẫn còn kiến nghị chưa đúng đối tượng, cụ thể như:

 

-    Kiến nghị số 242/KSTHA-KN ngày 20/6/2012 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà kiến nghị Chánh án Toà án huyện Hưng Hà ra văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an Hưng Hà tiến hành áp giải thi hành án đối với 03 bị án bị phạt tù tại ngoại đã có Quyết định thi hành án phạt tù nhưng đã quá thời hạn 07 ngày các bị án không tự giác đi thi hành án và ra Lệnh truy nã đối với 02 bị án bị phạt tù đang tại ngoại trốn thi hành án.

 

Điều 20 Luật thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự rất rõ ràng, cụ thể. Không có Điều, khoản nào trong Luật thi hành án hình sự quy định Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn ra văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án áp giải thi hành án đối với người bị kết án tù đang được tại ngoại và yêu cầu ra quyết định truy nã đối với người trốn thi hành án phạt tù. Như vậy kiến nghị của Viện kiểm sát huyện Hưng Hà kiến nghị Chánh án Tòa án huyện Hưng Hà là không đúng đối tượng. Đối tượng kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát là Cơ quan thi hành án hình sự. Viện kiểm sát huyện Hưng Hà cần áp dụng Điều 141, 143 Luật thi hành án hình sự để yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Hưng Hà áp giải thi hành án đối với người bị kết án tù đang được tại ngoại và lập hồ sơ đề nghị Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã đối với người trốn thi hành án phạt tù theo quy định tại Điều 15 Luật thi hành án hình sự.

 

2. Về nội dung

 

Khi thực hiện việc kiểm sát thi hành quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị kết án tù đang tại ngoại mà bỏ trốn hoặc không chấp hành đúng quy định tại khoản 4 Điều 22 Luật thi hành án hình sự có đơn vị hiểu chưa đầy đủ nội dung điều luật dẫn đến việc ban hành kiến nghị, yêu cầu thiếu chính xác, như:

 

-      Kiến nghị số 242/KSTHA-KN ngày 20/6/2012 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà như nêu trên.

 

-      Yêu cầu ra lệnh bắt bị án đi thi hành án phạt tù số 110/CV-KS ngày 06/4/2012 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình yêu cầu Tòa án thành phố Thái Bình ra lệnh bắt thi hành án đối với bị án Trần Thị Loan vì lý do: Tòa án thành phố Thái Bình đã ra quyết định thi hành án phạt tù nhưng Trần Thị Loan không tự giác đi thi hành án.

 

Tại Điều 8 Chương II Quy chế 807/2007/QĐ-VKSTC ngày 25/7/2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quy định: Trường hợp Công an chậm áp giải, truy nã mà Toà án chưa yêu cầu Công an áp giải, truy nã thì VKS có văn bản kiến nghị với Tòa án đã ra quyết định thi hành án biết, để Chánh án Toà án có văn bản yêu cầu Công an áp giải, truy nã. Như vậy Quy chế chỉ quy định là Công an áp giải, truy nã và cũng không quy định Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra lệnh bắt bị án đi thi hành án.

 

Tại khoản 4 Điều 256 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: Trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn, thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định, thi hành án yêu cầu cơ quan công an cùng cấp ra quyết định truy nã. Nhưng quy định này của Bộ luật tố tụng hình sự lại khác với khoản 6 Điêu 15 Luật thi hành án hình sự và trái với quy định tại khoản 3 Điều 181 Luật thi hành án hình sự. Khoản 3 Điều 181 Luật thi hành án hình sự quy định: " 3. Kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự về thỉ hành án tử hình, thi hành án phạt tù, thi hành án treo, thi hành án phạt cảnh cáo, thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, thi hành án phạt trục xuất, thi hành án phạt quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định có nội dung khác với Luật này thì áp dụng theo quy định của Luật này". Như vậy, đối với người bị kết án tù đang được tại ngoại mà bỏ trốn thi hành án phạt tù thì cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện lập hồ sơ đề nghị Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định truy nã theo quy định tại khoản 6 Điều 15 Luật thi hành án hình sự. Trường hợp người chấp hành hình phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, quá thời hạn trên mà không có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện thì Cảnh sát hỗ trợ tư pháp hoặc Cảnh vệ tư pháp thực hiện việc áp giải thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 22 Luật thi hành án hình sự. Nội dung kiến nghị của Viện kiểm sát huyện Hưng Hà yêu cầu Chánh án Toà án huyện Hưng Hà ra văn bản yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an Hưng Hà ra quyết định truy nã đối với người trốn thi hành án phạt tù và nội dung yêu cầu của Viện kiểm sát thành phố Thái Bình yêu cầu Toà án thành phố Thái Bình ra lệnh bắt bị án đi thi hành án là không đúng quy định của pháp luật.

 

II.    MỘT SỐ YÊU CẦU

 

Để nâng cao chất lượng kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu trong công tác kiểm sát thi hành án phạt tù, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình (Phòng 4) đề nghị đồng chí Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các huyện thành phố chỉ đạo thực hiện một số việc sau:

 

1.     Tổ chức thông báo rút kinh nghiệm tồn tại nêu trên tới tất cả cán bộ, kiểm sát viên làm công tác thi hành án hình sự để nghiên cứu, vận dụng trong quá trình kiểm sát thi hành án phạt tù tại đơn vị trong thời gian tới nhằm đảm bảo tính chính xác, kịp thời, khách quan khi thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của Viện kiểm sát.

 

2.     Luật thi hành án hình sự có nhiều quy định mới thay thế các quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự, trong đó có các văn bản hướng dẫn khác... Do vậy, cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác thi hành án hình sự cần nghiên cứu, nắm chắc các quy định của Luật thi hành án hình sự để vận dụng vào công tác kiểm sát thi hành án hình sự đạt hiệu quả cao./.

 

----------------------------------------

 

 

 

 

 

2. Thông báo rút kinh nghiệm số 946/TB-VKS ngày 16/08/2012 của VKSND tỉnh Hà Nam đối với vụ án Đinh Quang Vinh phạm tội "Giết người” và "Cướp tài sản

 

Ngày 25/7/2012, Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam tổ chức phiên toà xét xử lưu động tại trụ sở UBND thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân vụ án Đinh Quang Vinh phạm tội "Giết người” và "Cướp tài sản”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Viện trưởng, VKSND tỉnh Hà Nam đã triệu tập Lãnh đạo các phòng nghiệp vụ 1, 2, 3 và VKSND huyện, thành phố cùng Kiểm sát viên hai cấp tham dự nhằm đánh giá chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kỹ năng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên toà. Kết thúc phiên toà, VKSND tỉnh đã tổ chức rút kinh nghiệm chỉ rõ những ưu, khuyết điểm của Kiểm sát viên. Cụ thể như sau:

 

1.   Ưu điểm:

 

-   Phần thủ tục phiên toà: Hội đồng xét xử đã thực hiện rất tốt, đảm bảo đúng các quy định của pháp luật như phổ biển Nội quy phiên toà, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, giới thiệu thành phần Hội đồng xét xử, thẩm tra lý lịch bị cáo.

 

-  Kiểm sát viên công bố Cáo trạng: Đọc to, rõ ràng, mạch lạc, tư thế, tác phong đĩnh đạc, đàng hoàng, trang phục chỉnh tề.

 

-  Phần xét hỏi: Kiểm sát viên tích cực tham gia xét hỏi, nghiên cứu nắm chắc hồ sơ nên đặt câu hỏi sát với nội dung vụ án, làm sáng tỏ hành vi phạm tội của bị cáo.

 

-    Phần tranh luận: Kiểm sát viên có sự chuẩn bị chu đáo, viện dẫn đầy đủ chứng cứ và căn cứ pháp luật để đối đáp với luật sư. Phần lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục nên bảo vệ vững chắc quan điểm của Viện Kiểm sát.

 

Nhìn chung,  Kiểm sát viên đã nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm chắc nội dung vụ án, chuẩn bị đề cương xét hỏi, dự kiến những vấn đề cần tranh luận với luật sư và dự thảo bản luận tội nên tại phiên toà có sự chủ động, tích cực, thực hành quyền công tố cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

 

2.   Tồn tại:

 

-     Phần xét hỏi: Kiểm sát viên còn đặt một số câu hỏi trùng, hỏi lại những câu Hội đồng xét xử đã hỏi là không cần thiết,

 

-    Bản luận tội: Bị cáo phạm hai tội: "Giết người” và "Cướp tài sản” nhưng chưa đánh giá chứng cứ mạch lạc, rõ ràng đối với từng tội, chưa nêu cụ thể từng hành vi phạm tội đã xâm phạm đến khách thể nào được pháp luật bảo vệ, Luận tội đã đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, bảo vệ quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo là vị thành niên (khi phạm tội, bị cáo chưa đủ 15 tuổi) nên nhận thức và hiểu biết còn hạn chế, nhưng luận tội chưa phân tích được nội dung này.

 

Tính tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật chưa cao. Trong vụ án này, ngoài việc bị cáo có hành vi trái pháp luật còn có yếu tố trái luân thường, đạo lý: Cháu giết bà nội là người thân thích, trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc bị cáo nhưng luận tội chưa nêu bật được tính trái đạo đức xã hội, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, báo động về tình trạng đạo đức xuống cấp và sự cần thiết phải phối hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong việc quản lý, giáo dục con trẻ.

 

Trên đây là một số vấn đề cần rút kinh nghiệm qua công tác thực hành quyền công tố và kiếm sát xét xử tại phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp. VKSND tỉnh Hà Nam thông báo để VKSND các huyện, thành phố nắm được./.

 

 --------------------------------------------

 

3. Thông báo số 222/TB.VKS-P3 ngày 15/10/2012 của VKSND tỉnh Sóc Trăng rút kinh nghiệm vụ Lê Văn Cơ về " Tội cố ý gây thương tích”.

 

Vào ngày 07/9/2012 Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã xét xử phúc thẩm vụ án Lê Văn Cơ về "Tội cố ý gây thương tích”. Qua vụ án này, Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự xét thấy cần thông báo rút kinh nghiệm chung để tránh những sai sót tương tự xảy ra.

 

1. Nội dung yụ án:

 

Vào ngày 14/10/2011 do lời qua tiếng lại với nhau, bị cáo Lê Văn Cơ dùng tay đánh bị hại Nguyễn Văn Bảy nhiều cái gây thương tích, làm tổn hại sức khỏe 01% và đánh nhiều cái vào người bị hại Hồ Thị Loan gây thương tích làm tổn hại sức khỏe 12 %, sẹo ảnh hưởng trung bình thẩm mỹ vùng mặt.

 

2. Quá trình truy tố, xét xử:

 

Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách truy tố Lê Văn Cơ về "Tội cố ý gây thương tích" theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự.

 

Tòa án nhân dân huyện Kế Sách tuyên bố bị cáo Lê Văn Cơ phạm "Tội cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự và cho rằng Hồ Thị Loan bị tổn hại sức khỏe 12% và sẹo ảnh hưởng trung bình thẩm mỹ vùng mặt là tình tiết định khung hình phạt theo điểm b khoản 1, 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

 

Ngày 26/7/2012 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án, áp dụng khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

 

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm

 

sát sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

 

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm từ vụ án:

 

Khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự quy định "... hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này...". Thế nhưng, theo Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì "Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân" là hậu quả của hành vi gây thương tích để lại trạng thái bất thường, không thể chữa được cho một bộ phận cơ thể của nạn nhân với tỷ lệ thương tật dưới 11%. Như vậy, tỷ lệ thương tật của nạn nhân trên 11% thì không coi là "Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân", Trường hợp trên, Lê Văn Cơ không phạm vào khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

 

Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã làm tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm của mình theo tinh thần Chỉ thị 03 của Viện KSND Tối cao và đã kịp thời phát hiện vi phạm của Toà án cùng cấp, để ban hành kháng nghị phúc thẩm và được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị.

 

Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự thông báo để các Viện kiểm sát huyện, thị, thành phố trong tỉnh biết cùng rút kinh nghiệm chung.

---------------------------------------------

4. Thông báo số 226/TB.VKS-P3 ngày 16/10/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Văn Tính và Đặng Long Phi về "Tội mua bán trái phép chất ma túy"

 

Vào ngày 21/9/2012 Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã xét xử phúc thẩm vụ án Nguyễn Văn Tính và đồng phạm về "Tội mua bán trái phép chất ma túy”. Qua vụ án này, Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự xét thấy cần thông báo rút kinh nghiệm chung để tránh những sai sót tương tự xảy ra.

 

1 /- Nội dung vụ án:

 

Trước khi bị bắt khoảng một tuần, Tính và Phi hùn nhau mỗi người 600.000 đồng, Phi giao cho Tính đi thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy. Khi có được ma túy Tính và Phi phân ra được 15 tép, Phi bán cho Tuấn, Tú và 03 người nữa không biết tên được 06 tép còn lại 09 tép. Đến ngày 06/3/2012 Tính kêu Phi đưa tiền để mua thêm ma túy về bán, Phi đưa cho Tính 1.000.000 đồng tiền bán ma túy lần trước, Tính lấy tiền đi thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về Tính và Phi phân ra 16 tép giao hết cho Phi, tổng cộng số ma túy mới và cũ Phi cất giữ là 25 tép.

 

Sáng ngày 08/3/2012 Phi bán cho Nguyễn Hoàng Phi 02 tép. Đến khoảng 08 giờ ngày

 

8/3/2012 Phi bán cho Lê Minh Trang 01 tép với giá 200.000 đồng, khoảng 01 tiếng (tức 09 giờ cùng ngày) Phi bán tiếp cho Nguyễn An Quang Vũ 01 tép với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày Phi tiếp tục bán cho Phùng Văn Điền 01 tép với giá 200.000 đồng. Đến 12 giờ cùng ngày, Đặng Long Phi đang tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan chức năng đến bắt quả tang.

 

2/- Quá trình xét xử:

 

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; Điều 20; Điều 53; điểm p khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tính từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù và Đặng Long Phi từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

 

Bản án sơ thẩm số 18/2012/HSST ngày 27/7/2012 của Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điều, khoản như Kiểm sát viên đề nghị. Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn Tính 04 năm tù và tuyên phạt Đặng Long Phi 03 năm 06 tháng tù.

 

Ngày 22/8/2012 Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kháng nghị một phần bản án số 18/2012/HSST ngày 27/7/2012 của Tòa án cấp sơ thẩm theo hướng áp dụng điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với hai bị cáo.

 

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự tăng hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự và tăng hình phạt đối với hai bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tính 07 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Đặng Long Phi 07 năm tù.

 

3/- Vấn đề cần rút kinh nghiệm từ vụ án:

 

Viện kiểm sát truy tố và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn Tính và Đặng Long Phi về "Tội mua bán trái phép chất ma túy” là đúng tội.

 

Tuy nhiên, qua lời khai của cả hai bị cáo Tính và Phi đều giống nhau là hùn tiền nhau, hai lần mua ma túy về phân ra bán cho các con nghiện. Lần thứ nhất mua ma túy về phân ra 15 tép bán cho Tuấn, Tú và 03 người khác không biết tên. Lần thứ hai mua ma túy về cả hai phân ra thành 16 tép giao cho Phi cất giữ. Đến sáng ngày 08/3/2012 bán cho Nguyễn Hoàng Phi 02 tép, khoảng 08 giờ ngày 08/3/2012 bán cho Lê Minh Trang 01 tép, khoảng 09 giờ ngày 08/3/2012 bán cho Nguyễn An Quang Vũ 01 tép và đến khoảng 10 giờ ngày 08/3/2012 bán cho Phùng Văn Điền 01 tép. Lê Minh Trang, Nguyễn An Quang Vũ, Phùng Văn Điền cũng đều khai có mua ma túy như lời khai của hai bị cáo.

 

Lẽ ra, cấp sơ thẩm phải truy tố và xét xử hai bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự mới đúng với hành vi phạm tội của hai bị cáo. Nhưng lại truy tố và xét xử hai bị cáo theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự là không chính xác. Từ đó, dẫn đến tuyên phạt hai bị cáo với mức hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với hành vi phạm tội của hai bị cáo gây ra.

 

Viện KSND tỉnh Sóc Trăng kháng nghị sửa án sơ thẩm và được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận tăng hình phạt đối với hai bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tính 07 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Đặng Long Phi 07 năm tù.

Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thông báo để các huyện, thành phố biết cùng rút kinh nghiệm chung.
----------------------------------------

5. Thông báo rút kinh nghiệm số 03/TB.VKS-P3 ngày 05/01/2013 của VKSND tỉnh Sóc Trăng rút kinh nghiệm vụ án Hàng Minh Thế phạm tội " Cố ý gây thương tích”

Vào ngày 19/12/2012 Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã xét xử phúc thẩm vụ án Hàng Minh Thế về tội "Cố ý gây thương tích”. Qua vụ án này, Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự xét thấy cần thông báo rút kinh nghiệm chung để tránh những sai sót tương tự xảy ra.

1. Nội dung vụ án:

Khoảng 21 giờ ngày 18/4/2011, sau khi nghỉ uống rượu Hàng Minh Thế về nhà lấy một cây dao tự chế dài 79 cm đến chòi của ông Lâm Thành(Sóc) ngụ cùng ấp chém ông Thành. Trên đường đi Thế dùng dao chặt phá 02 cây chuối của ông Thành rồi đi đến chòi của ông Thành nhìn vào. Ông Thành nằm trong mùng nghe có tiếng người la ở bên ngoài, ông Thành liền dỡ mùng ra nhìn bên vách trái nhưng không thấy ai nên đi đến gần cánh cửa chính khoảng 45 cm khom người nhìn ra ngoài thì bị Thế dùng tay trái cầm dao chém trúng ngực phải của ông Thành một cái, ông Thành chụp lấy cây tre khô dài khoảng 60 cm đánh lại Thế thì Thế liền dùng dao chém trúng vào đầu của ông Thành một cái nữa rồi tiếp tục chém thêm cái thứ ba thì ông Thành đưa tay trái lên đỡ nên bị trúng cẳng tay một cái.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 182/TgT.PY ngày 10/6/2011 của Trung tâm giám định Y khoa và Pháp y tỉnh Sóc Trăng kết luận thì thương tích của ông Lâm Thành do Hàng Minh Thế chém gây ra ở đỉnh trán trái có tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 07%, ở ngực phải có tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 35%, ở cẳng tay trái có tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 08%.

2. Quá trình xét xử:

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm b, n, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Hàng Minh Thế từ 02 năm đến 03 năm tù.

Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2012/HSST ngày 21/9/2012 của TAND huyện Mỹ Tú tuyên bố bị cáo Hàng Minh Thế phạm vào tội "Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, n, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Tuyên phạt bị cáo Hàng Minh Thế 02 năm tù. Ngoài ra bản án còn tuyên các vấn đế có liên quan khác.

Ngày 06/10/2012 bị hại Lâm Thành kháng cáo yêu cầu bị cáo Hàng Minh Thế bồi thường các khoản tiền điều trị, giám định, tiền bù đắp tổn thất về tinh thần, tiền bồi dưỡng sức khỏe, tiền công lao động... với tổng số tiền là 28.074.424 đồng. Ngày 22/10/2012 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-KNPT đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ vụ án cho cấp sơ thẩm điều tra lại theo hướng làm
rõ thương tích 35% ở ngực phải của bị hại Lâm Thành có phải do bị cáo Hàng Minh Thế gây ra hay không. Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên cho rằng: Theo kết luận giám định pháp y xác định bị hại Lâm Thành có 01 vết thương ở ngực phải, còn bị cáo Thế thì khai dùng dao chém trúng vào hông bên phải của bị hại, mâu thuẫn này chưa được làm rõ. Ngoài ra cấp sơ thẩm không xác định vết thương ở ngực phải của bị hại do ai gây ra. Từ việc cấp sơ thẩm chưa điều tra đầy đủ nên cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Hàng Minh Thế phạm tội "Cố ý gây thương tích" quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự là không chính xác. Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra lại. Hội đổng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên. Áp dụng Điều 250 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy toàn bộ bản án số 13/2012/HSST
ngày 21/9/2012 của Tòa án cấp sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra lại theo thủ tục chung.

3. Vấn đề cần rút kinh nghiệm từ vụ án:

Bị hại Lâm Thành là người già nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội đối với người già" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Thế là người bị khuyết tật, bị cáo có ông Hàng Kên là cha ruột của bị cáo nhưng cấp sơ thẩm không đưa ông Hàng Kên tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị cáo Thế. Mà đưa bà Hàng Thị Si Thal là chị của bị cáo tham gia tố tụng là người đại diện hợp pháp cho bị cáo là chưa phù hợp với pháp luật, vì ông Kên là người có nghĩa vụ quản lý và chịu trách nhiệm dân sự đối với hành vi của bị cáo gây ra, nên khi quyết định về trách nhiệm dân sự cấp sơ thẩm không buộc người đại diện hợp pháp của bị cáo liên đới bồi thường cho người bị hại là chưa đúng pháp luật. Trong quá trình điều tra, bị hại khai có Hàng Sà Khol là anh ruột của bị cáo tham gia cùng bị cáo gây thương tích cho bị hại nhưng cấp sơ thẩm không triệu tập ra tòa để làm rõ việc Hàng Sà Khol có phạm tội cùng bị cáo hay không, là vi phạm. Phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sầt xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Hình sự thông báo đến Viện kiểm sát nhân dân các huyện, thị xã, thành phố biết để cùng rút kinh nghiệm chung.

 --------------------------------------------

6. Thông báo rút kinh nghiệm số 07 TB/VKS-P3 ngày 18/12/2012 của VKSND tỉnh Quảng Ninh rút kinh nghiệm vụ án hình sự Phạm Văn Khánh phạm tội " cướp tài sản và trộm cắp tài sản”.

I. Nội dung vụ án như sau:

Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 11/4/2012, Phạm Văn Khánh, Phạm Văn Hoành (Ba), Phạm Văn Điền và Lương Văn Tùng bàn nhau vào Công ty cổ phần Thạch Bàn, Yên Hưng thuộc xóm Giếng Đá, xã Tiền An, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh để lấy trộm giàn giáo bằng sắt. Khánh điều khiển xe mô tô BKS - 14B8 - 604.29 chở Điền, Hoành điều khiển xe mô tô YAMAHA - SIRIUS không BKS, chở Tùng đến khu vực vườn cây Bạch Đàn cách khu xưởng sản xuất của Công ty gạch Thạch Bàn Yên Hưng khoảng 500 mét để xe ở đó. Hoành phân công Điền ở ngoài trông xe còn Khánh, Hoành và Tùng đi bộ vào công ty lấy trộm được ba bộ giàn giáo khênh ra chỗ Điền để, sau đó Khánh, Hoành và Tùng tiếp tục vào lấy trộm giàn giáo. Khi Hoành đang rút giàn giáo thì bị anh Phạm Hữu Hạnh là bảo vệ công ty phát hiện và ngăn không cho Hoành cùng đồng bọn lấy trộm giàn giáo. Hoành chửi và nói anh Hạnh "Để chúng tao lấy mấy bộ, sáng mai tao nói chuyện với mày" anh Hạnh không đồng ý, Tùng cầm gạch định ném anh Hạnh thì Khánh ngăn lại. Sau đó anh Hạnh thấy ông Nguyễn Công Khanh cùng là bảo vệ trực ca với anh Hạnh và anh Bùi Văn Trường làm đốc công ở cách đó khoảng 30 mét thì anh Hạnh đi xuống, đến nói với ông Khanh có bọn trộm cắp giàn giáo và bảo ông Khanh giải quyết còn anh Hạnh đi ăn cơm, lúc đó Hoành đã lấy được ba bộ giàn giáo nữa. Khi ông Khanh đến trèo lên đống giàn giáo bấm đèn quát đứng lại bỏ xuống; thì có hai thanh niên đứng cầm gạch giơ lên và đe dọa ông Khanh và nói "Ông kia im mồm đi, tắt đèn nhanh có muốn chết không”, ông Khanh tắt đèn sau đó lại bật đèn lên thì bị ném nhưng không trúng. Ông Khanh đến nói với anh Trường bọn nó hung hăng lắm thì anh Trường có lấy điện thoại ra để gọi, nhưng không biết gọi cho ai, sau đó anh Trường đi thắng ra nhà để xe còn lại ông Khanh không dám ngăn cản nữa. Hoành cùng đồng bọn mang 06 bộ giàn giáo đến bán cho anh Đinh Văn Hải được l.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng ). Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TX Quảng Yên kết luận 06 bộ giàn giáo trị giá 4.212.024 đồng.

Cáo trạng số 59/11.10.2012, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên - truy tố: Phạm Văn Khánh, Phạm Văn Điền - về tội "Cướp tài sản

Ngày 28/11/2012, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đưa vụ án ra xét xử, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 133 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn Khánh 04 năm tù về

tội"Cướp tài sản Áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS xử phạt bị cáo Phạm Văn Điền, 12 tháng tù, về tội "Trộm cắp tài sản”,

II. Những vấn đề cần rút kinh nghiệm

Hành vi của Phạm Văn Khánh, Phạm Văn Hoành, Lương Văn Tùng vào khu xưởng sản xuất của Công ty gạch Thạch Bàn Yên Hưng, trộm cắp được 03 bộ giàn giáo bằng sắt, trị giá 2.100.000đ rồi cùng nhau đưa ra nơi Phạm Văn Điền đứng trông xe ở khu vực vườn cây bạch đàn cách khoảng 500 mét, hành vi này của Khánh và đồng phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản”.

Khi Phạm Văn Hoành, Phạm Văn Khánh, Lương Văn Tùng, tiếp tục vào khu xưởng sản xuất của Công ty gạch Thạch Bàn Yên Hưng để trộm cắp (lần hai), bị các anh Phạm Hữu Hạnh, Nguyễn Công Khanh là bảo vệ công ty phát hiện, ngăn cản, không cho Khánh cùng đồng bọn lấy giàn giáo, thì bị Hoành cùng đồng bọn, chửi, đe dọa và cầm gạch ném làm ông Khanh không dám ngăn cản. Khánh cùng đồng bọn tiếp tục lấy đi 03 bộ giàn giáo đưa ra chỗ Điền rồi cùng nhau đưa đi tiêu thụ. Hành vi đe dọa và dùng gạch đáp, tấn công làm cho người trông coi tài sản, tê liệt ý chí, nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:"Cướp tài sản"

Sau khi phạm tội Phạm Văn Hoành và Lương Văn Tùng bỏ trốn khỏi địa phương. CQ ĐT đã truy nã, tách ra xử lý sau.

Với nội dung trên, hành vi của Phạm Văn Khánh, Phạm Văn Hoành và Lương Văn Tùng phải bị xử lý về 2 tội "Cướp tài sản” và "Trộm cắp tài sản”; Hành vi phạm tội của Phạm Văn Điền, phải bị xử lý về tội "Trộm cắp tài sản”. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên chỉ truy tố Phạm Văn Khánh về tội "Cướp tài sản” là bỏ lọt hành vi "Trộm cắp tài sản”, lọt người, lọt tội; Truy tố Phạm Văn Điền về tội "Cưóp tài sản” là không đúng tính chất hành vi phạm tội của Điền. Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên xử phạt bị cáo Phạm Văn Điền, phạm tội "Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật

Vụ án trên lẽ ra phải kháng nghị phúc thẩm, đề nghị Hủy án để điều tra, truy tố, xét xử lại, nhưng xét thấy mức hình phạt đã tuyên đối với phạm Văn Khánh là phù hợp nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh không kháng nghị đối với Bản án.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh thông báo để các đơn vị cùng rút kinh nghiệm và yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tổ chức kiểm điểm nghiêm túc, làm rõ trách nhiệm cá nhân và có biện pháp khắc phục, không để các trường hợp tương tự xảy ra../.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi