Về các tội phạm ma túy (phần II)

1. Thông báo rút kinh nghiệm vụ án Nguyễn Đức Cường phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý”

 

Nguồn: Thông báo số 162/VKSTC-VPT2 ngày 17/04/2012

 

Thông qua công tác kháng nghị phúc thẩm, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm đối với vụ án Nguyễn Đức Cường phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng thấy cần thông báo đến các Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu rút kinh nghiệm trong việc áp dụng tình tiết " phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự và tình tiết "khắc phục hậu quả" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự .

 

Nội dung vụ án

 

Theo nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm thì hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức Cường được xác định như sau:

 

Vào khoảng 7 giờ ngày 17- 11 -2010, Văn Hữu Lương đến bến xe trung tâm thành phố Q nhận thùng hàng tại xe ô tô khách mang biển số 53S-5781 thì bị lực lượng phòng chống ma tuý Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang, bên trong thùng có chứa 3,6725 gam Heroin. Số Heroin này, Lượng khai mua của Nguyễn Đức Cường ở thành phố Hồ Chí Minh để sử đụng và ban lại cho các người nghiện ma túy.

 

Quá trình điều tra Văn Hữu Lương còn khai nhận, trong năm 2009 Lương đã 4 lần chuyển cho Nguyễn Đức Cường 7.000.000 đồng để Cường mua cho Lương 7,3125 gam Heroin. Số lượng 7,3125 gam Heroin này Lương sử dụng cho bản thân và bán lại cho các người nghiện, thu lợi bất chính 8.000.000đ. Nhưng Nguyễn Đức Cường không thừa nhận việc bán 7,3125 gam Heroin trên cho Lương.

 

Ngày 12-01-2011, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Đức Cường và khám xét thu giữ 2 cục Heroin có trọng lượng 0,861 gam, Cường khai nhận số lượng 0,861 gam Heroin này là Cường mua để bán lại cho các người nghiện ma túy. Ngoài ra, Cường còn thừa nhận vào ngày 15-11-2010, Lương chuyển 3.200.000 đồng vào tài khoản của Võ Nguyễn Hoàng Oanh ( Vợ Cường) để mua Heroin. Sau khi nhận được tiền, Cường đã mua 3,6725 gam Heroin của một người không rõ họ tên tại quận 1, thành phố Hồ Chí Minh với giá 3.000.000đồng, bán lại cho Lương với giá 3.200.000 đồng và gửi theo xe ô tô.

 

Vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm

 

- Vi phạm trong việc kết luận trọng lượng Heroin do bị cáo Cường mua bán trái phép: Quá trình điều tra kết luận trọng lượng Heroin mà bị cáo Cường mua bán trái phép là 4,5335 gam, bao gồm: 3,6725 gam Heroin bị cáo Cường bán cho Văn Hữu Lương bị bắt quả tang ngày 17-11-2010 và 0,861 gam Heroin thu giữ khi bắt khẩn cấp bị cáo Cường vào ngày 12-01 -2011 . Nhưng cáo trạng và bản án sơ thẩm chỉ kết luận và buộc bị cáo Cường chịu trách nhiệm hình sự đối với trọng lượng 3,6725 gam Heroin, còn 0,861 gam Heroin thì không buộc bị cáo Cường phải chịu thách nhiệm hình sự là bỏ lọt hành vi phạm tội này.

 

Để khắc phục vi phạm này, thì buộc bị cáo Cường phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng Heroin của 02 lần cộng lại là 4,5335 gam (3,6725g + 0,861g), đồng thời áp dụng tình tiết đình khung " Phạm tội nhiều lần" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS đối với bị cáo Cường.

 

- Vi phạm trong việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 và Điều 47 BLHS: Bị cáo Cường bán 3,6725 gam Heroin cho Văn Hữu Lương thu lợi bất chính 200.000 đồng. Ngày 29-6-2011 bị cáo Cường nộp 200.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh để bảo đảm thi hành án. Nhưng bàn án sơ thẩm lại nhận định việc bị cáo Cường nộp 200.000đ là tự nguyện khắc phục nộp tiền do phạm tội mà có và đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS để giảm mức án cho bị cáo Cường.

 

Việc bản án sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS cho bị cáo Cường là không đúng, bởi lẽ: Tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS là " Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả" do hành vi phạm tội của họ gây ra. Còn việc bị cáo Cường nộp 200.000 đồng là nộp số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có, khoản tiền này, theo qui định tại điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS là bị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

 

Như vậy, việc bản án sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS và Điều 47 BLHS để xử phạt bị cáo Cường mức án được mức thấp nhất của khung hình phạt là không đúng pháp luật. ..

 

- Vi phạm nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự: Bị cáo Cường đã có 4 tiền án, trong đó tiền án lần thứ 4 là phạm tội "mua bán trái phép chất ma túy” bị xử phạt 07 năm tù và chưa xóa án, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Như vậy, thể hiện bị cáo Cường không có ý thức tu dưỡng rèn luyện sau khi phạm tội, không tôn trọng pháp luật và không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Nhưng bản án sơ thẩm không cân nhắc xem xét vấn đề này, mà quá nhấn mạnh tình tiết giảm nhẹ nên chỉ xử phạt bị cáo Cường 6 năm 6 tháng tù là quá nhẹ (khung hình phạt tại khoản 2 Điều 194 BLHS là từ 7 năm tù đến 15 năm tù), không có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo vả răn đe phòng ngừa tội phạm, không phù hợp với nguyên tắc xử lý nghiêm trị người tái phạm nguy hiểm quy định tại Điều 3 BLHS.

 

Những vấn đề cần rút kính nhiệm

 

- Đối với tình tiết "phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự: Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, cũng như kiểm sát xét xử cần nắm vững tình tiết định khung hình phạt "phạm tội nhiều lần" được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT ngày 24-12-2007 của Bộ Công an- Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Toà án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về áp dụng một số quy định tại Chương XVIII " Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999  đó là " Tình tiết phạm tội nhiều lần được hiểu là đã có từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần mua bán trái phép chất ma tuý trở lên) mà mỗi lần phạm tội có đủ yếu tố cấu thành tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự, đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong trường họp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma tuý cua các lần cộng lại ".

 

- Bản án sơ thẩm áp dụng không đúng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và áp dụng không đúng Điều 47 Bộ luật hình sự, dẫn đến việc xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự, nhưng Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử không phát hiện được vi phạm này để báo cáo lãnh đạo Viện kháng nghị phúc thẩm là thiếu sót cần rút kinh nghiệm.

 

Đây là kinh nghiệm tốt trong công tác kiểm sát bản án sơ thẩm và kháng nghị phúc thẩm án hình sự. Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng thông báo để Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu nhằm áp dụng đúng đắn pháp luật trong quá trình giải quyết các tội phạm về ma tuý.

---------------------------------

 

 2. Thông báo rút kinh nghiệm vụ Lê Văn Minh phạm tội "Tàng trữ trải phép chất ma tuỷ” ở Phú Thọ

 

Nguồn : Thông báo rút kinh nghiệm số 134/TB-VKSTC-VPT1 ngày 12/06/2012

 

Lê Văn Minh là phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ về các tội giết người và trốn khỏi nơi giam. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 15 tháng 4 năm 2011, qua kiểm tra cán bộ trại giam đã phát hiện bắt quả tang Minh đang tàng trữ trái phép trên người 01 gói hêrôin qua giám định có trọng lượng là 2,17 gam. Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Lê Văn Minh chấp hành hình phạt tù chung thân của bản án hình sự sơ thẩm số 42/HSST ngày 27/03/1996 của Toà án nhân dân tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang), ngày 05/01/2010 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù chung thân cho Minh xuống 20 năm tù, ngày 12/01/2011 Minh tiếp tục được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù 06 tháng.

 

Án sơ thẩm áp dụng khoản 1 điều 194, điều 45; khoản 2 điều 46; điểm g khoản 1 điều 48; điều 50; khoản 2 điều 51 BLHS xử phạt Lê Văn Minh 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp với phần còn lại chưa chấp hành của bản án số 42/HSST ngày 27/03/1996 là 18 năm 02 tháng 20 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 năm 02 tháng 20 ngày, thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2011.

 

VKS nhân dân tỉnh Phú Thọ đã kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về quyết định tổng hợp hình phạt.

 

Trong vụ án này, thời gian thực tế Lê Văn Minh đã chấp hành hình phạt tù là từ thời điểm bị cáo chấp hành bản án số 42/HSST ngày 27/3/1996. Tính đến thời điểm bị bắt tạm giam ngày 25/5/2011 vì phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Lê Văn Minh còn chưa chấp hành hình phạt của bản án nêu trên là 3 năm 07 tháng 20 ngày tù. Toà cấp sơ thẩm nhận định thời gian thực tế Lê Văn Minh đã chấp hành án là từ thời điểm được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù chưng thân xuống 20 năm tù để tổng hợp hình phạt là chưa chính xác.Toà cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, sửa án sơ thẩm. Áp dụng điều 51 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 03 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” buộc Lê Vãn Minh phải chấp hành hình phạt chung là 06 năm 07 tháng 20 ngày tù.Thời hạn tù tính từ ngày 25/5/2011.

--------------------------------

 

3. Thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kháng nghị phúc thẩm và vấn đề áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

Nguồn: Thông báo số 644/TB-VKSTC-VPT2 ngày 12/11/2012

Thông qua công tác thực hành quyền công tố và kiếm sát xét xử phúc thẩm đối với vụ án Nguyễn Thanh Hải và đồng bọn phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”, và vụ án Đặng Văn Tí và đồng bọn phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý”. Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng (Viện phúc thẩm 2 ) thấy cần thông báo rút kinh nghiệm trong công tác kháng nghị phúc thẩm và vấn đề áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.

l.Vụ án Nguyễn Thanh Hải và đồng bọn phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”:

1.1- Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Từ tháng 5/2011 đến tháng 9/2011, bị cáo Nguyễn Thanh Hải nhiều lần đi ra thành phố Đà Nẵng mua Hêrôin đem vào thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bán cho bị cáo Đặng Thanh Phong 02 lần 1,209 gam Hêrôin và giao cho bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền bán cho các đối tượng nghiện ma tuý tại Quy Nhơn 39 lần tổng cộng 10,741 gam Hêrôin. Tổng cộng số lượng Hêrôin bị cáo Hải bán là 11,950 gam thu lợi bất chính 27.350.000 đồng, bị cáo Hụyền thu lợi bất chính 1.700.000 đồng.

Sau khi mua Hêrôin của bị cáo Hải và bị cáo Huyền, thì bị cáo Đặng Thanh Phong đã bán cho các đối tượng nghiện ma tuý 37 lần 60 gói Hêrôin, trọng lượng 5,5 gam.

Bị cáo Đào Thị Thuỳ Dung mua 3,72 gam Hêrôin của bị cáo Huyền, sau đó bán cho bị cáo Phạm Minh Dương 30 lần 40 gói, trọng lượng 3,72 gam, thu lợi bất chính 6.000.000 đồng.

Bị cáo Phạm Minh Dương, sau khi mua Hêrôin của bị cáo Huyền và bị cáo Dung đã bán lại cho các đối tượng nghiện ma tuý 47 lần 51 gói, trọng lượng 4,743 gam, thu lợi bất chính 2.000.000 đồng.

Ngoài ra vào ngày 10-9-2011, bị cáo Dương và bị cáo Dung đang thực hiện mua bán 3,481 gam Hêrôin thì bị bắt quả tang.

*Tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2012/HSST ngày 27-6-2012 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định, quyết định: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

-Áp dụng điểm b, h, p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh Hải 13 năm tù.

-Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền 07 năm tù, bị cáo Đặng Thanh Phong 07 năm tù.

-Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Dương 05 năm tù, bị cáo Đào Thị Thuỳ Dung 02 năm 06 tháng tù.

*Kháng nghị phúc thẩm số 316/QĐ-KNPT ngày 23-7-2012 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao uỷ quyền cho Viện trưởng Viện phúc thẩm 2 ký ban hành, kháng nghị phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung tại bản án hình sự sơ thẩm số 18/2012/HSST ngày 27-6-2012 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định. Đề nghị Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm để:

-Xử tăng hình phạt tù đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung.

-Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung mỗi bị cáo từ mười triệu đồng đến hai mươi triệu đồng.

*Tại bản án hình sự phúc thẩm số 334/2012/HSPT ngày 21-9-2012 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, sửa án sơ thẩm, xử phạt: bị cáo Nguyễn Thanh Hải 14 năm tù; các bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong mỗi bị cáo 08 năm tù; bị cáo Phạm Minh Dương 06 năm tù; bị cáo Đào Thị Thuỳ Dung 03 năm 06 tháng tù ( xử tăng mỗi bị cáo 01 năm tù); đồng thời áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bằng phạt tiền: bị cáo Nguyễn Thanh Hải 15.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung mỗi bị cáo 10.000.000 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

1.2 Những vấn đề cần rút kinh nghiệm thông qua vụ án này

Đây là vụ án rất nghiêm trọng, các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung thực hiện hành vi phạm tội với nhiều tình tiết định khung tăng nặng (phạm tội nhiều lần, hêrôin có trọng lượng từ 5 gam đến dưới 30 gam) quy định tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Thanh Hải mua bán trái phép Hêrôin nhiều lần tổng cộng 11,950 gam, thu lợi bất chính 29.050.000 đồng, bị cáo đã có 5 tiền án và 3 tiền sự, phạm tội lần này thuộc trường hợp "tái phạm nguy hiểm”.

Các bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung mua bán trái phép Hêrôin nhiều lần với số lượng trên 5gam; trong đó: Nguyễn Xuân Cao Huyền thu lợi bất chính 1.700.000 đồng. Phạm Minh Dương thu lợi bất chính 2.000.000 đồng, Đào Thị Thuỳ Dung thu lợi bất chính 6.000.000 đồng.

Tuy vậy, khi cân nhắc xem xét để áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử sơ thẩm quá nhấn mạnh các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng nên xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Hải 13 năm tù, các bị cáo Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong mỗi bị cáo 07 năm tù, bị cáo Phạm Minh Dương 05 năm tù, bị cáo Đào Thị Thuỳ Dung 02 năm 06 tháng tù là quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả xấu nhiều mặt do các bị cáo gây ra, không có tác dụng cải tạo giáo dục các bị cáo cũng như răn đe, phòng ngừa tội phạm; ngoài ra, bản án sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung đối vói bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung là thiếu sót, chưa thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Việc bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo mức án nhẹ và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý đang diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng như hiện nay; đồng thời, không thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 01/2005/CT-TA ngày 30-8-2005 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về công tác đấu tranh đối với một số tội phạm gây bức xúc trong tình hình hiện nay, trong đó có các tội phạm về ma tuý như: sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý.

Chỉ thị số 01/2005/CT-TA ngày 30-8-2005 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao yêu cầu: " đối với các tội phạm về ma tuý, khi xét xử các Toà án áp dụng hình phạt nghiêm khắc theo khung hình phạt mà điều luật đã quy định; khỉ xét xử mà theo quy định của Bộ luật hình sự có thể áp dụng hình phạt bổ sung thì kiên quyết áp dụng, đặc biệt là đối với những người phạm các tội ma tuý.

Để khắc phục những vi phạm thiếu sót nêu trên của bản án sơ thẩm, Viện trưởng Viện phúc thẩm 2 thừa uỷ quyền của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao đã kịp thời kháng nghị phúc thẩm tăng hình phạt tù và áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thanh Hải, Nguyễn Xuân Cao Huyền, Đặng Thanh Phong, Phạm Minh Dương, Đào Thị Thuỳ Dung; và đã được Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng chấp nhận toàn bộ kháng nghị.

2.Vụ án Đặng Văn Tí và đồng bọn phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”

2.1Nội dung vụ án và quá trình tố tụng

Trong tháng 10 năm 2011, các bị cáo Đặng Văn Tí, Bùi Duy Minh mua 04 lần Hêrôin tổng cộng 6,0444 gam từ thành phố Hồ Chí Minh đem ra thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định bán cho nhiều đối tượng nghiện hút ma tuý tổng cộng 5,6304 gam Hêrôin và bị bắt giữ 0,2208 gam Hêrôin. Đăng Văn Tí thu lợi bất chính 6.800.000 đồng, Bùi Duy Minh thu lợi bất chính 15.050.000 đồng.

*Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2012/HSST ngày 31-7-2012 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định, xử phạt: bị cáo Đăng Văn Tí 10 năm tù, bị cáo Bùi Duy Minh 05 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự phạt bố sung các bị cáo Đặng Văn Tí, Bùi Duy Minh mỗi bị cáo 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

* Trong hạn luật định bị cáo Đặng Văn Tí kháng cáo xin giảm hình phạt, đại diện hợp pháp của bị cáo Bùi Duy Minh kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo Minh.

*Tại phiên toà phúc thẩm ngày 28-9-2012, Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên hình phạt tù của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Văn Tí, Bùi Duy Minh; sửa một phần bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, xử bị cáo Bùi Duy Minh không phải chịu hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

*Tại bản án hình sự phúc thẩm số 337/2012/HSPT ngày 28-9-2012 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên hình phạt tù của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo Đặng Văn Tí, Bùi Duy Minh; sửa một phần bản án sơ thẩm, áp dụng khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, xử bị cáo Bùi Duy Minh không phải chịu hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

2.2 Vấn đề cần rút kinh nghiệm thông qua vụ án này

Việc Toà án sơ thẩm áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo Bùi Duy Minh là vi phạm khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự, bởi lẽ: khi phạm tội bị cáo Bùi Duy Minh là người chưa thành niên. Khoản 5 Điều 69 Bộ luật hình sự quy định ... "không áp dụng hình phạt bổ sung đổi với người chưa thành niên phạm tội”.

Bản án sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật hình sự, nhưng Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm không phát hiện được vi phạm này, để báo cáo lãnh đạo Viện kháng nghị phúc thẩm là thiếu sót cần rút kinh nghiệm ( khi Viện phúc thẩm 2 nhận được bản án sơ thẩm thì đã quá thời hạn kháng nghị phúc thẩm).

Thông qua hai vụ án này, Viện phúc thẩm 2 xin thông báo đến các Viện kiểm sát địa phương nghiên cứu rút kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thấm hình sự.

 

--------------------------------

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi