Thông báo rút kinh nghiệm về công tác khiếu tố số 103/TB-VKSTC-V7

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

TỐI CAO

______

Số: 103 /TB-VKSTC-V7

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2012

THÔNG BÁO

Rút kinh nghiệm về công tác khiếu tố

------------

                                 Kính gửi: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng

                                                - Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố

Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 7) nhận được Quyết định số 539 ngày 16/4/2012 của VKSND tỉnh Cao Bằng ban hành "Quy trình phối hợp xử lý và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh theo quy định của pháp luật trong ngành kiểm sát tỉnh Cao Bằng”. Việc VKSND tỉnh ban hành các văn bản trên là cần thiết để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác Khiếu tố trong ngành Kiểm sát tỉnh; thể hiện vai trò chủ động trong hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo VKSND tỉnh đối với công tác Khiếu tố; là một biện pháp để quán triệt nhận thức về trách nhiệm và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, Kiểm sát viên trong công tác Khiếu tố; là tiền đề để tạo sự chuyển biến và nâng cao hiệu quả công tác Khiếu tố. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các văn bản trên, Vụ 7 có một số ý kiến để VKSND tỉnh Cao Bằng và các VKSND cấp tỉnh rút kinh nghiệm chung như sau:

1. Những vấn đề chung:

1.1. Các văn bản nêu trên chứa đựng các quy định điều chỉnh tương đối rộng, hầu hết các khâu của công tác Khiếu tố như: tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết đơn (trừ khâu tiếp công dân và quản lý nhà nước), trong đó có điều chỉnh cả đơn hành chính, đơn tư pháp, phân công thực hiện nhiệm vụ và phối hợp thực hiện nhiệm vụ cho các đơn vị trong ngành Kiểm sát tỉnh...Với phạm vi điều chỉnh rộng như vậy (có sự tập hợp và vận dụng các quy định của Quy chế 59 và Quyết định 487), thì văn bản nên lấy tên gọi tương tự như Quy chế 59 để đảm bảo đủ nội hàm các vấn đề cần điều chỉnh, ví dụ: Quyết định về việc ban hành "Quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong ngành Kiểm sát tỉnh Cao Bằng” (trong trường hợp này nên sử dụng từ "Quy định” sẽ hợp lý hơn, nếu dùng từ "Quy chế” thì văn bản phải mang tính quy phạm trong toàn Ngành, nếu dùng từ "Quy trình” thì lại mang tính thao tác đơn giản)

1.2. Về kỹ thuật xây dựng văn bản, nếu sử dụng tên gọi là "Quy định” theo như gợi ý của Vụ 7, thì kết cấu của văn bản nên tham khảo Quy chế 59, ví dụ: Chương I: Những quy định chung; Chương II: Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo (trong đó có các mục về: tiếp nhận, phân loại và xử lý khiếu nại, tố cáo; khiếu nại và giải quyết khiếu nại; tố cáo và giải quyết tố cáo); bổ sung thêm Chương III: Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (căn cứ theo các văn bản pháp luật trương ứng với từng lĩnh vực và Quyết định 487); bổ sung thêm Chương IV: Quản lý nhà nước trong giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo (trong đó quy định về vai trò của đơn vị Khiếu tố và các đơn vị nghiệp vụ; chế độ thông tin báo cáo; mối quan hệ phối hợp giữa đơn vị/bộ phận Khiếu tố với các đơn vị/bộ phận nghiệp vụ khác ở 2 cấp Kiểm sát; mối quan hệ giữa cấp tỉnh và cấp huyện…);Chương V: Tổ chức thực hiện.

2. Những vấn đề cụ thể:

2.1. Đối với Quyết định số 539 ngày 16/4/2012, phần căn cứ không nên viện dẫn các căn cứ mang tính liệt kê như vậy, vì có thể dẫn đến thiếu căn cứ hoặc bất cập khi viện dẫn, ví dụ: còn thiếu Luật Thi hành án hình sự; các Thông tư liên tịch số 02, 03; các Hướng dẫn công tác Khiếu tố hàng năm của VKSNDTC; hoặc sẽ có bất cập khi viện dẫn Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004, 2005, vì tới đây, Luật khiếu nại và Luật tố cáo 2011 sẽ có hiệu lực vào 1/7/2012. Do đó, phần căn cứ nên viện dẫn theo phương pháp quy nạp, ví dụ: - Căn cứ Luật tổ chức VKSND 2002; - Căn các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý hành chính; - Căn cứ các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án; - Căn cứ các hướng dẫn của Liên ngành tư pháp Trung ương về khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng; - Căn cứ các quy định của ngành Kiểm sát về giải quyết khiếu nại, tố cáo.

2.2. Về "Chương I. Những quy định chung”, nên viết theo hướng bao gồm các phần như: Mục đích, yêu cầu; Vị trí; Phạm vi điều chỉnh; Nhiệm vụ, quyền hạn; Nguyên tắc...

2.3. Về các phần tiếp nhận, phân loại, xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo cần lưu ý các vấn đề sau:

* "Tiểu mục 6.2. Phân loai”: cần viết ngắn gọn như Điều 10 Quy chế 59; những phần khác là thuộc khâu xử lý đơn, nên chuyển xuống "Tiểu mục 6.3. Xử lý”

* "Tiểu mục 6.3. Xử lý”: cần tham khảo kỹ hơn các quy định mới trong Luật Khiếu nại và Luật Tố cáo sắp có hiệu lực, Quy chế 59 và các Hướng dẫn công tác Khiếu tố các năm gần đây, nhất là Hướng dẫn năm 2012, cụ thể như sau:

- Việc tiếp nhận, xử lý đối với đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp nói riêng; việc cấp giấy biên nhận đối với đơn đề nghị GĐT, tái thẩm; việc xử lý đối với đơn "không” đủ điều kiện thụ lý;

- Theo quy định mới trong Luật Tố cáo: nếu tố cáo trong lĩnh vực hành chính không thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát thì phải chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết và báo tin cho người gửi đơn nếu họ có yêu cầu (đây là quy định mới khác với Quy chế 59 cần phải lưu ý);

- Riêng đối với đơn do các cơ quan Đảng, Nhà nước, cơ quan có chức năng giám sát chuyển đến, nếu không đúng thẩm quyền thì việc xử lý theo khoản 3, Điều 11 Quy chế 59 cần thực hiện như sau:

+ Trong trường hợp đơn khiếu nại, tố cáo thuộc lĩnh vực quản lý hành chính (tức là đơn không thuộc thẩm quyền và không thuộc trách nhiệm), đơn vị Khiếu tố khi xử lý phải có sự phân biệt giữa khiếu nạitố cáo, cụ thể: đối với khiếu nại thì trả đơn và hướng dẫn cho người khiếu nại; đối với đơn tố cáo thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết; sau đó phải thông báo cho người hoặc cơ quan chuyển đơn biết, nếu họ có yêu cầu.

+ Trong trường hợp đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp (tức là đơn tuy không đúng thẩm quyền nhưng thuộc trách nhiệm), đơn vị Khiếu tố cần xử lý như sau: (1) Nếu đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát cấp mình thì chuyển đơn đến đơn vị nghiệp vụ tương ứng với loại việc khiếu nại, tố cáo; đơn vị nghiệp vụ phải thụ lý và chuyển đến cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết, đồng thời theo dõi kết quả để thực hiện trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết; sau đó, đơn vị nghiệp vụ phải báo tin cho người khiếu nại biết; riêng đơn tố cáo chỉ thông báo cho người tố cáo hoặc cơ quan chuyển đơn biết (nếu có yêu cầu);(2) Nếu đơn thuộc trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát cấp khác hoặc địa phương khác thì chuyển đơn đến Viện kiểm sát đó; sau đó, nếu là đơn khiếu nại phải báo tin cho người khiếu nại biết; nếu là đơn tố cáo chỉ báo tin cho người tố cáo hoặc người, cơ quan chuyển đơn biết (nếu họ có yêu cầu). Đây là những quy định mang tính nguyên tắc trong xử lý đơn, đó là: khi có đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp gửi đến Viện kiểm sát các cấp qua bất kỳ nguồn nào, Viện kiểm sát các cấp phải tiếp nhận để xử lý (kể cả đơn không thuộc thẩm quyền cấp mình), không được trả lại đơn và hướng dẫn công dân gửi đơn đến các cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết

*"Tiểu muc 7.1. Giải quyết đơn khiếu nại”: do Quy chế 59 trích dẫn Nghị định số 53 ngày 19/4/2005 nhưng đã được thay thế bằng Nghị định 136 ngày 14/11/2006 nên cần trích dẫn lại cho phù hợp. Cần lưu ý phân biệt lại việc giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại cho các Phòng 10, Phòng 4, Phòng 7, cụ thể: khiếu nại trong hoạt động kiểm sát việc thi hành án dân sự do Phòng 10 giải quyết; khiếu nại trong hoạt động kiểm sát thi hành án hình sự và hoạt động kiểm sát giam, giữ do Phòng 4 giải quyết (theo Luật thi hành án hình sự năm 2010, không phải theo Điều 333 Bộ luật TTHS và Thông tư liên tịch 02 như trong văn bản nêu); đối với khiếu nại trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp không nên giao toàn bộ cho Phòng 7, bởi lẽ, theo phân công tại Quyết định 487 thì tất cả các đon vị nghiệp vụ (kể cả Phòng 7) đều được giao nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp; do đó, nếu khiếu nại, tố cáo phát sinh trong hoạt động kiểm sát của phòng nào, thì giao cho phòng đó có trách nhiệm giải quyết (nếu thuộc thẩm quyền giải quyết của các phòng nghiệp vụ khác thì nên giao nhiệm vụ cho Phòng 7 phối hợp giải quyết, đồng thời tham mưu cho Lãnh đạo Viện theo chức năng là đơn vị được giao giúp Lãnh đạo Viện quản lý nhà nước và chuyên sâu về công tác khiếu tố); tuy nhiên, nếu thấy cần thiết, Viện trưởng có thể giao Phòng 7 trực tiếp giải quyết hoặc chủ trì (các phòng nghiệp vụ khác phối hợp) giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh trong hoạt động kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp hoặc bất cứ khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền nào khác (nhưng chỉ nên giao trong một số trường hợp nhất định).

* "Tiểu mục 7.2. Tố cáo thuốc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát”:

- Cần lưu ý nguyên tắc chung cho cả tố cáo trong lĩnh vực hành chính cũng như trong hoạt động tư pháp để quy định, đó là: tố cáo đối với cán bộ có chức vụ từ Phó Viện trưởng trở xuống thuộc Viện kiểm sát cấp nào thì Viện trưởng cấp đó giải quyết; tố cáo Viện trưởng do Viện trưởng cấp trên giải quyết. Do đó, nếu tố cáo đối với Viện trưởng cấp tỉnh phải được chuyển VKSNDTC giải quyết.

- Cần phân biệt tố cáo trong việc tạm giữ, tạm giam (Điều 23 Luật tổ chức VKSND và khoản 3, Điều 18 Quy chế 59) khác với tố cáo liên quan đến việc bắt tạm giữ, tạm giam (khoản 3, Điều 337 Bộ luật TTHS và điểm a, khoản 2, Điều 19 Quy chế 59). Do đó, cần quy định rõ: tố cáo liên quan đến việc bắt tạm giữ, tạm giam do các Phòng KSĐT-XXST án hình sự 1, 2 giải quyết; tố cáo trong việc tạm giữ, tạm giam do Phòng 4 giải quyết.

- Tố cáo hành vi vi phạm của người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1, Điều 337 Bộ luật TTHS) là tố cáo liên quan đến hoạt động điều tra ban đầu của các cơ quan Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội biên phòng..., do đó, nên giao cho các Phòng KSĐT-XXST án hình sự 1, 2 giải quyết hợp lý hơn là giao cho Phòng tổ chức cán bộ.

* "Tiểu muc 1.3. Trình tự giải quyết đơn khiếu nai, tố cáo.”: cần bám sát các nguyên tắc về trình tự, thủ tục được quy định trong  Quy chế 59, cụ thể:

- Đơn khiếu nại, tố cáo sau khi được xác định thuộc thẩm quyền siải quyết của đơn vị mình, lãnh đạo các Phòng nghiệp vụ cấp tỉnh, Viện trưởng (cấp huyện) phải phân công cán bộ vào sổ thụ lý (việc thụ lý nên tập trung vào một đầu mối và giao cho cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm chuyên sâu về công tác khiếu tố thực hiện);

- Cần lưu ý phân biệt thủ tục giải quyết khiếu nại (Điều 17) có một số điểm khác thủ tục giải quyết tố cáo (Điều 21) như: giải quyết tố cáo phải do Viện trưởng ra quyết định xác minh, phân công cán bộ, còn giải quyết khiếu nại việc phân công không buộc phải bằng quyết định của Viện trưởng, lãnh đạo Phòng có đủ thẩm quyền phân công; việc giải quyết khiếu nại phải bằng văn bản (quyết định giải quyết khiếu nại); việc giải quyết tố cáo phải bằng văn bản kết luận giải quyết tố cáo, sau đó phải thông báo kết quả giải quyết tố cáo bằng văn bản cho người tố cáo (nếu có yêu cầu)...

- Riêng việc xác minh, gặp gỡ đối thoại thì cán bộ, Kiểm sát viên được phân công chỉ được thực hiện sau khi đã đề xuất bằng văn bản (kế hoạch) và được lãnh đạo đồng ý.

Trên đây là một số ý kiến của Vụ 7 để VKSND tỉnh Cao Bằng cân nhắc việc sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế văn bản khác và để rút kinh nghiệm chung về công tác Khiếu tố đối với các VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương./.

 

 

Nơi nhận:                                                                                    

- Như trên (rút kinh nghiệm);                         

- Đ/c PVT Nguyễn Thị Thủy Khiêm (b/c);

- 2 Trường BD NVKS tại HN & TP.HCM;

- Phòng Tổng hợp - Văn phòng VKSTC;

- Lưu VT, V7.

TL. VIỆN TRƯỞNG

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi

Các tin khác