Kiến nghị Áp dụng pháp luật

KIẾN NGHỊ

Về việc áp dụng không đầy đủ Điều 36 BLHS
Và vi phạm về việc tính án phí dận sự trong vụ án hình sự

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIM SÁT NHÂN DÂN TỈNH P

Căn cứ Điều 20, Điều 41 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 5, Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Thông qua công tác kiểm sát bản án, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P nhận thấy quá trình xét xử còn có sai phạm cần kiến nghị đến Chánh án - Toà án nhân dân huyện T để chỉ đạo rút kinh nghiệm.

I. V án thứ nhất:

1. Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của Bản án sơ thm:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 28/6/2018, Công an huyện T phát hiện và bắt quả tang tại nhà ở của Phùng Văn An - SN 1959 thuộc khu 4, xã Đồng Xuân, huyện T, tỉnh P các đối tượng: Cao Phương Nam, Nguyễn Quang Vinh, Khuất Thái Sơn, Đỗ Văn Mạnh, Tạ Văn Tiến, Phạm Hồng Ánh, Nguyễn Thế Hưng, Vũ Tiến Hưng và Trần Văn Tiến có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền, vật chứng thu tại chiếu bạc là 5.500.000đ.

Bản án số 40/2018/HSST ngày 15/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P đã xét xử đối với các bị cáo: Cao Phương Nam, Nguyễn Quang Vinh, Khuất Thái Sơn, Đỗ Văn Mạnh, Phạm Hồng Ánh, Tạ Văn Tiến, Trần Vãn Tiến, Nguyễn Thế Hưng, Vũ Tiến Hưng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015.

Bản án áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,2,4 Điều 36 Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Cao Phương Nam 09 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được trừ 6 ngày tạm giữ. Buộc bị cáo Nam còn phải chấp hành là 8 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã Đồng Xuân, T, P được giao giám sát, giáo dục, Cao Phương Nam nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Xử phạt Tạ Văn Tiến 06 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 05 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã Đồng Xuân, T, P được giao giám sát, giáo dục, Tạ Văn Tiến nhận được bản sao bản án và quyết đinh thi hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 1, 2, 4 Điều 36 BLHS 2015, xử phạt Đỗ Văn Mạnh 06 tháng cải tạo không giam giữ; Khuất Thái Sơn 06 tháng cải tạo không giam giữ, cả hai bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ. Buộc Đỗ Văn Majnh và Khuất Thái Sơn còn phải chấp hành 05 tháng 12 ngày. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày UBND xã Đồng Xuân, huyện T được giao giám sát, giáo dục, các bị cáo nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Cao Phương Nam, Tạ Vãn Tiến, Đỗ Văn Mạnh, Khuất Thái Sơn.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 BLHS phạt Phạm Hồng Ánh 30.000.000đ để sung công quỹ nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS phạt Nguyễn Thế Hưng 30.000.000đ để sung công quỹ nhà nước, Nguyễn Quang Vinh 25.000.000đ để sung công quỹ nhà nước, Vũ Tiến Hưng 25.000.000đ để sung công quỹ nhà nước.

Ngoài ra bản án còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.

2. Vn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này:

Thứ nhất: Bản án áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự quyết định xử phạt các bị cáo Cao Phương Nam 09 tháng cải tạo không giam giữ, Tạ Văn Tiến, Đỗ Văn Mạnh, Khuất Thái Sơn 06 tháng cải tạo không giam giữ. Lẽ ra trong quyết định phải ghi rõ giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã giám sát giáo dục, sau đó mới ghi thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày ủy ban nhân dân xã được giao giám sát giáo dục mới đúng quy định tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại khoản 2 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định:

2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ chức nơi người đỏ làm việc, học tập hoặc ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giảm sát, giáo dục..

Thứ hai: Bản án áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo Phạm Hồng Ánh, Nguyễn Thế Hưng, Nguyễn Quang Vinh, Vũ Tiến Hưng nhưng lại không áp dụng Điều 35 BLHS quy định về hình phạt tiền để làm căn cứ là thiếu chính xác.

Điều 35 Bộ luật hình sự quy định:

1. Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đổi với các trường hợp sau

đây:... ”

Thứ ba: Đối với bị cáo Phạm Hồng Ánh, Tòa án nhận định: “Đi với Phạm Hồng Ánh, Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Quang Vinh, Vũ Tiến Hưng là những người tham gia đánh bạc tích cực, sau khi phạm tội đã thành khn khai báo, phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự nên chỉ cần phạt tiền là đủ”. Trong bản án không thể hiện bị cáo Phạm Hồng Ánh đã hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hay trong việc phát hiện tội phạm nhưng tại phần Quyết định, Tòa án đã áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quả trình giải quyết vụ án” cho bị cáo Phạm Hồng Ánh là thiếu căn cứ.

II. Vụ án thứ hai

1. Tóm tắt nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm

Ngày 8/6/2018 và ngày 15/6/2018, Nguyễn Xuân Hòa đã có hành vi trộm cắp tài sản là 8 con gà mái chọi của anh Hà Đức Dục ở khu 3, xã Đỡ Sơn, huyện T, tỉnh P, tổng giá trị tài sản là 1.760.000đ.

Bản án số 39/2018/HSST ngày 15/11/2018 của TAND huyện T, tỉnh P xét xử bị cáo Nguyễn Xuân Hòa - sinh năm 1986, trú tại khu 7, xã Đỗ Sơn, huyện T, tỉnh P - về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Bản án áp dụng điểm a khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51; khoản 1, 2 điều 47, khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2,3 điều 106, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt Nguyễn Xuân Hòa 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vtrách nhiệm dân sự:

Buộc Nguyễn Xuân Hòa phải bồi thường cho anh Hà Đức Dục 1.760.000đ giá trị tài sản bị thiệt hại.

Về án phí hình sự sơ thm: Buộc Nguyễn Xuân Hòa phải chịu 200.000đ. Ngoài ra, bản án còn quyết định xử lý vật chứng và quyền kháng cáo của bị cáo.

2. Vấn đề cần rút kinh nghiệm trong vụ án này:

Với hành vi phạm tội như trên, Tòa án nhân dân huyện T đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu bản án thấy rằng: Tại phần quyết định về trách nhiệm dân sự: Tòa án đã tuyên buộc Nguyễn Xuân Hòa phải bồi thường cho anh Hà Đức Dục 1.760.000đ giá trị tài sản bị thiệt hại. Nhưng tại phần án phí, Tòa án đã không buộc Nguyễn Xuân Hòa phải chịu án phí dân sự trong vụ án hình sự là 300.000đ là vi phạm điểm c, khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/ QH- UBTVQH ngày 30/12/2016.

Điều 23. Nghĩa vụ chịu án phí trong vụ án hình sự

c) Nghĩa vụ chịu án phỉ dân sự sơ thẩm trong vu án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết này;

Khoản 2, Điều 26. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Đối với các sai phạm trên lẽ ra cần phải kháng nghị sửa đổi nhưng xét thấy hình phạt đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, vi phạm trên cần kiến nghị rút kinh nghiệm bảo đảm cho hoạt động xét xử đúng quy định của pháp luật.

KIN NGHI:

Yêu cầu Chánh án Toà án nhân dân huyện T:

Chỉ đạo rút kinh nghiệm trong đơn vị và Thẩm phán chủ toạ phiên toà đối với việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử như đã nêu trên, nhằm tránh để xảy ra những sai phạm tương tự.

Trả lời kết quả thực hiện kiến nghị cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Kiến nghị.

 
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi