Kháng nghị phúc thẩm bản án về Tranh chấp thừa kế tài sản

QUYẾT ĐNH

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

Đối với Bản án số 09/2018/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của
Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh N

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH N

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Xét Bản án số 09/2018/DS-ST ngày 04 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh N gii quyết vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản”, giữa:

Nguyên đơn: Ông Đặng Quang Long - sinh năm 1963;

Trú tại: Xóm 3 Đông Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D, tỉnh N

Bị đơn: Anh Đặng Quang Vân - sinh năm 1972;

Trú tại: Xóm 3 Tây Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D, tỉnh N;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Đặng Thị Biên - sinh năm 1963;

Trú tại: Xóm 1 Đông Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D, tỉnh N Bà Đặng Thị Hồng, sinh năm 1965;

Bà Cao Thị An, sinh năm 1974

Đều trú tại: Xóm 8 Tây Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D, tỉnh N

NHẬN THẤY:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/6/2017 của ông Đặng Quang Long và trong quá trình giải quyết vụ án: Bố ông là cụ Đặng Quang Thược (chết năm 1999) và mẹ ông là cụ Đặng Thị Chắt (Chết năm 2006), khi còn sống bố mẹ ông có hai thửa đất mang tên Đặng Quang Thược cụ thể như sau:

Thửa thứ nhất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 872, tờ bản đồ số 05 (Hin nay thửa mới thửa 40, tờ bản đó mới số 16) có diện tích 500m2 (Đất ở 200m2, đất vườn 300m2) tại xóm 9 Tây Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D.

Thửa thứ hai đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 54, tờ bản đồ số 06 (Hiện nay thừa mới 201, tờ bản đồ mới số 16) diện tích 650m2 (Đất ở 200m2, đất vườn 450m2) tại xóm 8 Tây Thọ, xã Diễn Thọ. Bố mẹ ông có 5 con chung gồm Đặng Thị Châu (chết năm 2001), Đặng Quang Long, Đặng Thị Biên, Đặng Thị Hồng và Đặng Quang Vân. Bố mẹ ông chết không để lại di chúc, hiện ông không ở trên hai thửa đất này, còn em trai ông là Đặng Quang Vân đang sinh sống trên thửa đất số 54, tờ bản đồ số 06 tại xóm 8 Tây Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D. Đến tháng 10 năm 2015, ông về sửa nhà của bố mẹ trên thửa đất số 872, tờ bản đồ số 05 để ở và thờ cúng ông bà tổ tiên nhưng em trai ông là Đặng Quang Vân cản tr đập phá, sau đó UBND xã Diễn Thọ tiến hành hòa giải nhưng không thành. Nay ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện D chia di sản thừa kế của bổ mẹ ông để lại là hai thửa đất trên.

Bị đơn ông Đặng Quang Vân trình bày: Ông thống nhất với trình bày của ông Long về số anh chị em, thời gian bố mẹ chết, tài sản bố mẹ để lại và bố mẹ chết không để lại di chúc. Hai thửa đất này hiện tại ông đang quản lý. Năm 1996 ông đã xây dựng 3 gian nhà cấp 4 trên thửa đất số 872, tờ bản đồ số 05 có diện tích 500m2 tại xóm 9 Tây Thọ, xã Diễn Thọ, huyện D, nhưng sau khi làm nhà xong thì bố ông nói ông về ở trên thửa đất số 54, tờ bản đồ số 06 diện tích 655m2 (Đất ở 200m2, đất vườn 455m2) tại xóm 8 Tây Thọ. Năm 2004 vợ chồng ông xây dựng hai gian nhà vê, đến năm 2015 ông làm nhà bằng, về thửa đất này ông ở từ năm 1996 đóng thuế đầy đủ cho nhà nước.

Nay ông Đặng Quang Long yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ để lại ông có ý kiến: riêng thửa đất số 54, tờ bản đồ số 06 diện tích 655m2 ông ở từ trước đến nay và trước khi chết bố mẹ cũng thống nhất cho ông. Hàng năm ông thực hiện nghĩa vụ thuế cho nhà nước đầy đủ nên ông có nguyện vọng ở trên thửa đất này còn thửa đất 872, tờ bản đồ số 05 có diện tích 500m2 ở xóm 8 Tây Thọ, Diễn Thọ ông có nguyện vọng để lại làm nhà thờ không phân chia cho ai. Còn nếu không thống nhất thì hai thửa đất này đem chia đều cho những người thừa kế.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Biên, bà Đặng Thị Hồng và bà Cao Thị An thống nhất như ý kiến trình bày của anh Đặng Quang Vân, bà Đặng Thị Biên, bà Đặng Thị Hồng nhường phần được hưởng thừa kế của mình cho ông Đặng Quang Vân và đề nghị xem xét công sức tôn tạo duy trì di sản thùa kế là thửa đất số 54, tờ bản đồ 06, diện tích 655m2 tại xóm 9 Tây Thọ, Diễn Thọ, D cho bà Cao Thị An.

Bản án sơ thẩm số 09/2018/DS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tĩnh N quyết định:

Áp dng các Điều 26, 34, 35 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 166,170,188 và 203 Luật đất đai năm 2013, xử:

1. Giao cho ông Đặng Quang Vân và bà Cao Thị An được quyền sử dụng đất thửa số 54, tờ bản đồ số 06, diện tích 655 m2 thuộc xóm 8, xã Diễn Thọ, D, N; đã được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01 ngày 30/9/1995 mang tên ông Đặng Quang Thược. Trị giá thửa đất là 524.000.000đ. (Có sơ đồ thửa đất kèm theo).

  1. Giao cho ông Đặng Quang Long được quyền sở hữu, sử dụng 346,3 m2 đất tại thửa 872, tờ bản đồ số 05 tại xóm 9 Diễn Thọ, D đã được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01 ngày 30/9/1995 mang tên ông Đặng Quang Thược, trị giá thửa đất: 346,3m2xl.000.000đ/lm2= 346.300.000đ.

Và ngôi nhà cấp 4 trị giá 14.000.000đ. Tứ cận cụ thể như sau:

Phía Đông giáp đường nhựa có kích thước 17,3 m

Phía Tây giáp hộ ông Đinh Văn Chính và đất UBND xã có kích thước 15,68m

Phía Nam giáp hộ ông Thái Bá Lân có kích thước 19,15m

Phía Bắc giáp đất ông Đặn Quang Vân có kích thước 24,24m

  1. Giao cho ông Đặng Quang Vân đuợc quyền sở hữu, sử dụng 153,7m2 đất tại thửa 872, tờ bản đồ số 05 tại xóm 9, xã Diễn Thọ, D đã được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01 ngày 30/9/1995 mang tên ông Đặng Quang Thược, trị giá thửa đất 153,7xl.000.000đ/ lm2 = 153.700.000d. Tứ cận cụ thể như sau:

Phía Đông giáp đường nhựa có kích thước 6,02m

Phía Tây giáp đất UBND xã có kích thước 2,43m và 3,96m

Phía Nam giáp hộ ông Đặng Quang Long có kích thước 24,24m

Phía Bắc giáp đất ông Đặng Quang Vân có kích thước 26m

(Có sơ đồ thửa đất kèm theo)     

  1. Buộc ông Đặng Quang Long phải trích chia phần giá trị tài sản chênh lệch cho các đồng thừa kế gồm Đặng Quang Vân, Đặng Thị Biên, Đặng Thị Hồng là 118.850.000đ (Một trăm mười tám triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Và phải trích chia 1/2 giá trị ngôi nhà cho ông Đặng Quang Vân tương ứng số tiền là 7.000.000đ (bảy triệu đồng).
  2. Buộc ông Đặng Quang Vân phải trích giá trị phần bờ rào do ông Long xây dựng trên phần đất ông Vân được hưởng là 95m2xl10.000đ/lm2 =10.450.000đ (Mười triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
  3. Công nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị Biên, bà Đặng Thị Hồng nhường phần được hưởng thừa kế của mình cho ông Đặng Quang Vân.
  4. Án Phí: Áp dụng điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc ông Đặng Quang Long phải nộp 11.500.000 án phí dân sự Nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí dân sự đã nộp 3.000.000đ theo biên lai thu số 0004313 ngày 18 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D, ông Đặng Quang Long còn phải nộp tiếp 8.000.000đ (Tám triệu đồng) án phí dân sự. Buộc ông Đặng Quang Vân phải nộp 22.120.000đ (Hai mươi hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

XÉT THẤY:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện D có vi phạm như sau:

- Quyết định của bản án chưa đầy đủ, không đúng quy định pháp luật:

+ Theo bản án sơ thẩm thì vợ chồng cu Đặng Quang Thươc và cụ Đặng Thị Quế chết không để lại di chúc. Di sản hai cu để lại là 02 thửa đất gồm thửa đất số 872 tờ bản đồ số 5 (nay là thửa 40, tờ bản đồ số 16) tại xóm 9 xã Din Thọ, huyn D, tỉnh N có diện tích 500 m2 trị giá 500.000.000 đồng và thửa đất số 54, tờ bản đồ số 6 (nay là thửa 201, tờ bản đồ số 16) tại xóm 8 xã Din Thọ, huyện D, tỉnh N có diện tích 650 m2 trị giá 524.000.000 đng. Cụ Thược và cụ chắt có 5 người con gồm bà Đặng Thị Châu (chết, chưa có chồng con), ông Đặng Quang Long, bà Đặng Thị Biên, bà Đặng Thị Hông, ông Đặng Quang Vân. Bản án sơ thâm nhận định bà Cao Thị An (vợ của ông Đặng Quang Vân) ở trên thửa đất số 54 từ năm 1996 đến nay có công chăm sóc cụ Thược và cụ Chắt nên trích chia công sức duy trì, tôn tạo, bảo quản thửa đất cho bà An bàng một suất thừa kế; bà Đặng Thị Biên và bà Đặng Thị Hổng đề nghi Tòa án giao phân thừa kế của hai bà cho ông Đặng Quang Vân. Như vậy, thửa đất số 54 có diện tích 655 m2 trị giá 524.000.000 đồng nên bà An được hưởng một suất thừa kế trị giá 104.800.000 đơn nhưng phần quyết định của bản án không giao cụ thể phần bà An được hưởng tương ứng là 13lm2 đất mà giao ông Vân và bà An được quyền sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất số 54 là không đúng theo kỷ phân bà An được hưởng.

Đối với thửa đất số 872 tờ bản đồ số 5 tại xóm 9 xã Diễn Thọ, huyện D đã được cấp giấỵ chứng nhận quyền sử dung đất có diện tích 500m2, trong đó 200m2 đất ở và 300m2 đất vườn. Bản án sơ thm giao cho ông Đặng Quang Long được quyền sử dụng 346,3m2 đất, giao cho ông Đặng Quang Vân được quyền sử dụng 153,7m2 đất nhưng không giao cụ thể ông Long, ông Vân được quyền sử dụng bao nhiêu diện tích đất ỏ', đất vườn là thiếu sót, gây khó khăn cho công tác thi hành án.

Mặt khác, thửa đất số 54 vả thửa đất số 872 đã được Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ Đặng Quang Thược, Bản án quyết định giao cho ông Long, ông Vân, bà An được quyền sử dụng nhưng không yêu câu họ đến cơ quan nhà nước có thâm quyên làm thủ tục theo quy định của pháp luật đất đai.

+Bản án sơ thẩm nhận định trên thửa đất số 872 có ngôi nhà cấp 4 do ông Vân và ông Long xây dựng nên chia đôi, phần đất có ngôi nhà chia cho ông Long. Bản án quyết định buộc ông Long phải trích chia trị giá ngôi nhà cho ông Vân tương ứng số tiền 7.000.000 đồng nhưng không giao quyển sở hữu ngôi nhà cấp 4 cho ông Long;; buộc ông Long trích chênh lệch giá trị tài sản cho các đng thừa kế (ông Vân, bà Biên, bà Hồng) 118.850.000 đồng, bà Biên và bà Hồng thống nhất giao phần thừa kế mà họ được hưng cho ông Vân nhưng bản án không giao số tin trên cho ông Vân được sở hữu; giao cho ông Vân được quyền sử dụng 153,7m2 tại thửa đất 872 và buộc ông Vân phải trích cho ông Long phần giá trị bờ rào do ông Long xây 10.450.000 đồng nhưng không giao quyền sở hữu b rào cho ông Vân là thiếu sót, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ông Long và ông Vân, gây khó khăn cho công tác thi hành án.

+ Bản án sơ thẩm quyết định giao cho ông Vân được quyền sử dụng 153,7m2 đất tại thửa 872; trên thửa đất này, ông Long có công sức đổ 60 xe đất trên thửa đất nhưng bản án không buộc ông Vân phải trích cho ông Long tiền đổ đất tương ứng với phần diện tích đất ông Vân được giao là không đúng, chưa đảm bảo quyền lợi cho ông Long.

- Vi phạm quy định pháp luật về án phí:

Ông Đặng Quang Vân được chia thừa kế thửa đất số 54 trị giá 419.200.000 đồng (đã trừ phần công sức của bà An) và 153,7m2 đất tại thửa 872 trị giá 153.000.000đồng; được nhận số tin ông Long trích chia phân chênh lệch tài sản (cho ông Vân, bà Biên, bà Hồng) 118.850.000 đồng. Như vậy ông Vân được chia được hường thừa kế quyền sử dụng đất và nhận trích từ ông Long với tổng số là 691.000.000đồng nên ông Vân phải chịu 31.670.000 đồng án phí nhưng bản án sơ thẩm buộc ông Vân phải chịu 22.120.000 đồng án phí là chưa đúng quy định tại điểm a khoản 7 Điều 27 và phu lục Ban hành kèm theo nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH- 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bản án sơ thẩm quyết định buộc ông Long phải nộp 11.500.000 đồng án phí, được khấu trừ 3.000.000 đồng nên đáng lẽ ông Long còn phải nộp tiếp 8.500.000 đồng nhưng bản án sơ thâm buộc ông Long phải nộp tiếp 8.000.000 đông là không chính xác.

Như vậy, bản án dân sự sơ thẩm nêu trên đã vi phạm pháp luật dân sự. Những vi phạm này cấp phúc thẩm có thể khắc phục được nên cần áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự để sửa bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Kháng nghị đối với Bản án số 09/2018/DS-ST ngày 04/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh N.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh N xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích ở trên.

 

 
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi