Kháng nghị phúc thẩm bản án về Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại

QUYẾT ĐỊNH

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM

Đối với Bản án dân s thẩm số 27/2018/DSST ngày 04/9/2018
của Toà
án nhân dân huyện K

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH Đ

Căn cứ Điều 27 Luật tố chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các Điều 278, 279 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2018/DSST ngày 04/9/2018 của Toà án nhân dân huyện K.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án: “Tranh chấp quyền sử dụng đt và đòi bồi thường thiệt hại” giữa:

Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Cao su Đ.

Địa chỉ: Thôn Hồ Tiếng, xã Ea Hồ, huyện K, tỉnh Đ.

Bị đơn : Ông La Văn Thắng.

Địa chỉ: Thôn Tam Thuận, xã Cư Klông, huyện K, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nông Thị Xanh; ông La Văn Thó, bà Vy Thị Nhói; ông La Văn Trường; bà Nông Thị Lịch; bà La Thị Khánh;

Cùng địa chỉ: Thôn Tam Thuận, xã Cư Klông, huyện K, tỉnh Đ.

NHẬN THẤY

Công ty cao su Krông Bưk được thành lập theo Quyết định số 09/TCCS-CĐ ngày 08/02/1984 của Tổng cục cao su Việt Nam, ngày 31/5/2010 được đổi tên thành Côn ự ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cao S11 Krông Buk (Công ty cao su Krông Buk). Ngày 29/6/1996 Công ty cao su Krông Buk được Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đ giao quyền sử dụng đất 6.200 ha tại xã Đliêya, huyện K để sản xuất nông lâm nghiệp, hiện nay một phần diện tích đất thuộc địa bàn xằ Cư Kíông, huyện K (xã Cư Klông thành lập năm 2013).

Ngày 28/3/2011 UBND tỉnh Đ có Quyết định cho Công ty thuế diện tích 40.308.804m2 đất; diện tích tại địa bàn xã Cư Klông, huyện K là 9.609.456m2, hiện đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty.

Quá trình sử dụng, ông La Văn Thắng bà Nông Thi Xanh tự ý khai thác trái phép của công ty diện tích đất trồng cao su là 4.570m2 với số lượng gỗ keo khoảng 23,7ster tương đương số tiền 18.818.347đ, ông Thng bà Xanh đã chiếm dụng quyên sử dụng đất diện tích trên thực tế đo đạc được là 25.766m2 nằm trong thừa đất số 287 tờ bản đồ 03, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) số BE 766254.

Sự việc đã được báo với chính quyền địa phương để giải quyết nhưng không có kết quả nên Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Thắng bà Xanh trả lại cho Công ty diện tích đất lấn chiếm là 25.766m2 và bồi thường trị giá số cây keo bị chặt là 18.818.347đ. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty xin rút một phần đơn khởi kiện về yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số tiền 18.818.347đ.

Ông Thắng, bà Xanh cho rằng: Do không có đất canh tác nên một số hộ dân đã làm đơn xin canh tác gửi đến UBND xã Đliêya, huyện K. Ngày 20/8/1990 chủ tịch xã Đliêya, huyện K đã xác nhận đồng ý cho các hộ có đơn dược khai phá một qu đồi tròn và hai qu đồi cao để canh tác. Diện tích 25.706m2 đang tranh chấp hiện nay ông Thng bà Xanh đang sử dụng là được gia đình chia cho, không thuộc quyển sử dụng của Công ty cao su. Ông bà đã trồng keo, cà phê nhưng hiện nav cà phê đa chết, số cây keo thì ông Thắng, bà Xanh đã khai thác ch còn lại đt trống. Tài sản khai thác là tải sản của ông bà được UBND xã xác nhận cho khai phá nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những người có quyền lợi liên quan là ông La Văn Thó, bà Vy Thị Nhói, ông La Văn Trường, bà Nông Thị Lịch và bà La Thị Khánh có chung ý kiến như bị đơn trình bày, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những người làm chứng ông Lê Anh Tuấn, ông Ma Văn Sơn, bà Nguvễn Thị Luyến, ông Be văn Thế, ông Phùng Văn Hợi, ông Nguyễn Văn Điệp, ông Mông Văn Hô trình bày: Đầu năm 2018 ông Thắng đến nhà nhờ các ông, bà ký “Giấy xác nhận nguồn gốc đất” do ông Thắng đánh máy sẵn nội dung, thực tế quyến sử dụng đất diện tích các bên đang tranh chấp các ông, bà không biết thuộc về ai, vị trí chỗ nào, diện tích bao nhiêu. Còn ông Đào Văn Anh trình bày: chữ ký nội dung xác nhận trong đơn không phải là của ông, ông không ký xác nhận nguồn gốc đất cho ông La Văn Thắng và không biết sự việc tranh chấp giữa các bên.

Đơn xin đất canh tác do bị đơn cung cấp thể hiện diện tích đất dược canh tác khai phá là đất ruộng sình = 6 sào và đất khô = 4 sào. Hiện nay ông Thắng bà Xanh đang sử dụng và đã làm thủ tục đề nghị cấp Giấy CNQSDĐ ddối vợi 09 thửa đất có tổng diện tích là 83.094,5m2; diện tích đất ruộng sình và đất khô được Chủ tịch UBND xã Đliêya, huyện K xác nhận cho khai phá canh tác không nằm trong số diện tích đất đang tranh chấp, hiện nay ông Thắng bà Xanh vẫn đang sử dụng.

Bản án dân sự sơ thẩm trên đã quyết định:

Căn cứ; khoản 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cao su Krông Buk. Buộc ông La Văn Thắng và bà Nông Thị Xanh trả lại cho Công ty cao su Krông Buk diện tích đât 25.766m2, số diện tích đât này thuộc một phân diện tích năm trong thửa số 287 tờ bản đồ số 03 trích lục bản đồ địa chính số 622/TL-VPĐKQSDĐ ngày 13/9/2010 của. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất - Sở tài nguyên môi trường tỉnh Đ, Giấy CNOSDĐ số BE 766254 ngày 22/11/2011 của UBND tinh Đ cp cho Công ty cao su Krông Buk (nêu kèm tứ cận).

Đình chỉ-phần vẻn cầu bồi thường thiệt hai đối với số tiền 18.818.347đ ca Công ly cao su Kng Buk.

Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, hoàn trả tạm ứng án phí và quyn kháng cảo bản án sơ thm.

XÉT THẤY

Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2018/DSST ngày 04/9/2018 của Toà án nhân dân huyện K có vi phạm sau:    

Giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường tại thời điểm định giá là: 25.766m2 X 25.000đ/m2 = 644.150.000đ. Giá trị quyền sử dụng đất theo khung giá nhà nước tại thi điểm định giá là: 25.7666m2 X 9.000đ/m2 = 231.894.000đ.

Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty cao su Krông Buk là có cơ sở. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cấp sơ thẩm buộc ông Thắng bà Xanh phải chịu án phí là đúng quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm căn cứ vào khung giá nhà nước để buộc ông Thắng, bà Xanh chịu án với số tiền ll.594.700đ là không đúng, lẽ ra, ông Thắng bà Xanh phải chịu án phí theo giá thị trường là 29.766.000đ thì mới đúng (chênh lệch 18.171.300đ).

Xét thấy, cấp sơ thẩm giải quyết về án phí chưa đúng, làm ảnh hưởng đến ngân sách nhà nước nên cần sửa án sơ thẩm về án phí theo hướng phân tích trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị đối với Bản án dân sự thẩm số 28/2018/DSST ngày 04/9/2018 của Toà án nhân dân huyện K theo thủ tục phúc thẩm.

Đê nghị Toà án nhân dân tỉnh Đ xét xử phúc thẩm theo hướng sửa bản án sơ thẩm về án phí./.

 

 
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi