Kháng nghị phúc thẩm về Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất, đòi tiền thuê đất

QUYẾT ĐỊNH

KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
Đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST
ngày 24 /7/2018 của Tòa án nhân dân huyện B

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH V

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Điều 278, Điều 279, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh V.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án về Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất, đòi quyền sử dụng đất, đòi tiền thuê đất giữa:

*Nguyên đơn: 1/Lê Anh Tuấn, sinh năm 1969.

Địa chỉ: tổ 2, ấp Hòa Bình, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện B, tỉnh V.

2/ Lê Thị Hằng, sinh năm 1967 3/ Lê Thị Bích Duyên, sinh năm 1990

Cùng địa chỉ: tổ 2, ấp Thành Thuận, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V.

4/ Lê Thị Nguyệt, sinh năm 1971

Địa chỉ: tổ 9, ấp Thanh Đức, xã Thành Lợi, huyện B, tỉnh V.

5/Lê Thị Thùỵ Linh, sinh năm 1973

Địa chỉ: tổ 1, ấp Thành Lễ, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V;

6/ Lê Thị Tuyền, sinh năm 1986

Địa chỉ: tổ 1, khu 8, phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

7/ Lê Anh Thuấn, sinh năm 1975

Địa chỉ: tổ 2, ấp Thành Thuận, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V;

Người đại diện hp pháp của anh Lê Anh Tuấn, chị Lê Thị Hằng, chị Lê Thị Bích Duyên, chị Lê Thị Nguyệt, chị Lê Thị Thùy Linh và chị Lê Thị Tuyền là anh Lê Anh Thuấn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lê Anh Thuấn là ông Lê Văn Bé - Luật sư - Giám đốc công ty Luật TNHH MTV Cửu Long thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.

Địa chỉ: khóm 1, phường Cái Vồn, thị xã Bình Minh, tỉnh V.

*Bị đơn: Ông Lê Văn Tây, sinh năm 1944

Địa chỉ: tổ 2, ấp Thành Thuận, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Lê Phú Đồng, sinh nám 1977;

2/Anh Lê Phú Sang, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: tổ 2, ấp Hòa An, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện B, tỉnh V.

Anh Lê Phú Vinh, sinh năm 1982.

Địa chỉ: tổ 2, ấp Thành Thuận, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V.

Chị Lê Thị Thùy Trang, sinh năm 1976

Địa chỉ: tổ 2, ấp Thành Quí, xã Thành Trung, huyện B, tỉnh V.

Hồ Thị Bọt, sinh năm 1927

Địa chỉ: tổ 7, ấp Tân Tiến, xã Tân Lược, huyện B, tỉnh V.

NHẬN THẤY:

Ông Lê Văn Tây và bà Phan Thị Kim Ê có tất cả 11 người con gồm Lê Anh Tuân, Lê Thị Hằng, Lê Thị Nguyệt, Lê Thị Thùy Linh, Lê Anh Thun, Lê Thị Thùy Trang, Lê Phú Đồng, Lê Phú Vinh, Lê Phú Sang, Lê Thị Tuyền và Lê Thị Bích Duyên. Ông Tây bà Ê có được tài sản chung là các thửa đất gồm thửa 139 diện tích 2.214m2 loại đất lúa; thửa 140 diện tích 1.090,5m2 loại đất lúa thửa đất 141 diện tích 1.074,4m2 loại đất lúa; thửa 142 diện tích 5.861,6m2 loại đất lúa; thửa 143 diện tích 1.134,6m2 loại đất lúa cùng tọa lạc ấp Hòa An- xã Nguyễn Văn Thảnh- huyện B- tỉnh V. Tng cộng diện tích đất là 11.375m2. Ngày 13/01/2011 bà Phan Thị Kim Ê chết không để lại di chúc ông Lê Văn Tây trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất trên.

Các nguyên đơn anh Lê Anh Tuấn, Lê Anh Thuấn, chị Lê Thị Hằng, Lê Thị Nguyệt, Lê Thị Thùy Linh, Lê Thị Tuyền và Lê Thi Bích Duyên yêu cầu Tòa án chia thừa kế phần di sản của bà Ê chết để lại. Cụ th: diện tích 11.375m2 chia làm 02 phần: Ông Tây hưởng 1/2 diện tích; bà Ê hưởng 1/2 diện tích là 5.687,5m2 yêu cầu chia thừa kế theo kết quả đo đạc ngày 20/3/2018 cụ th như sau:

Lê Thị Nguyệt được hưởng 497,3m2 thuộc chiết thửa 142-2

Lê Thị Thùy Linh được hưởng 452,7m2 thuộc chiết thửa 142-3

Lê Thị Hằng được hưởng 458,6m2 thuộc chiết thửa 142-4

Lê Thị Tuyền được hưởng 463,1 m2 thuộc chiết thửa 142-5

Lê Thị Bích Duyên dược hưởng 495,5m2 thuộc chiết thửa 142-6

Lê Anh Tuấn được hưởng 455,5m2 thuộc chiết thửa 142-7

Lê Anh Thuấn được hưởng 498,3m2 thuộc chiết thửa 142-8

Bị đơn Ông Lê Văn Tây không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Ông xác định vợ chồng ông có 11 người con, ông đã cho đất các con trai là Lê Phú Sang; Lê Phú Vinh; thửa 141 ông dự định cho Thuấn nhưng Thuấn không nhận; thửa 140 ông dự định chia cho Lê Phú Vinh, Vinh đồng ý nhận nhưng chưa có thời gian làm thủ tục; riêng Lê Anh Tuân năm 1979 vợ chông ông có cho Tuấn 01 công đất nhưng Tuấn không nhận đất mà quy ra thành vàng là 02 chỉ vàng 24k sự viêc này được các con trong gia đình chứng kiến. Đối với các con gái sau khi ông chét diện tích đất còn lại giao cho các con gái hưởng.

Ông Tây phản tố yêu cầu Lê Anh Thuấn trả ông phần đất anh Thuấn chiếm dụng diện tích là 2.392,3m2 thuộc chiêt thửa 142 đồng thời ông yêu cầu Thuân trả tiền thuê đất bằng 9.000.000đ. Ông yêu cầu được sử dụng diện tích đất để sinh sống, không đồng ý chia thừa kế.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Phú Sang trình bày: anh là con ruột ông Tây bà Ê; anh xác định cha mẹ anh có 11 người con; cha mẹ anh có diện tích đất là 11.375m2 vào năm 2016 ông Tây có cho anh phần đất tại thửa 139 diện tích 2.214m2 và anh đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Anh không yêu cầu chia thừa kế vì anh đã được cho đất rồi.

Chị Lệ Thị Thùy Trang xác định lời trình bày của cha chị là đúng; anh Đồng, anh Sang, anh Tuấn đã được cho đất xong; Chị không yêu cầu chia thừa kế đối với phần đất của cha mẹ chị.

Ánh Lê Phú Vinh trình bày năm 2016 cha anh có cho anh l.000m2 thuộc thửa 142 do ông Lê Văn Tây đứng tên quyền sử dụng đất chưa làm thủ tục tách thửa; do làm ăn xa nên anh giao cho anh Thun canh tác. Nay các anh chị của anh khởi kiện yêu cầu chia thừa kế thì anh không có ý kiến.

Anh Lê Phú Đồng thống nhất lời trình bày của ông Tây vào năm 2016 cha anh là ông Tây đã cho anh phần đất tại thửa 143 diện tích L.134,6m2 anh đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. Anh không yêu cầu chia thừa kế vì anh đã được cha cho đất rồi.

Bà Hồ Thị Bọt trình bày: bà là mẹ ruột của bà Ê. Đối với yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu phản tố của bị đơn bà không có ý kiến; bà không yêu cầu được hưởng phần đất này.

Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện B đã tuyên:

1. Chấp nhận yêu cầu của các đồng nguyên đơn anh Lê Anh Tuấn, chị Lê Thị Hằng, chị Lê Thị Bích Duyên, chị Lê Thị Nguyệt, chị Lê Thị Thùy Linh, chị Lê Thị Tuyền và anh Lê Anh Thuấn.

Buộc anh Lê Phú Sang phải giao cho chị Lê Thị Nguyệt được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 497,3m2 thuộc chiếc thửa 142-2.

Buộc anh Lê Phú Sang phải giao cho chị Lê Thị Thùy Linh được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 452,7 m2thuộc chiếc thửa 142-3.

Buộc anh Lê Anh Thuấn phải giao cho chị Lê Thị Thúy Hằng được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 458,6m2 thuộc chiếc thừa 142-4.

Buộc anh Lê Anh Thuấn phải giao cho chị Lê Thị Tuyền được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 463,1 m2 thuộc chiếc thửa 142-5.

Buộc anh Lê Anh Thuấn phải giao cho chị Lê Thị Bích Duyên được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 495,5 m2 thuộc chiếc thừa 142-6.

Buộc anh Lê Anh Thuấn phải giao cho anh Lê Anh Tuấn được yêu cầu hưởng 455,5 m2 thuộc chiếc thửa 142-7.

Công nhận cho anh Lê Anh Thuấn được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 498,3 m2 thuộc chiếc thửa 142-8.

Các phần đất trên thuộc thửa đất số 142 diện tích chung 5.861,6m2 loại đất trồng lúa, tọa lạc ấp Hòa An, xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện B, tỉnh V do ông Lê Văn Tây đứng tên quyển sử dụng đất.

Các phần đất trên giao cho các đương sự theo trích đo bản để địa chính khu đất ngày 20/3/2018 của chỉ nhảnh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B (đính kèm).

Các đương sự có nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất.

2. Buộc các đương sự trả lại giá trị đất hưởng nhiều hơn một suất thừa kế cho ông Tây, cụ th như sau:

Buộc chị Lê Thị Nguyệt trả li giá trị đất cho ông Lê Văn Tây số tiền 2.392.000 đồng (Hai triệu ba trăm chín mươi hai nghìn đồng).

Buộc chị Lê Thị Thùy Linh trả lại giá trị đất cho ông Lê Văn Tây số tiền 608.000 đồng (Sáu trăm lẻ tám nghìn đồng).

Buộc chị Lê Thị Hằng trả lại giá trị đất cho ông Lê Văn Tây số tiền 844.000 đồng (Tám trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Buộc chị Lê Thị Tuyền trả lại giá trị đất cho ông Lê. Văn Tây số tiền 1.024.000 đồng (Một triệu không trăm hai mươi bn nghìn đồng).

Buộc chị Lê Thị Bích Duyên trả lại giả trị đất cho ông Lê Văn Tây số tiền 2.320.000 đồng(Hại triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).

Buộc anh Lê Anh Thuấn trả lại giá trị đất cho ông Lê văn Tây số tiền 2.432.000 đồng (Hai triệu bn trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Dành riêng cho bà Hồ Thị Bọt, ông Lê Văn Tây, chị Lê Thị Thùy Trang, anh Lê Phú Đồng, anh Lê Phú Vinh, anh Lê Phú Sang vụ kiện dân sự khác khi có yêu cầu chia thừa kế.

3. Không chấp nhận yêu cầu phản t của ông Lê Văn Tây yêu cầu anh Lê Anh Thuấn trả phần đất diện tích 2.392,3 m2 thuộc chiếc thửa 142.

4. Ghi nhận anh Lê Anh Thuấn có nghĩa vụ trả ông Lê Văn Tây tiên thuê đất 9.000.000 đồng (chín triệu đồng)

5. Về chi phí t tụng (khảo sát đo đạc, định giá):

Chị Lê Thị Nguyệt phải chịu 1.600.000 đồng. Khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng chị Nguyệt đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 03/8/2017. Chị Nguyệt được nhận lại số tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện B.

Chị Lê Thị Thùy Linh phải chịu 1.600.000 đồng. Khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng chị Lỉnh đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 03/8/2017. Chị Linh được nhận lại số tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện B.

Chị Lê Thị Tuyền phải chịu 1.600.000 đồng. Khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng chị Tuyển đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 03/8/2017. Chị Tuyển được nhận lại số tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện B.

Chị Lê Thị Bích Duyên phải chịu 1.600.000 đằng. Khấu trừ số tiền 4.000.000 đồng chị Duyên đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 03/8/2017. Chị Duyên được nhận lạỉ số tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện B.

Anh Lê Anh Tuấn phải chịu 1.600.000 đồng. Khẩu trừ số tiền 4.000.000 đồng anh Tuấn đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 03/8/2017. Anh Tun được nhận lại so tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện B.

Anh Lê Anh Thuấn phải chịu 1.600.000 đồng. Khẩu trừ Số tiền 4.000.000 đồng anh Thuấn đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 05/7/2017. Chị Nguyệt được nhận lại số tiền thừa 2.400.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Bình Tâiĩ.

Ông Lê Vạn Tây Phải chịu 1.764.600 đồng. Khấu trử số tiền 5.000.000 đồng ông Tây đã nộp tạm ứng theo phiếu thu ngày 11/9/2017. Ông Tây được nhận lại s tiền thừa 3.235.400 đồng tại Tòa án nhân dãn huyện B.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn án phí cho ông Lê Văn Tây. Hoàn trả cho ông Lê Văn Tây số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011889 ngày 05/9/2017 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011900 ngày 04/10/2017 do Chi cục thi hánh án dân sự huyện B thu.

Chị Lê Thị Nguyệt phải chịu 875.000 đồng.

Chị Lê Thị Thùy Lỉnh phải chịu 875.000 đồng.        :

Chị Lê Thị Hằng phải chịu 875.000 đồng.

Chị Lê Thị Tuyền phải chịu 875.000 đồng.

Chị Lê Thị Bích Duyên phải chịu 875.000 đồng.

Anh Lê Anh Tuấn phải chịu 875.000 đồng.

Anh Lê Anh Thuấn phải chịu 1.325.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.

XÉT THẤY:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân tỉnh V nhận thấy bản án sơ thâm của Tòa án nhân dân huyện B có những vi phạm về nội dung như sau:

1. Xác định di sản thừa kế chưa chính xác:

Theo các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như thừa nhận củạ các đương sự xác định bà Phan Thị Kim Ê và ông Lê Văn Tây là vợ chồng có tất cả 11 người con. Tài sản chung của vợ chồng là các thửa đất số 139 diện tích 2.214m2 loại đất lúa; thửa 140 diện tích 1.090,5m2 loại đất lúa; thửa đất 141 diện tích 1.074,4m2 loại đất lúa; thửa 142 diện tích 5.861,6m2 loại đất lúa; thửa 143 diện tích 1.134,6m2 loại đất lúa cùng tọa lạc ấp Hòa An- xã Nguyễn Văn Thảnh- huyện B- tỉnh V. Năm 2011 bà Ê chết di sản để lại là các thửa đất trên. Tòa án cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của ông Tây, bà Ê là diện tích đất là 11.375m2 để từ đó xác định l/2 diện tích 11.375m2 là di sản thừa kế của bà Ê chết để lại để chia cho 13 thừa kế của bà Ê mỗi người được hưởng 437,5m2 là chưa phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành khảo sát đo đạc tổng diện tích thực tế của các thửa đất tranh chấp là 10.991,2m2 là có chênh lệch so với diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ diện tích chênh lệch; nhưng Tòa án lại xác định diện tích đất theo giấy chứng nhận để chia thừa kế là không phù hợp, gây thiệt hại cho bị đơn.

2. Phân chia thừa kế nhưng không xem xét công sức tôn tạo, bảo quản di sản thừa kế:

Nguồn gốc phần đất các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế là của ông Tây và bà Ê, năm 2011 bà Ê mất ông Tây là người quản lý phần đất này, nhưng khi giải quyết chia thừa kế cấp sơ thảm xác định tài sản chung của vợ chồng là di sản thừa kế và chia đều cho 13 thừa kế của bà Ê mà chưa xem xét đến công sức đóng góp của ông Tây vào việc duy trì quản lý, di sản cũng như việc thờ cúng bà Ê để xem xét chia thừa kế cho phù hợp, gây thiệt thòi cho ông Tây.

Bên cạnh đó những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như anh Sang thừa nhận ông Tây đã cho anh phần đất tại thửa 139 diện tích đo đạc thực tế là 1.830,lm2 và anh đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất; anh Đồng cũng thừa nhận ông Tây đã chia cho anh phần đất tại thửa 143 diện tích 1.134,6m2 anh đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, anh Sang, anh Đồng không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn, các anh không yêu cầu chia thừa kế vì đã được ông Tây chia đất rồi. Bà Bọt là mẹ bà Ê cũng có ý kiến nên để đất lại cho ông Tây canh tác, bà không nhận di sản thừa kế. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu chia thừa kế cho các nguyên đơn chia cho các nguyên đơn được hưởng thừa kế nhưng phần di sản còn lại của bà Ê ( 06 kỷ phần thừa kế) cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết giao cho ai hoặc giao cho ai quản lý di sản là chưa giải quyết triệt để vụ án.

Đồng thời khi đo đạc phần đất để chia thừa kế cho các nguyên đơn cấp sơ thẩm chưa xem xét tính hợp lý trong việc sử dụng phần đất còn lại của bị đơn, thửa 142 được tách chia cho các nguyên đơn được hưởng phần thừa kế thuộc chiết thửa 142-2 đến 142-8 phần còn lại thửa 142-9 có diện tích 121,1 m2 và thửa 142-1 cách xa nhau không đảm bảo việc sử dụng đất.

Thửa 142 do ông Lê Văn Tây là người đứng tên và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; ông Tây là bị đơn trong vụ án. Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn chia thừa kế cho các nguyên đơn được hưởng phần đất tại thửa 142 này nhưng án sơ thẩm không buộc ông Tây giao đất cho các nguyên đơn sẽ không đảm bảo việc thi hành bản án.

Từ những vi phạm nghiêm trọng trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ như phân tích trên, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự cần phải hủy bản án sơ thẩm, để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

QUYT ĐỊNH:

Kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 29/2018/DS-ST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh V.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh V xét xử phúc thẩm theo hướng phân tích trên./.

 

 
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi