Quyết định kháng nghị phúc thẩm Doanh Đức Thụ về tội: “Hủy hoại rừng”

QUYẾT ĐỊNH KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

Căn cứ Điều 41, Điều 336, 338 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét bản án hình sự sơ thẩm số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã xét xử bị cáo Doanh Đức Thụ sinh năm 1986, trú tại thôn Nà Choán, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn và Bàn Thế Dũng sinh năm 1991, trú tại thôn Nà Lạn, xã Vân Tùng, huyện Ngân Sơn về tội: “Hủy hoại rừng” theo khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).

NHẬN THẤY:

Theo quy kết của bản án sơ thẩm: Khoảng đầu tháng 9/2016, do có nhu cầu lấy đất canh tác nên Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng là hai anh em đồng hao đã cùng nhau bàn bạc thống nhất, rồi Dũng gọi điện thỏa thuận thuê máy xúc của ông Bàn Văn Minh với giá 600.000đ/giờ. Sau đó ông Minh gọi điện thoại bảo Lý Văn Tuấn (là người lái máy xúc thuê cho Minh) điều khiển máy đến địa điểm làm cho Dũng và Thụ. Khi đến nơi, Dũng và Thụ cùng nhau hướng dẫn bên lái máy xúc để đào bới, san ủi cây cối trái phép, phá tổng diện tích 11.400m2 rừng phòng hộ, gây thiệt hại 23.033m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII thuộc thửa đất số 265, khoảnh 4, tiểu khu 114 thuộc thôn Nà Bưa, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn, đã được Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG878123 ngày 14/12/2009 cho hộ gia đình ông Hoàng Văn Nghiệp sinh năm 1966 trú tại thôn Nà Bưa, xã Thượng Ân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn để khoanh nuôi bảo vệ. Mục đích của các bị cáo là nhằm cải tạo để lấy đất canh tác nông nghiệp.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 189; Điều 20, Điều 33, Điều 41; điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 585, 587, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tuyên bố các bị cáo Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng phạm tội “Hủy hoại rừng”; Xử phạt mỗi bị cáo 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo vào trại thụ hình.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Bàn Thế Dũng phải có trách nhiệm bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn số tiền 9.072.750đ; xác nhận số tiền này bị cáo đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai số 07922 ngày 06/6/2018. Buộc bị cáo Doanh Đức Thụ phải có trách nhiệm bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn số tiền 9.072.7500; xác nhận số tiền này bị cáo đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn theo biên lai số 07923 ngày 06/6/2018.

Về xử lý vật chứng trong vụ án: Giao cho Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn quản lý và xử lý theo thẩm quyền 23.033m3 thuộc nhóm V đến nhóm VIII đang để tại diện tích rừng bị phá theo quy định.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm Ngoài ra bản án còn tuyên quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo.

XÉT THẤY:

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn đã xét xử bị cáo Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng về tội: “Hủy hoại rừng” theo điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) là đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy:

1. Cấp sơ thẩm điều tra chưa đầy đủ, đánh giá chưa toàn diện, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội.

Trong vụ án ngoài hai bị cáo là Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng bị khởi tố điều tra, truy tố, xét xử thì còn có Lý Văn Tuấn sinh năm 1994 trú tại thôn Pác Nạn, xã Bằng Vân, huyện Ngân Sơn là người lái máy xúc thuê cho Bàn Văn Minh. Bàn Thế Dũng là người trực tiếp gọi điện thoại cho Bàn Văn Minh đế thỏa thuận việc thuê máy xúc đào bới khu rừng tại thửa đất 265, chi phí 600.000đ/giờ; Minh không trực tiếp đến hiện trường, mà chỉ gọi điện thoại bảo Tuấn điều khiển máy xúc đến làm cho Dũng và Thụ theo yêu cầu của họ. Khi Tuấn điều khiển máy xúc đến hiện trường, Dũng và Thụ trực tiếp chỉ vị trí, ranh giới cho Tuấn thực hiện việc đào bới, cải tạo đất. Tuấn không hỏi là rừng loại gì, do ai quản lý, Có được phép cải tạo rừng chưa. Điều đó thể hiện Tuấn không quan tâm đến rừng loại gì, có được phép cải tạo hay không nhưng vẫn dùng máy xúc đào bới, san gạt phá rừng. Do đó hành vi của Lý Văn Tuấn có dấu hiệu phạm tội “Hủy hoại rừng” với vai trò là người thực hành trong vụ án. Ngoài ra Bàn Văn Minh là chủ máy xúc có liên hệ trực tiếp với bị cáo Dũng và Thụ để san gạt diện tích rừng trên, nhưng chưa được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm làm rõ vai trò trách nhiệm.

2. Việc xác định sai tư cách tham gia tổ tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Ông Hoàng Văn Nghiệp đã được Ủy ban nhân dân huyện Ngân Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ký hợp đồng khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên với Hạt kiểm lâm huyện Ngân Sơn, được hưởng lợi ích vật chất trên mảnh đất đó theo hợp đồng; ông Bàn Văn Minh là chủ máy xúc (là phương tiện phá rừng), là vật chứng liên quan đến vụ án; Lý Văn Tuấn là người trực tiếp điều khiến máy xúc đào bới, san gạt phá rừng. Bản án sơ thẩm xác định ông Hoàng Văn Nghiệp, ông Bàn Văn Minh, ông Lý Văn Tuấn tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng là xác định sai tư cách tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

3. Việc xử lý vật chứng đối với số g.

Trong hồ sơ vụ án thể hiện: số gỗ bị thiệt hại gồm 182 cây có tổng khối lượng 23,033m3 thuộc nhóm V đến nhóm VIII, kết quả định giá tài sản trị giá là 18.145.500đ (Mười tám triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm đồng). Ngày 06/6/2018 các bị cáo Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng đã nộp đủ số tiền theo bên Nguyên đơn dân sự yêu cầu tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn để thực hiện việc bồi thường. Mặc khác các bị cáo đã tự trồng 700 cây thông để khắc phục hậu quả. Do đó số vật chứng là 23,033m3 gỗ từ nhóm V đến nhóm VIII, không thuộc loại gỗ cấm khai thác sử dụng thì phải tuyên cho các bị cáo Doanh Đức Thụ và Bàn Thế Dũng thì mới đúng quy định của pháp luật.

4. Việc áp dụng điểm h khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) là chưa phù hợp với Nghị quyết số Nghị quyết số 41/20177QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội và Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) hủy hoại rừng phòng hộ diện tích trên 3.000m2 thì phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm b khoản 3 Điều 189.

Theo Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) hủy hoại rừng phòng hộ có diện tích l0.000m2 trở lên thì phạm tội với tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c khoản 3 Điều 243 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy án sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 3 Điều 189 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) xét xử đối với các bị cáo là chưa thực hiện nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.

Với nhận định như đã phân tích ở trên, xét thấy việc điều tra vụ án chưa đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt người phạm tội, xác định sai tư cách tham gia tố tụng, xử lý vật chứng chưa đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Vì vậy cần thiết phải hủy bản án hình sự số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn để điều tra lại theo thủ tục chung.

Vĩ các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng: Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 10/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn để điều tra lại./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi