Quyết định kháng nghị phúc thẩm Vụ án: “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hônn

 

Căn cứ Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ các Điều 278, 279 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2018/HNGĐ-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ. Sau khi nghiên cửu hồ sơ:

Vụ án: “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn" giữa:

Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc Hải.

Địa chỉ: 74 Y Ngông, thành phố B, tỉnh Đ.

Bị đơn: Bà Đặng Thị Kim Hường.

Địa chỉ: 85 Đỗ Nhuận, thành phố B, tỉnh Đ.

Vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Anh Đào;

Địa chỉ: 167 Buôn Kao, xã Ea Kao, thành phố B, tỉnh Đ.

Bị đơn: Ông Phạm Ngọc Hải và bà Đặng Thị Kim Hường.

Cùng địa chỉ: 74 Y Ngông, thành phố B, tỉnh Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Bá Sơn; Địa chỉ: 85 Đỗ Nhuận, phường Tân Lợi, thành phố B, tỉnh Đ.

Bà Đặng Thị Nở; Địa chỉ: 81 Nguyễn Cư Trinh, phường Tự An, thành phố B, tỉnh Đ.

Bà Đặng Thị Mai; Địa chỉ: 183F/37 Tôn Thất Thuyết, phường 4, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Nguyễn Thanh Bình; Địa chỉ: 129 Phan Chu Trinh, thành phố B, tỉnh Đ.

Ông Nguyễn Quốc Trung; Địa chỉ: Km 12, quốc lộ 26, xã Ea Tu, thành phố B, tỉnh Đ.

NHẬN THẤY

Nội dung vụ án: Ông Hải và bà Hường kết hôn, đến năm 2016 được TAND thành phố B chấp nhận ly hôn tại Bản án sơ thẩm hôn nhân và gia đình 128/2016/HNGĐST ngày 15/9/2016. Trong thời kỳ hôn nhân ông Hải bà Hường có tạo dựng được các tài sản và nay có yêu cầu chia tài sản chung như sau:

- Tài sản thứ 1: Thửa đất số 26, tờ bản đồ 35 diện tích 882,5m2 (gọi tắt là thửa đất có diện tích 882,5m2), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy CNQSDĐ) số AL 640352 do UBND TP. B cấp ngày 02/01/2008 tên Phạm Ngọc Hải và Đặng Thị Kim Hường, đất tọa lạc tại 74 Y Ngông, phường Tân Tiến, TP. B, ông Hải đang quản lý sử dụng.

- Tài sản thứ 2: Thửa đất số 621, tờ bản đồ 20 mua chung với ông Nguyễn Bá Sơn tại số 61 hẻm 1, liên gia 5, tổ dân phố 7A, phường Tân Lợi, TP. B, do UBND TP. B cấp Giấy CNQSDĐ số BP 224253 ngày 21/10/2013, đứng tên Phạm Ngọc Hải và Nguyễn Bá Sơn, trong đó diện tích đất có chiều ngang 6m, chiều dài bên trái là 31,68m và bên phải dài 30,54m. Diện tích 186,66m2 (gọi tắt là thửa đất có diện tích 186,66m2), trên phần đất này vợ chồng ông Hải xây dựng 01 căn nhà có diện tích 240m2; hiện bà Hường đang quản lý sử dụng, trị giá tài sản 1.500.000.000 đồng.

Nay ông Hải đề nghị chia tài sản như sau: Ông Hải sẽ nhận quản lý sử dụng tài sản thứ 1 và giao tài sản thứ 2 cho bà Hường và không yêu cầu đền bù tiền chênh lệch.

Quá trình chung sống vợ chồng ông Hải xây dựng được 01 căn nhà tại số 61 hẻm 1, liên gia 5, tổ dân phố 7A, p. Tân Lợi, thành phố B do tiền thu nhập từ tiền lương, chăn nuôi và trồng cà phê. Việc làm nhà không vay bất cứ khoản tiền nào của bà Đặng Thị Anh Đào, nay bà Đào khởi kiện yêu cầu ông Hải liên đới trả nợ 500.000.000đ thì ông không đồng ý ông không vay, bà Hường có vay tiền không thì ông không biết. Tiền xây nhà năm 2013 là từ tiền lương của ông Hải khi công tác tại Công an tỉnh Đ, tiền do chăn nuôi tại nhà số 74 Y Ngông, tiền từ làm rẫy ở xã Cư Suê, huyện C (năm 2008 đã bán lại cho bà Hoa với giá 10 cây vàng), từ thu nhập làm rẫy ở Nông trường cà phê Thắng Lợi thuộc xã Hòa Đông, huyện K, nay đang do bố mẹ ông quản lý. Ông Hải xác định không vay tiền ai và cũng không nghe bà Hường nói về việc vay nợ. Năm 2014 khi ly hôn thì bà Hường xác định không có vay nợ gì.

Đối với những người bà Hường kê khai là có vay tiền thì ông Hải xác định ông không vay bất cứ khoản tiền nào của người trong gia đình bà Hường.

Bà Hường trình bày: Các tài sản trên ông Hải kê là đúng. Ngoài ra còn có nợ chung như sau: nợ bà Đặng Thị Nở: 50.000.000đ; nợ bà Đặng Thị Mai: 100.000.000đ; nợ bà Đặng Thị Anh Đào: 500.000.000đ; nợ ông Nguyễn Thanh Bình: 100.000.000đ. Khi vay chỉ có bà Hường viết và ký giấy nợ, ông Hải biết việc bà Hường đi vay và đồng ý vay để làm nhà. Trước đây có làm rẫy như lời ông Hải trình bày nhưng không có hiệu quả kinh tế nên đã bán lại cho bà Phan Thị Hoa, tiền bán rẫy không đủ để trả nợ vay mua rẫy. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng bà không chăn nuôi gì ở trên đất tại số 74 Y Ngông cả.

Bà yêu cầu giải quyết như sau: Về nợ: Ông Hải phải có trách nhiệm cùng trả hết số nợ trên. Về tài sản: bà Hường yêu cầu được chia thửa đất diện tích 882,5m . Đối với số tiền cho thuê đất 5.000.000đ/tháng tại 74 Y Ngông từ tháng 10/2014 đến nay, ông Hải đã chiếm dụng số tiền này. Bà Hường yêu cầu Tòa án giải quyết toàn bộ số tiền này cho bà; buộc ông Hải chia phần lương hưu cho bà Hường.

Bà Đặng Thị Anh Đào khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Hải bà Hường phải trả số tiền nợ 500.000.000đ.

Bản án dân sự sơ thẩm trên đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 173, Điều 165, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 471, Điều 477 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 29, Điều 33 và Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình;

Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Tuyên xử,

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Phạm Ngọc Hải về việc yêu cầu chia tài sản sau khỉ ly hôn.

- Giao cho ông Hải được quyền quản lý, sử dụng tài sản gồm: 01 quyền sử dụng đất đã được cấp Giấy CNQSDĐ số AL 640352 do UBND TP. B cấp ngày 02/01/2008, tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 35, diện tích 882,5m2 tọa lạc tại phường Tăn Tiến, TP. B, đứng tên ông Phạm Ngọc Hải, bà Đặng Thị Kim Hường (nêu tứ cận kèm theo).

- Giao cho bà Đặng Thị Kim Hường được quyền sử dụng và sở hữu các tài sản: 01 quyền sử dụng đất đã được Giấy CNQSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gẳn liền với đất số BP 224253 do UBND TP. B cấp ngày 21/10/2013 tại thửa đất số 621, tờ bản đồ 20, diện tích 505,8m2, tọa lạc tại phường Tân Lợi, TP. B, đứng tên ông Phạm Ngọc Hải và ông Nguyễn Bá Sơn. Phần đất của bà Đặng Thị Kim Hường có chiều ngang 06m, chiều dài 30m, diện tích 180m2 (nêu tứ cận kèm theo). Cùng toàn bộ tài sản trên đất gồm 01 căn nhà 2 tầng có diện tích sử dụng 276m2, sân có diện tích 21m2, tường rào cỏ diện tích 14m2, 02 cánh cổng có diện tích 3,08 m2 và 01 giếng khoan sâu 80m.

- Bà Đặng Thị Kim Hường có nghĩa vụ bù chênh lệch trị giá tài sản cho ông Phạm Ngọc Hải 104.222.840đ.

- Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đặng Thị Anh Đào. Buộc bà Đặng Thị Kim Hường có trách nhiệm trả cho bà Đào khoản tiền 500.000.000đ nợ gốc. Cháp nhận việc bà Đào không yêu cầu tính lãi suất trong thời gian vay.

Ngoài ra bản án còn tuvên về chi phỉ định giả, án phỉ và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 18/9/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ nhận được bản án sơ thẩm trên.

XÉT THẤY

Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2018/HNGĐ-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B có một số vi phạm sau:

Về thủ tục tố tụng: Ông Hải và bà Hường có 02 tài sản chung là một thửa đất diện tích 882.5m2 và 01 thửa đất diện tích 505,8m2. Tại thời điểm ông Hải và bà Hường được cấp Giấy CNQSDĐ thì anh Phạm Ngọc Qúy (con của ông Hải và bà Hường) sinh năm 1984 đã trên 18 tuổi, cấp sơ thẩm không đưa anh Qúy tham gia tố tụng vi phạm khoản 4 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Tại Đơn khởi kiện ngày 10/10/2016 ông Hải có nguyện vọng tnuốn được nhận thửa đất có diện tích 882,5m2, không yêu cầu bà Hường phải thanh toán tiền chênh lệch tài sản. Nhưng án sơ thẩm tuyên giao cho ông Hải quản lý sử dụng thửa đất diện tích 882,5m2 nhưng tuyên buộc bà Hường phải thanh toán cho ông Hải 104.222.840đ là không đúng, vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vi phạm khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hường.

Án sơ thẩm tuyên giao cho ông Hải và bà Hường mỗi người 01 thửa đất nhưng không tuyên độ dài tứ cận các cạnh của thửa đất là thiếu sót, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Hơn nữa đối với thửa đất diện tích 508m2 ông Hải bà Hường mua chung với ông Sơn thì các bên đương sự đều khai rằng diện tích đất của ông Hải và bà Hường mua chung là 186,66m2 có cạnh chiều ngang 6m; chiều dài bên phải 31,68 m, bên trái là 30,54 m nhưng tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/3/2018 thì hai cạnh chiều dài của lô đất bàng nhau, cạnh dài 30m là không chính xác.

Đối với tiền 500.000.000đ vay của bà Đào: Ngày 16/6/2013 bà Hường có ký giấy vay bà Đào 500.000.000đ. Bà Hường khai tiền vay dùng xây dựng nhà ở, trước đây gia đình có mua rẫy để làm nhưng không mang lại hiệu quả nên vợ chồng bán lại cho bà Hoa, tiền bán rẫy cũng không đủ để trả nợ tiền mua đất rẫy; trong thời kỳ hôn nhân không chăn nuôi gì ở nhà số 74 Y Ngông; Ông Hải khai bà Hường tự vay ông không biết, tiền xây nhà là từ tiền lương, tiền chăn nuôi, tiền bán rẫy ... Nhà được xây vào năm 2013 cùng thời điểm bà Hường vay tiền của bà Đào và một số người khác, cấp sơ thẩm không yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ về việc xây nhà để làm rõ khi xây nhà thì ông Hải hay bà Hường là người trả chi phí...Để làm rõ về nguồn gốc số tiền xây nhà mà buộc bà Hường phải trả cho bà Đào 500.000.000d là chưa đủ cơ sở, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.

Xét thấy, cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự, không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng, giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên cần hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Kháng nghị Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2018/HNGĐ-ST ngày 30/8/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ theo thủ tục phúc thẩm.

2. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đ xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi