Kháng nghị đối với Bản án hình sự phúc thẩm về phần trách nhiệm dân sự của bị cáo trong vụ án hình sự

KHÁNG NGHỊ

Đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 939/2013/HSPT ngày 19/9/2013 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2013/HSST ngày 20/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

 

CHÁNH ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

 

Căn cứ Điều 273 và Điều 275 Bộ luật tổ tụng hình sự;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án đối với bị cáo:

Võ Văn Tám, sinh năm 1969; trú tại tổ 6, khu phố 4 thị trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu; nghề nghiệp: nguyên giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Hoàng Tám; trình độ học vấn: 12/12; con ông Võ Khá và bà Phan Thị Trúc (đều đã chết); có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày 20/7/2012.

Người bị hại:

1.Ông Lê Công Huấn, sinh năm 1966; trú tại tổ 19 ấp Suối Lúp, xã Bình Ba, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -  Vũng Tàu.

2.Ông Nguyễn Đức Quang, sinh năm 1971; trú tại 4C5 Cư xá 304 đường Điện Biên Phủ, phường 25, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

(Ngoài ra trong vụ án này còn có hai người bị hại khác)

NHẬN ThẤY:

          Theo cáo trạng, bản án hình sự sơ thẩm và bản án hình sự phúc thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ khoảng tháng 07/2010 đến tháng 12/2011, Võ Văn Tám đã chấp nhận thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác để cho họ vay khoản tiền nhỏ (từ 3.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng). Sau đó, Tám tự làm giả 01 giấy bán đất, 02 hợp đồng mua bán nhà đất từ tên của người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp sang tên cho Võ Văn Tám, Tám tự ký giả tên người bán đất rồi dùng các giấy bán đất, hợp đồng mua bán nhà đất đã được làm giả cùng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Tám nhận thế chấp trước đó làm hợp đồng chuyển nhượng gán trừ nợ hoặc  thế chấp để vay người khác khoản tiền lớn hơn để chiếm đoạt, cụ thể:

Khoảng cuối năm 2011, Võ Văn Tám nợ ông Lê Công Huấn và ông Nguyễn Đức Quang 300.000.000 đồng nhưng Tám không có tiền trả. Võ Văn Tám đã tự làm hợp đồng mua bán nhà đất chuyển quyền sử dụng đất ghi ngày 02/5/2007, trong đó bên bán đất là ông Trương Văn Anh (chủ đất cũ), bà Cao Thanh Minh (chủ đất hiện tại), bên mua là Võ Văn Tám, chuyển nhượng 3.179m² đất tại xã Bình Giã, huyện Châu Đức. Sau đó, Võ Văn Tám tự ký giả chữ ký tên bà Minh, người làm chứng là bà Nguyễn Thị Bích Vân (em vợ Tám), tự lấy dấu chức danh luật gia và dấu tên Nguyễn Thị  Bích Vân đóng vào hợp đồng rồi ký tên Tám và đóng dấu công ty TNHH Hoàng Tám vào hợp đồng. Ngày 10/9/2011, Võ Văn Tám sử dụng hợp đồng giả này làm hợp đồng đặt cọc về việc mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích dất nêu trên (kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên là Cao Thanh Minh) cho ông Lê Công Huấn và ông Nguyễn Đức Quang. Ông Huấn, ông Quang tin tưởng là Tám đã mua mảnh đát của bà Cao Thanh Minh nên đã đồng ý mua lại với giá chuyển nhượng 600.000.000 ngoài số tiền 300.000.000 đồng đã cho Tám vay trước đó. Võ Văn Tám cam kết sẽ lên hệ với bà Cao Thanh Minh ký giấy tờ chuyển nhượng tại phòng công chứng trong thời gian không quá 07 ngày kể từ ngày ký hợp đồng và hoàn chỉnh thủ tục sang tên cho ông Lê Công Huấn, ông Nguyễn Đức Quang trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được tiền bán đất. Do thấy Võ Văn Tám không chịu thực hiện được việc ký kết giấy tờ chuyển nhượng và hoàn chỉnh thủ tục sang tên như cam kết nên ông Huấn, ông Quang tìm hiểu thì biết Tám không có mảnh đất trên. Ông Huấn, ông Quang đòi tiền nhưng Võ Văn Tám không trả tiền nên ông Huấn, ông Quang làm đơn tố cáo Tám. Qua điều tra xác định, trước đó ông Lê Thành Công là chồng bà Minh có thế chấp cho Tám giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để vay của Tám số tiền là 10.000.000 đồng. ông Công đã trả hết tiền cho Tám nhưng Tám không trả lại cho ông Công giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Minh.

Cùng thủ đoạn trên, Võ Văn Tám đã chiếm đoạt của ông Lê Thanh Hoài số tiền 140.000.000 đồng, ông Lê Văn Liêm số tiền 263.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 2268/GĐ (PC45)-DD3 ngày 05/12/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết luận:

- Vân tay, chữ ký, chữ viết trên " Hợp đồng đặt cọc về việc mua bán chuyển nhượng" đề ngày 10/9/2011 so với vân tay, chữ ký, chữ viết của Võ Văn Tám và Nguyễn Thị Lệ Thu do Cơ quan điều tra thu thập là do Võ Văn Tám, Nguyễn Thị Lệ Thu lăn tay, ký tên và viết ra.

- Chữ ký dứng tên Cao Thanh Minh dưới mục "đại diện bên bán" trên "Hợp đồng mua bán nhà đất chuyển quyền sử dụng nhà đất" đề ngày 02/5/2007 so với chữ ký của Cao Thanh Minh do cơ quan điều tra thu thập không phải do cùng một người ký.

- Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị Bích Vân dưới mục "người làm chứng" trên "Hợp đồng mua bán nhà dất chuyển quyền sử dụng nhà đất" đề ngày 02/5/2007 và trên "Hợp đồng mua bán nhà đất" đề ngày 12/7/2010 so với mẫu chữ ký của Nguyễn Thị Bích Vân do cơ quan điều tra thu thập không phải do cùng một người ký.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2013/HSST ngày 20/6/2013, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 139, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt Võ Văn Tám 15 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, Điều 476 Bô luật dân sự buộc Tám phải trả cho ông Lê Công Huấn và ông Nguyễn Đức Quang 491.155.000 đồng, trong đó gốc là 430.000.000 đồng, tiền lãi là 61.155.000 đồng. Ngoài ra, còn buộc Tám phải trả số tiền chiếm đoạt của Lê Thanh Hoài và ông Lê Văn Liêm cùng với lãi.

Ngày 01/7/2013, ông Lê Công Huấn có đơn kháng cáo đề nghị xem xét xử lý hình sự đối với bà Nguyễn Thị Lệ Thu và ông Đỗ Thiện Tuân. Ngày 9/7/2013, ông Huấn có kháng cáo bổ sung đề  nghị xem xét phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Tám đối với ông Huấn và ông Quang.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 939/2013/HSPT ngày 19/9/2013,Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của ông Huấn, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Ngày 30/9/2013, ông Lê Công Huấn có đơn đề nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm về phần trách nhiệm dân sự của Tám đối vói ông Huấn, ông Quang.

XÉT THẤY

Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm kết án Võ Văn Tám 15 (mười lăm) năm tù về tội "Lưa đảo chiếm đoạt tài sản" là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về phần trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra Tám khai: "Do nợ tiền ông Quang và ông Huấn số nợ là 300.000.000 đồng, khi ông Quang và ông Huấn đòi nợ, tôi không có tiền để trả nên tôi làm giả hợp đồng mua đất của bà Cao Thanh Minh rồi nói dối ông Quang và ông Huấn là tôi bán mảnh đất đã mua của bà Cao Thanh Minh để trừ nợ, giá mảnh đất đó là 600.000.000 đồng. Hai bên đã làm hợp đồng đặt cọc vào ngày 10/9/2011, ông Quang và Ông Huấn đã giao cho tôi 300.000.000 đồng ngoài số tiền tôi đã vay trước đây; tổng cộng tôi đã nhận đủ số tiền 600.000.000 đồng". Lời khai này của Tám phù hợp với lời khai của ông Quang và ông Huấn (tại BL 65-66).

Ngoài ra, Tám khai trước đó Tám còn nợ của ông Quang và ông Huấn số tiền 730.000.000 đồng, do không có tiền trả nợ nên Tám đồng ý nhương lại ½ căn nhà mà Tám mua chung với ông Đỗ Thiện Tuân là anh rể Tám, ông  Tuân đã cam kết thay mặt Tám trả khoản nợ 730.000.000 đồng cho ông Quang và ông Huấn (cam kết đã lập ngày 14/9/2011) ông Tuân đã trả được 300.000.000 đồng, còn nợ 430.000.000 đồng (BL50). Ông Lê Công Huấn xác nhận sự việc này (BL 67).

Như vậy, ngoài số tiền 600.000.000 đồng bị cáo Tám lừa đảo chiếm đoạt của ông Quang và ông Huấn bị xử lý trong vụ án này, Võ Văn Tám còn liên quan đến khoản nợ ông Quang và ông Huấn số tiền 730.000.000 đồng đã chuyển giao nghĩa vụ cho ông Đỗ Thiện Tuân. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Tám khai có nợ ông Quang và ông Huấn số tiền 730.000.000 đồng, nhưng ông  Tuân đã trả 300.000.000 đồng nên chỉ còn nợ 430.000.000 đồng (ông Huấn cũng thừa nhận nội dung này), Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền bị cáo Tám lừa đảo chiếm đoạt của ông Quang và ông Huấn và khoản nợ 730.000.000 đồng của Tám có liên quan đến ông Tuân, mà chỉ căn cứ vào lời khai của Tám và việc ông Huấn thừa nhận về khoản nợ này để tuyên buộc Tám bồi thường cho ông Quang và ông Huấn số tiền 430.000.000 đồng là chưa đủ căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Huấn có kháng cáo yêu cầu  Tám phải bồi thường 600.000.000 đồng nhưng kháng cáo của ông Huấn quá hạn (theo khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng hình sự) nên không được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm số 939/2013/HSPT ngày 19/9/2013 của  Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh và bản án hình sự sơ thẩm số 44/2013/HSST ngày 20/6/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Võ Văn Tám đối với Lê Công Huấn và ông Nguyễn Đức Quang; đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án phúc thẩm, bản án hình sự sơ thẩm nêu trên về phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Võ Văn Tám đối với ông Lê Công Huấn và ông Nguyễn Đức Quang; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi