Kháng nghị giám đốc thẩm đối với vụ án dân sự “tranh chấp tài sản chung”

Căn cứ Điều 283, Điều 285, Khoản 2 Điều 286 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2011;

Căn cứ khoản 7 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 82/2014/QH13 ngày 24/11/2014 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án “tranh chấp tài sản chung”, giữa:

Nguyên đơn:

l. Ông Trần Bảo Lân, sinh năm 1947;

Trú tại: Tổ 5, thị trấn Chợ Mới, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

2. Anh Trần Bảo Chung, sinh năm 1969;

3. Anh Trần Bảo Lĩnh, sinh năm 1971;

Đều trú tại: Thôn Nà Giáo, xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Bị đơn: Anh Trần Bảo Toại, sinh năm 1976;

Trú tại: Thôn Nà Giáo, xã Yên Hân, huvện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1.   Anh Lê Phúc Môn, sinh năm 1978;

2. Chị Phan Thị Phượng, sinh năm 1977;

3. Chị Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1977;

  1.    Bà Trịnh Thị Đường, sinh năm 1941;

Đều trú tại: Thôn Nà Giáo, xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

NHẬN THẤY:

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 12/2013/DS-PT ngày 19/11/2013, Tòa án nhân dân Tỉnh Bắc Kạn quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Bảo Lân, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 02/2013/DSST ngày 29 tháns 8 năm 2013 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn: Áp dụng Điều 655; 659 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 25; 33 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 50, 136 Luật đất đai, tuyên xử:

Bác đơn khởi kiện của đồng nguyên đơn (ông Trần Bảo Lân, anh Trần Bảo Chung và anh Trần Bảo Lĩnh) về việc yêu cầu bị đơn (anh Trần Bảo Toại) trả lại ba thửa đất cho dòng họ Trần sử dụng gồm: Thửa đất số 41 diện tích 132 m2, thửa đất số 59 diện tích 273 m2; thửa đất số 61 diện tích 575 m2 đều thuộc tờ bản đồ so 21 của xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Ngoài ra Tòa cấp phúc thẩm còn tuyên phần án phí.

Sau khi có án phúc thẩm, ông Trần Bảo Lân có đơn đề nghị kháng nghị bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm. Ngày 04/11/2015 Đại biểu Quốc hội Triệu Thị Thu Phương thuộc Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Kạn có phiếu chất vấn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao yêu cầu báo cáo kết quả giải quyết đơn khiếu nại của ông Tràn Bảo Lân.

XÉT THẤY:

Về Tố tụng: Đơn khởi kiện ngày 12/12/2012 của ông Trần Bảo Lân và anh Trần Bảo Chung, anh Trần Bảo Lĩnh “về việc tranh chấp đất hương hỏa dòng họ ” nêu rõ việc ông Trần Bảo Lân và anh Trần Bảo Chung, anh Trần Bảo Lĩnh được “được dòng họ ủy quyền” khởi kiện yêu cầu anh Trần Bảo Toại trả lại đất hương hỏa cho dòng họ; kèm theo đơn khởi kiện là biên bản họp họ Trần ngày 23/10/2012 có nội dung giao cho nguyên đơn khởi kiện đòi đất hương hỏa. Căn cứ nội dung đơn khởi kiện và các biên bản họp họ do nguyên đơn gửi kèm, cần xác định nguyên đơn là dòng họ Trần; ông Trần Bảo Lân, anh Trần Bảo Chung, anh Trần Bảo Lĩnh chỉ là người đại diện theo ủy quyền của dòng họ Trần. Tòa án hai cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định nguyên đơn là ông Trần Bảo Lân và anh Trần Bảo Chung, anh Trần Bảo Lĩnh là chưa đảm bảo đúng với quy định tại Khoản 2 Điều 56 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tài liệu có trong hồ sơ vụ án hiện chưa có tài liệu để xác định dòng họ Trần có bao nhiêu thành viên và chưa có đầy đủ thủ tục ủy quyền họp pháp của các hộ gia đình là thành viên trong dòng họ cho ông ông Trần Bảo Lân và anh Trần Bảo Chung, anh Trần Bảo Lĩnh đại diện khởi kiện, cầm làm rõ những vấn đề này mới có cơ sở để thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của Dòng họ.

Mặt khác, trong đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết 03 vấn đề, trong đó vấn đề thứ 3 là yêu cầu thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có liên quan đến các thửa đất sổ 41, 59, 61. Đây là yêu cầu hủy quyết định cá biệt, Tòa án hai cấp không đưa UBND huyện Chợ Mới là cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Toại vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi phạm quy định tại Điều 32a Bộ luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, các đương sự đều xác định diện tích đất các thửa 41, 59, 61 trước khi anh Toại sử dụng thì ông Trần Bảo Đương (là bố anh Toại) quản lý, sử dụng. Ông Đương đã chết năm 2008, quá trình giải quyết bà Đinh Thị Thìn (vợ ông Đương) và anh Toại không thừa nhận là đất hương hỏa nhưng Tòa án hai cấp không đưa bà Thìn và chị Thuận (con gái ông Đương) vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là vi pham khoản 4 Điều 56 BLTTDS.

Về nội dung: Xét biên bản chia thừa kế ngày 14/4/2000 có nội dung “để lại s diện tích làm hương hỏa chung cho 3 anh em họ Trần gồm: Thôm cái Tồng nghịu chưa rõ diện tích và 03 thửa Ca Lậu gồm có: thửa thứ nhất diện tích 125 m2, thửa thứ hai diện tích 125 m2, thửa thứ ba diện tích 100 m2, tổng cộng 350 m2, giao cho ông Trần Bảo Đương có ừ'ách nhiệm bảo quản để thờ cúng, không được phép chuyển nhượng, phân chia, nếu không làm nghĩa vụ thờ cúng, thì 3 anh em có quyền thu hồi”. Nội dung này chỉ nói nên phần đất chung cho 03 anh em không có nội dung nào thể hiện đất là của dòng họ Trần. Biên bản này không có chữ ký và không có điểm chỉ của bà Kim, không có người làm chứng, không có diện tích ao, không có tứ cận giáp ranh các thửa và số thửa. Tuy biên bản có chữ ký của ông Đương (là cha anh Toại) nhưng anh Toại không thừa nhận và cho rằng đất của cha mình để lại, không phải đất hương hỏa. Trên thực tế vợ chồng ông Đương bà Thìn cùng vợ chồng anh Toại san đất lấp chỗ trũng, làm nhà trên đất từ 2007 và người trong dòng họ còn đến làm giúp nhưng không ai có ý kiến phản đối. Do đó, cần giám định xác định chữ ký của ông Đương trong biên bản chia thừa kế trên đánh giá được tính xác thực của biên bản chia thừa kế ngày 14/4/2000 để làm căn cứ giải quyết vụ án. Chưa tiến hành giám định chữ ký của ông Đương, Tòa án hai cấp đã xác định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Quá trình giải quyết, tại biên bản làm việc ngày 16/01/2013, Chính quyền xã Yên Hân trả lời “qua đi chiếu với bản đồ dải thửa năm 1985 lưu trữ tại phưng ... "không có thửa nào có diện tích 125m2, 100m2 và thửa ao lớn văn bản chia thừa kế đất đai ngày 14/4/2000 và “Qua đối chiếu với bản đồ chính, số sách lưu giữ tại UBND xã ... không xác định được thửa đất ao (thôn Tồng Ngịụ), 02 thửa đất a diện tích 125m2 , 01 thửa đất lúa l00m2 bà Ma Thị Kim chia thừa kế ngày 14/4/2000 có chính là các thửa đất sỗ 41, 59, 61 anh Trần Bảo Toại đã được cp sổ bìa đỏ hay không”. Như vậy, các vấn đề đối chiếu thửa và diện tích tranh chấp đất lúa, đất ao cũng còn nhiều mâu thuẫn. Đất tranh chấp là đất nông nghiệp (đất lúa và đất ao thả cá, không phải là đất thổ cư. Tại thời điểm năm 2000, đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được coi là di sản để thừa kế. Trong khi anh Toại được cấp đất tháng 12 năm 2003 (trước khi thực hiện thừa kế đất nông nghiệp theo Luật Đất đai 2003 tháng 7/2004). Khi anh Toại được cấp đất thi bà Kim và ông Đương còn sống cùng trên đất và cũng không ai có ý kiến gì. Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất địa phương cung cấp thì việc cấp đất cho anh Toại công khai cùng 640 hộ trong xã và trong cùng đợt cấp đất với hộ ông Lân, anh Chung và anh Lĩnh, thủ tục cấp có niêm yết công khai. Do đó, cần xác minh sổ sách tại địa phương để làm rõ ai là người đứng tên kê khai, sử dụng và nộp thuế nông nghiệp các thửa đất tranh chấp vào thời điểm từ năm 2000 trở về trước và kiến của UBND xã, huyện về chính sách quản lý, giao đất nông nghiệp trong từng thời điểm của địa phương như thế nào? Tại địa phương có việc giao đất lúa cho dòng họ làm đất hương hỏa (đất sử dụng chung cho dòng họ) không? Trên cơ sở đó mới đủ căn cứ để xem xét chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án hai cấp chưa làm rõ các vấn đề này đã bác yêu cầu của nguyên đơn cũng là chưa đủ căn cứ vững chắc.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊN  Kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 12/2013/DSPT ngày 19/11/2013 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

Đề nghị ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DSST ngày 29/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giải quyết sơ thẩm lại theo qui định của pháp luật.

2. Tạm đình chỉ thi hành bản án dân sự phúc thẩm nêu trên cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi