Kiến nghị khắc phục vi phạm pháp luật

 

Căn cứ Khoản 7 Điều 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014;

Căn cứ Khoản 1 Điều 21, Điều 57 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015,

Thông qua công tác kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án nhân cáp huyện trong thời gian từ ngày 01/5/2015 đến 31/5/2016, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã xác định có 08 Bản án, Quyết định giải quyết các vụ hành chính, kinh doanh, thương mại và lao động của Tòa án cấp huyện vi phạm về tạm ứng án phí và án phí như.sau:

  1.       Miễn giảm tiền tạm ứng án phí không đúng: 04 vụ.

Theo qui định tại Khoản 1 Điều 14 Pháp lệnh Án phí, lệ phí Tòa án thì: Người có khó khăn về kinh tế được ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận, thì được Tòa án cho miễn nộp một phần tiền tạm ứng án phí, án phí.

Tại Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 01/2012/NỌ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án thì mức án phí được miễn không vượt quá 50% mức tiền án phí mà theo qui định của Pháp lệnh người đó phải nộp.

Tại Khoản 4 Điều 5 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn như sau:

...Người không thuộc trường hợp được miễn nộp một phần án phí thì không được miễn.

Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau về việc nộp thay án phí và có đơn đề nghị miễn nộp một phần án phí mà theo qui định người này phải chịu nếu họ có đủ điều kiện qui định tại Điều 14 của Pháp lệnh; còn phần án phí mà họ nhận nộp thay cho người khác thì Tòa án không cho miễn nộp.

*Có 02 trường hợp vi phạm qui định trên, cụ thể:

+ Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 03/2015/QĐST- KDTM ngày 15/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Binh Tân. Nguyên đơn là Ngân hàng ACB- bị đơn là ông Nguyễn Minh Trí và bà Trần Thị Thúy Loan. Án phí của các đương sự là 11.363.500 đồng nhưng bị đơn nhận nộp thay cho phần của nguyên đơn. Nguyên đơn không thuộc diện được miễn, bị đơn thuộc đối tượng được miễn một phần với mức miễn tối đa trên phần nghĩa vụ của bị đơn là 50%(11.363.500: 2) = 2.840.492 đồng, nhưng Tòa án lại miễn 50% trên nghĩa vụ của cả nguyên đơn và bị đơn là 5.680.984 đồng. Do đó, làm thất thu cho ngân sách nhà nước 2.840.492 đồng.

+Tương tự trường hợp trên, Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 06/2015/QĐST-KDTM ngày 11/ 12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giữa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Đông và bị đơn là ông Nguyễn Tấn Nghi. Do Tòa án miễn luôn phần nộp thay cho Ngân hàng nên làm thất thu cho ngân sách nhà nước 9.480.312 đồng.

+ Quyết định Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự sô 03/2016/QĐST- KDTM ngày 12/5/2016 của Tòa án nhân dân huyện Binh Tân. An phí phải nộp là 1.000.000 đồng, sau khi được miễn một phân nghĩa vụ thì lẽ ra án phí phải là 750.000 đồng nhưng Tòa án chỉ tính 500.000 đồng làm thất thu ngân sách nhà nước 250.000 đồng.

Ngược lại, có vụ lẽ ra đương sự chỉ phải chịu án phí chí 1.560.000 đồng nhưng Tòa án lại tính 2.000.000 đồng là không đúng, gây thiệt hại cho đương sự 440.000 đồng.

  1.    Hoàn trả tiền tạm ứng án phí vụ án hành chính không đúng: 01 vụ.

Theo quy định Khoản 2 Điều 12 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự nộp được xử lý theo quy định của pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án. Theo quy định Khoản 6 Điều 18 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Khoản 1 Điều 6, Điểm a, Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2013 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì trong trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện, Tòa án đình chỉ theo quy định điểm b Khoản 1 Điều 120 Luật Tố tụng hành chính thì tiền tạm ứng án phí đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước. Nhưng Quyết định đình chỉ số 01/2014/ QĐST-HC ngày 18/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Bình Minh giải quyết vụ kiện Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai, giữa ông Nguyễn Văn Bảy và Uỷ ban nhân dân hị xã Bình Minh do người khởi kiện rút đơn, đã trả lại tiền tạm ứng án phí là không đúng điêu luật đã viện dẫn.ề

  1.    Tính tiền nộp tạm ứng án phí và tính án phí không đúng: 01 vụ.

Thu tạm ứng án phí trong vụ án lao động tranh chấp tiền lương, vi phạm Khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. (Quyết định số 01/2016/QĐST- LĐ ngày 03/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long)

  1.    Áp dụng mức án phí tranh chấp lao động không đúng: 02 vụ.

Theo qui định tại Mục 4 Phần I Danh mục mức án phí và lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Pháp lệnh sổ 10/2009 UBTVQH12 ngày 27/2/2009 thì mức án phí sơ thẩm đôi với các vụ án về tranh chấp lao động có giá ngạch từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng có mức án phí là 3%, nhưng Tòa án lại tính 5% là không đúng, gây thiệt hại cho đương sự 3.136.487 đồng (Bản án số 01/2006/LĐST ngày 20/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện Tam Binh).

Tương tự trường hợp này, Bản án số 02/2015/LĐST ngày 11/09/2015 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ cũng tính án phí trên nghĩa vụ phải thi hành 39.900.000đ X 5% = 1.995.000đ. Sau đó có văn bản đính chính tính lại mức 3% = 1.197.000 đồng, Thiệt hại cho đương sự 798.000 đồng. Tuy nhiên, văn bản đính chính không được lưu trong hồ sơ vụ án; bản án gốc và bản án phát hành tính án phí không phù hợp nhau.

Tòa án xác định tranh chấp và thụ lý vụ án kinh doanh thương mại có giá trị tranh chấp dưới 40 triệu đồng thì lẽ ra nguyên đơn phải nộp tạm ứng án phí theo mức 50% X 2.000.000 =1.000.000 đồng , nhưng Thẩm phán lại tính tạm ứng án phí theo vụ án dân sự là 50% ( 5% X 13. 891- 000 đồng) = 368. 000 đồng là không đúng (Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 06/2015/QĐST-KDTM ngày 27/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ).

Tổng số tiền thiệt hại cho Ngân sách nhà nước do vi phạm về án phí nêu trên gây thất thu cho ngân sách nhà nước là 12.520.000 đồng, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.

Để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất , góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và cá nhân, tố chức.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long:

KIẾN NGHỊ

  1.      Yêu cầu đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long có biện pháp chỉ đạo kiểm tra và tổ chức rút kinh nghiệm để khắc phục những vi phạm nêu trên.
  2.    Trả lời cho Viện kiểm sát nhân dân biết về kết quả thực hiện kiến nghị này theo quy định của pháp luật.
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi