Báo cáo chuyên đề của VKSND tỉnh Lào Cai về “Nhận diện vi phạm trong hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra, Tòa án và Viện kiểm sát”

“Nhận diện vi phạm trong hoạt động tư pháp của Cơ quan điều tra, Tòa án và Viện kiểm sát”

Thực hiện Kế hoạch công tác Kiểm sát số: 18/KH-VKS ngày 22/01/2014 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, giao phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh – ma túy (Phòng 2) xây dựng chuyên đề “Nhận diện vi phạm trong hoạt động tư pháp của cơ quan điều tra, Tòa án và Viện kiểm sát”. Trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng hai cấp của tỉnh Lào Cai cơ bản đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong việc giải quyết các vụ án hình sự.

Tuy nhiên cũng còn những vi phạm, tồn tại trong công tác điều tra, kiểm sát điều tra, xét xử các vụ án hình sự, từ đó, Phòng 2 – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tổng hợp những vi phạm, tồn tại trong quá trình tiến hành tố tụng của các Cơ quan điều tra, Tòa án và Viện kiểm sát hai cấp để xây dựng chuyên đề.

Chuyên đề gồm những nội dung chính:

-    Phần I. Những vi phạm của Cơ quan điều tra.

-   Phần II. Những vi phạm của Tòa án.

-   Phân III. Những vi phạm của Viện kiểm sát.

-    Phần IV. Những nguyên nhân, giải pháp khắc phục và kiến nghị.

PHẦN I. NHỮNG VI PHẠM CỦA CƠ QUAN ĐIỀU TRA

  1.     Những vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương:

*  Vi phạm trong hoạt động tin báo:

-     Vi phạm trong hoạt động tiếp nhận, thụ lý giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm: Các vi phạm trong lĩnh vực này chủ yếu liên quan đến thời hạn giải quyết tin báo. Các tin báo được Cơ quan điều tra (CQĐT) tiếp nhận, phân loại và phân công Điều tra viên thụ lý giải quyết đều được thể hiện trên sả theo dõi các hồ sơ, vụ việc cụ thể. Tuy nhiên, việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT chưa thực hiện nghiêm túc về thời hạn giải quyết tố giác, tin báo theo quy định tại Điều 103 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 13 khoản 1 Thông tư liên tịch so 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSTC ngày 02/8/2013 hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Sau khi tiếp nhận CQĐT không lập hồ sơ kiểm tra, xác minh để xác định hành vi đó có phải là tội phạm hay không dẫn đến quá thời hạn giải quyết tin báo, đã vi phạm Điều 7 khoản 1 Thông tư liên tịch số 06. CQĐT còn vi phạm về thời hạn ra quyết định phân công Điều tra viên giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm. Một số tin báo đã có kết quả xác minh nhưng CQĐT không có quyết định cuối cùng để giải quyết dứt điểm, vi phạm Điều 108 BLTTHS và Điều 10 khoản 1 điểm g Thông tư 06. Một số tin báo có đủ căn cứ khởi tố vụ án, bị can nhưng chưa được xem xét khởi tố là chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 10 khoản 1 điểm g Thông tư liên tịch số 06, điển hình là một số vụ sau:

+ Đơn tố giác của bà Lưu Tuấn Bình – trú tại số 5, phố Hướng Dương, thị trấn Vấn An, thành phố Chi Giang, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Thời hạn giải quyết tin báo của CQĐT kéo dài gần 04 tháng.

+ Vụ Nguyễn Tiến Quyết tai nạn giao thông xảy ra ngày 26/12/2012 tại xã Cốc Mỳ, huyện Bát Xát đến ngày 25/5/2013 mới giải quyết xong (không khởi tố vụ án vì Nguyễn Tiến Quyết tự gây tai nạn chết).

+ Vụ án Đặng Văn Quầy phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xảy ra ngày 04/5/2012 đến ngày 21/6/2012 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng mới quyết định trưng cầu giám định thương tích cho bị hại là Bàn Văn Tham. Ngày 07/3/2013 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Thắng mới quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Văn Quầy về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 194 khoản 2 Bộ luật hình sự (quá hạn 6 tháng 7 ngày) Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã kiến nghị khắc phục chấm dứt vi phạm.

+ Vụ Lê Văn Bình và đồng bọn trộm cắp tài sản tại Mỏ đồng Sin Quyền, huyện Bát Xát vào ngày 12/11/2012, đến ngày 15/01/2013 mới khởi tố.

+ Vụ án Hoàng Văn Tạo phạm tội “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 04/3/2013 đến ngày 09/7/2013 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Yên mới khởi tố vụ án. Vụ án Lý Văn Cao phạm tội “Cố ý gây thương tích” xảy ra ngày 17/4/2013 đến ngày 09/7/2013 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Yên mới khởi tố vụ án.

+ Năm 2013 Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Yên đã vi phạm thòi hạn giải quyết 34 tin báo, tố giác tội phạm, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã yêu cầu khởi tố 12 tin. Một số tin báo do Ban Công an các xã chuyển đến CQĐT giải quyết theo thẩm quyền, tin báo phức tạp không thuộc trường hợp quả tang, khẩn cấp … nhưng không có quyết định phân công Điều tra viên thụ lý giải quyết, vi phạm Điều 9 khoản 1 Thông tư liên tịch số 06.

-     Vi phạm trong việc bắt khẩn cấp: Việc bắt khẩn cấp các đối tượng về hành vi có dấu hiệu tội phạm phải tuân thủ đúng quy định tại Điều 81 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự và hồ sơ, tài liệu phải đảm bảo theo đúng yêu cầu, quy định tại Thông tư liên tịch số 05/2005. Tuy nhiên trong quá trình ban hành các lệnh bắt khẩn cấp của Cơ quan điều tra, các lệnh này chưa ghi cụ thể việc bắt đối tượng trong trường hợp nào của Điều 81 khoản 1 Bộ luật tố tụng hình sự là vi phạm điểm b mục 3.3 Đỉều 3 Thông tư liên tịch số 05/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng.

*  Vi phạm trong hoạt động điều tra: Cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thực hiện đúng quy định của Bộ luật TTHS. Tuy nhiên, còn một số vi phạm sau:

-     Vi phạm Điều 41 khoản 1 điểm a BLHS và Khoản 1 đỉểm a, khoản 2 Điều 76 Bộ luật TTHS: Vụ án Châu A Chúng, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sa Pa thu giữ chiếc xe mô tô của Châu A Chúng khi đang thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xác định là vật chứng của vụ án, phải được chuyển theo hồ sơ vụ án, nhưng Cơ quan CSĐT Công an huyện Sa Pa ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe cho Châu A Chúng là không đúng quy định.

-      Vi phạm Thông tư liên tịch số: 05 ngày 07/9/2005: Về việc Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu để Viện kiểm sát nghiên cứu, phê chuẩn chưa được thực hiện đúng theo quy định tại điểm h, mục 3.3 khoản 3; điểm h mục 5.2 khoản 5; điểm h khoản 13 của Thông tư liên tịch số 05 ngày 07/9/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ quốc phòng, việc lập bản kê tên các tài liệu trong hồ sơ và từng trang tài liệu không được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra.

-     Vi phạm về chuyển giao vật chứng Điều 75 BLTTHS: Trong một số trường hợp khi tạm giữ vật chứng là tiền, CQĐT không gửi vào tài khoản tạm giữ của Công huyện là không đúng quy định (Văn Bàn).

-      Vi phạm quy định tại Điều 116 Bộ ỉuật TTHS và mục 10 TTLT số 05 ngày 07/9/2005 của VKS-BCA-BQP, trong việc chuyển vụ án theo Quyết định của VKS: Vụ án Nguyễn Đình Đáng, phạm tội “Giết người” và vụ Vàng A Toàn, phạm tội “Hiếp dâm trẻ em”, Viện KSND huyện Văn Bàn ban hành quyết chuyển vụ án ngày 04/11/2011 nhưng đến ngày 09/11/2011 COĐT mới chuvển.

-     Vi phạm Điểu 114 Bộ luật TTHS về việc không thực hiện việc giảm định tâm thần, cụ thể: vụ Lý Văn Tuân, phạm tội “ Giết người” VKS yêu cầu CQĐT Công an huyện Vãn Bàn tiến hành trưng cầu giám định xác định rõ tình trạng tâm thần của bị can, nhưng cơ quan CSĐT Công an huyện Văn Bàn không thực hiện cho đến khi VKS có kiến nghị vi phạm theo Điều 114 BLTTHS.

-     Vi phạm Điều 95 khoản 1; Điều 125 Bộ luật TTHS: Một số cán bộ, Điều tra viên khi tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đối với người làm chứng, bị can có tiến hành hỏi nhưng không ghi nội dung đã hỏi vào biên bản theo quy định mà cho người làm chứng, bị can ký khống vào biên bản, có cả nội dung không hỏi vào biên bản đã được ký khống để phù hợp với các tình tiết, nội dung vụ án như trường hợp lấy lời khai chị Nguyễn Thị Thu trong vụ án Triệu Văn Tháp, phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”; trường hợp hỏi cung bị can Chảo Thị Cho, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; trường hợp lấy lời khai Đặng Văn Xuyến trong vụ La Văn Thiết, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (văn Bàn). Biên bản ghi lời khai không ghi tư cách người tham gia tố tụng của người được lấy lời khai như: Vụ án Đỗ Thị Quynh phạm tội “Buôn lậu” Cơ quan CSĐT lấy lời khai Nguyễn Thị Hà và Vằng Thị Thắm (Bảo Thắng); Vàng Thị Chi, Ly Seo Dín và Hoàng Seo Lừ trong các vụ án “Mua bán người” và “Mua bán trẻ em” hoặc biên bản lời khai trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn và cả hồ sơ khi kết thúc điều tra chưa ghi ngày, giờ, tháng, năm, thời gian bắt đầu và kết thúc biên bản, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên mới ghi (Si Ma Cai).

-    Vi phạm Điều 108 khoản 1 Bộ luật TTHS: Quyết định không khởi tố vụ án gửi Viện kiểm sát còn chậm, như quyết định số: 02 ngày 16/01/2014 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Si Ma Cai gửi chậm 70 ngày.

-    Vi phạm Điều 126 khoản 6 Bộ luật TTHS: Việc thông báo các lệnh và quyết định cho chính quyền địa phương, gia đình của bị can chưa đầy đủ, kịp thời.

-     Vi phạm Điều 126 khoản 1 Bộ luật TTHS: Đối với vụ án có đồng phạm cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra đã đủ căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của các đồng phạm, song việc tiến hành các thủ tục khởi tố đối với bị can tham gia trong cùng vụ án của Cơ quan điều tra không thực hiện ngay, còn để kéo dài vi phạm Điều 126 khoản 1 Bộ luật tố TTHS (Vụ án Giàng A Vần và đồng phạm, phạm tội "Mua bán người” xảy ra ngày 08/6/2014 tại thành phố Lào Cai).

-    Vi phạm Điều 155 Bộ luật TTHS: Vụ án Đoàn Tuấn Anh – Cơ quan điều tra Công an huyện Sa Pa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo yêu cầu của bị hại để xử lý theo quy định của pháp luật, nhưng không ra quyết định trưng cầu giám định thương tật đối với bị hại. Sau khi điều trị ổn định vết thương và đã thỏa thuận bồi thường, người bị hại có đơn xin đề nghị rút yêu cầu khời tố vụ án. Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ vụ án mà không dựa trên cơ sở kết luận giám định thương tật để xác định vụ án có thuộc trường hợp quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự hay không.

  1.   Vi phạm Bộ luật hình sự: Không.

PHN II. NHNG VI PHẠM CỦA TÒA ÁN.

  1.    Những vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương:

-    Vi phạm Điều 176 khoản 2 Bộ luật TTHS về thời hạn chuẩn bị xét xử: Vụ án Ngư Văn Vịrứi cùng đồng bọn phạm tội “Hủy hoại rừng”, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung và thụ lý lại lần 2 ngày 28/10/2013, đến ngày 19/12/2013 Tòa án nhân huyện Bảo Yên mới ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quá thời hạn 38 ngày.

-    Vi phạm Điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự về nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử: Một số quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai không ghi đầy đủ họ, tên người bào chữa, người phiên dịch.

-       Vi phạm Điều 179 của Bộ luật TTHS về việc trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung: Quá trình thụ lý, chuẩn bị xét xử các vụ án hình sự, Thẩm phán được phân công phải đưa ra một trong các quyết định như: Đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án … Tuy nhiên quá trình nghiên cứu hồ sơ các vụ án hình sự, thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhưng không tuân thủ đúng các quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng hình sự, và Thông tư liên tịch số 01/2010, ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ xung. Cụ thể:

+ Vụ án Võ Thị Hiền – phạm tội: Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; vụ án Nguyễn Ngọc Tiền – phạm tội: Làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức. Các vụ án trên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm và đã được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

+ Vụ án Ngô Bá Hoàn phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự (người bị hại là người nước ngoài). Tòa án nhân dân huyện Sa Pa đã ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung với nội dung yêu cầu bổ sung giấy chứng minh nhân thân của người phiên dịch theo quy định tại Điều 5 Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ tư pháp. Qua xem xét nghiên cứu hồ sơ, nhận thấy: Quy định về người phiên dịch tại Điều 5 Thông tư số 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 của Bộ tư pháp không phải hướng dẫn cho quy định về người phiên dịch tại Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự, những thủ tục đã thực hiện và thể hiện trong hồ sơ đã đảm bảo theo quy định tại Điều 61 Bộ luật hình sự.

+ Vụ án Lê Viết Hải phạm tội ‘Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên giữ nguyên quan điểm truy tố, Tòa án Bảo Yên đã đưa vụ án ra xét xử.

-      Vi phạm Điều 229, Điều 236 và Điều 237 Bộ luật TTHS và tiểu mục 3.1 mục 3 phần I Nghị quyết số 05/2005/ NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao, về việc giao bản án, thông báo kháng cáo, kháng nghị: Việc giao bản án của Tòa án cho Viên kiểm sát cùng cấp còn chậm quá thời hạn quy định dẫn đến việc nghiên cứu, kháng nghị bản án của Tòa án gặp khó khăn đo hết thời hạn kháng nghị (Bản án số 43 ngày 30/7/2014 tuyên án đối với bị cáo Lý Văn Thành gửi đến Viện kiểm sát chậm 2 ngày; Bản án số 45 ngày 01/8/2014 xét xử phần dân sự vụ án Dương Thu Nga, gửi đến Viện kiểm sát chậm 4 ngày).

-     Việc phân công thẩm phản thụ lý, giải quyết vụ án: Tòa án không thực hiện bằng quyết định phân công, do đó gây khó khăn cho việc kiểm sát hoạt động thụ lý, xét xử của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

-     Sai sót trong việc ban hành bản án: Một số bản án của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, ban hành không được xem xét kỹ dẫn đến việc mô tả vật chứng, nhân thân, địa chỉ của bị cáo ghi không chính xác (bản án số 58/HSSST ngày 25/12/2012 tuyên phạt bị cáo Phạm Văn Thị – phạm tội “ cố ý gây thương tích”; bản án số 04 ngày 05/3/2013 tuyên bị cáo Hoàng Văn Hiên – phạm tội “ Trộm cắp tài sản”; bản án số 16 ngày 30/5/2013, tuyên bị cáo Tạ Quang Long – phạm tội “ Trộm cắp tài sản”). Các thiếu sót trong việc ban hành bản án dẫn đến khó khăn trong quá trình xử lý vật chứng, chuyển giao phạm nhân và thi hành án hình sự.

-                             Vi phạm Điều 209 khoản 2 Bộ luật TTHS: Vụ án Trần Văn Phi phạm tội “Đánh bạc”, Chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo nhiều lần, lặp đi lặp lại những nội dung vụ án đã rõ, Kiểm sát viên đề nghị chủ tọa chuyển sang hỏi những nội dung chưa rõ nhưng không được chấp thuận.

-     Vi phạm Điều 232 Bộ luật TTHS: Vụ án Trần Văn Phi phạm tội “Đánh bạc”, Hội đồng xét xử và kiểm sát viên đã hỏi làm rõ vụ án, nhưng sau khi nghị án trở lại xét hỏi và tranh luận vẫn yêu cầu Kiểm sát viên làm rõ những nội dung rõ là không đúng với quy định tại Điều 232 Bộ luật TTHS.

-      Vi phạm Điều 179 quyết định trả trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Vụ án Trần Văn Phi – phạm tội “Đánh bạc”, sau khi nghị án lần 2, Hội đồng xét xử tuyên trả hô sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn để điều tra bổ sung, làm rõ một số nội dung, mà những nội dung này đã được Thẩm phán, Hội đồng xét xử thẩm vấn nhiều lần, bị cáo đã trình bày, Kiểm sát viên đã chủ động phối hợp làm rõ tại phiên tòa, phù hợp với hồ sơ vụ án, không phát sinh những vấn đề mới hoặc phức tạp. Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Hội đồng xét xử là vi phạm Điều 179 Bộ luật TTHS và Điều 10 khoản 2 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật TTHS vể trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

-       Vi phạm Điều 76 và Điều 224 BLTTHS: Bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST/2014 ngày 07/01/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên phạt bị cáo Lò Thanh Phong 6 năm tù về tội “Gián điệp”, nhưng quyết định xử lý vật chứng và xử lý các tài liệu, đồ vật liên quan trong vụ án không đầy đủ, chính xác. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai Kháng nghị phúc thẩm, được Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm.

  1.      Vi phạm Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn của liên ngành Trung ương.

-     Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ án hình sự và công tác kiểm sát bản án hình sự sơ thẩm cấp huyện, thành phố từ ngày 01/6/2009 đến 31/5/2014 phát hiện các vi phạm sau:

+ Vi phạm Điều 60 BLHS và Nghị quyết số 01 ngày 06/11/2013 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về việc áp đụng pháp luật tuyên án treo đối với bị cáo không đúng quy định; Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS làm tình tiết giảm nhẹ đổi với các bị cáo không chính xác; vi phạm Điều 45 BLHS về căn cứ quyết định hình phạt là chưa đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; vi phạm Điều 20, Điều 53 BLHS xác định đồng phạm trong vụ án. Đã ban hành 10 văn bản kiến nghị đối với Chánh án Tòa án nhân dân huyện, thành phố có vi phạm về áp dụng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án hình sự.

+ Vi phạm Điều 250 khoản 1, 2 BLTTHS: Ban hành 17 kháng nghị phúc thẩm và 02 kháng nghị giám đốc thẩm đối với 19 bản án hình sự sơ thẩm do Tòa án nhân dân các huyện, thành phố xét xử có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xét xử sai tội danh và việc điều tra ở cấp sơ thẩm chưa đầy đủ.

-     Vi phạm Điều 46 khoản 1 BLHS về áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Vụ án Giàng A Khoa phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài trái phép”, Tòa án nhân dân huyện Bát Xát không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS. Viện kiểm sát huyện Bát xát kháng nghị phúc thẩm đề nghị áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Giàng A Khoa, được Tòa phúc thẩm chấp nhận.

-    Sai sót về đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cảo, áp dụng điều luật – Bản án số 07 ngày 22/3/2013 của TAND huyện Văn Bàn xét xử các bị cáo Trần Việt Cường cùng đồng bọn phạm tội “Đánh bạc”, phạt bị cáo Trần Quốc Hiệp và bị cáo Vũ Thị Nguyệt 1 năm 9 tháng cải tạo không giam giữ nhưng không tuyên miễn hay khấu trừ bao nhiêu % thu nhập của bị cáo theo quy định tại Điều 31 khoản 3 BLHS; vụ Nông Văn Duyên phạm tội “ Trộm cắp tài sản” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình điều tra xác định Nông Xuân Thủy và Nông Văn Duyên thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, Thủy chưa đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với hành vi của Thủy, tại bản án số 30 ngày 25/9/2013 TAND huyện Văn Bàn áp dụng Điều 20 BLHS để xử lý hành vi của Duyên với vai trò đồng phạm là không đúng quy định. Vụ án Mai Đức Thiện phạm tội “Trộm cắp tài sản”, do đánh giá không đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Tòa án chỉ tuyên phạt Nguyễn Đức Thiện 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” là quá nhẹ. Mặt khác, bản án không áp dụng Điều 51 khoản 2 BLHS để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo là chưa đúng với điểm b mục 6.1 và mục 6.3 điều 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hôi đồng thẩm phám Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự về thời hiệu thi hành án bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt”. Viện kiểm sát kháng nghị phần hình phạt của bản án, đề nghị không cho đưọc hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng Điều 51 khoản 2; Điều 60 khoản 5 BLHS tổng hợp hình phạt của hai bản án đối với bị cáo Mai Đức Thiện và Tòa án cấp phúc thẩm đã chẩp nhận kháng nghị.

PHẦN III. NHỮNG VI PHẠM CỦA VIỆN KIỂM SÁT:

  1.     Những vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn của ngành Trung ương:

-    Trong giai đoạn tiếp nhận và giải quyết tin báo: Chưa kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết tin báo của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 10 của Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự. Một số đơn vị chưa nắm được đầy đủ số lượng tin báo tố giác tội phạm để kiến nghị khởi tố, một số tố giác về tội phạm chưa được giải quyết theo thời hạn luật định.

-                            Trong giai đoạn điều tra: Kiểm sát viên chưa thực hiện tốt Điều 19 khoản 2 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra và mục 5 phân II Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, dẫn đến quá trình kiểm sát hoạt động điều tra, Kiểm sát viên chưa phối hợp chặt chẽ với Điều tra viên, chưa nắm bắt được tiến độ điều tra. Trước khi kết thúc điều tra Kiểm sát viên và Điều tra viên chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chúng cứ thu được đặc biệt những vấn đề liên quan đến nhân thân, lai lịch của bị can … vẫn kết thúc điều tra, đề nghị truy tố. Một số vụ án (cả hai cấp) còn để thời gian kéo dài mặc dù không có tính chất phức tạp.

-    Trong giai đoạn truy tố: Do quá trình kiểm sát hoạt động điều tra còn vi phạm, thiểu sót về chứng cứ và các tài liệu liên quan nên khi kết thúc điều tra vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Sau khi vụ án kết thúc điều tra, chuyển Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trích cứu, nghiên cứu đánh giá các chứng cứ vụ án chưa đầy đủ, toàn diện, dẫn đến truy tố sai tội danh (vụ án Hoàng Văn Đằng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng VKSND huyện Văn Bàn truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vụ án Trần Văn Đức phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát xác định tội danh không đúng, nên đã truy tố sai tội danh, cấp phúc thẩm hủy án để điều tra, xét xử lại đến nay đã xét xử. Vụ án Nguyễn Hữu Dũng phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, Tòa án tỉnh Lào Cai trả hồ sơ yêu cầu ĐTBS số 02 ngày 30/10/2013 do sử dụng sai biểu mẫu tố tụng, đã khắc phục).

-     Trong giai đoạn xét xử: Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiếm sát hoạt động xét xử tại phiên Tòa, do việc nghiên cứu hồ sơ vụ án không kỹ, nên đề xuat áp dụng các quy định của pháp luật ở lượng hình phạt của Kiểm sát viên không chính xác, đẫn đến quan điểm của kiểm sát viên không phù hợp với Hội đồng xét xử về mức án, loại hình phạt hoặc Kiểm sát viên không đánh giá, dự kiến hết các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa, nên khi bị cáo khai ra tình tiết mới thì Kiểm sát viên lúng túng trong việc đấu tranh, xử lý tình huống dẫn đến Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo Điều 179 khoản 1 điểm a Bộ luật TTHS (vụ Nguyễn Thọ Tiến phạm tội mua bán trái phép chất ma túy – Bảo Thắng ). Kiểm sát viên kiểm sát bản án, quyết định nhưng không phát hiện ra vi phạm để đề xuất kháng nghị, kiến nghị kịp thời, dẫn đến việc sửa, hủy án vẫn còn xảy ra.

  1.   Những vi phạm các quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hưng dẫn của ngành Trung ương:

Những vi phạm phát hiện qua Công tác kiếm sát bản án hình sự sơ thẩm cấp huyện, thành phố từ ngày 01/6/2009 đến 31/5/2014: Đã ban hành 21 thông báo rút kinh nghiệm đối với các đơn vị Viện KSND các huyện, thành phố trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự còn có một số tồn tại, vi phạm như: Truy tố sai tội danh (Vụ Tống Đức Cường cùng đồng phạm VKS truy tố tội danh Cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 BLHS – Tòa án xét xử các bị cáo phạm tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 135 BLHS) và vi phạm về việc nhập vụ án quy định tại Điều 117 BLTTHS (vụ Phạm Yăn Sỹ – Phạm tội Cố ý gây thương tích) vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cấp phúc thẩm xét xử hủy án để điều tra, xét xử lại mà cấp sơ thẩm không phát hiện được.

PHN IV. NGUYÊN NHÂN VI PHẠM, NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ KIẾN NGHỊ:

  1.   Nguyên nhân vi phạm:

-    Nguyên nhân khách quan: Tỉnh Lào Cai là một tỉnh miền núi, có 183km đường biên giới với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức về pháp luật còn có những hạn chế nhất định. Tình hình tội phạm trong những năm qua trở lại đây diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là tội phạm về ma túy. Đối tượng phạm tội đa dạng, thủ đoạn phạm tội tinh vi, nên quá trình điều tra gặp rất nhiều khó khăn. Hệ thống pháp luật và hướng dẫn các quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự chưa thực sự đầy đủ, cụ thể, dẫn đến giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có cách hiểu và áp dụng chưa thống nhất.

-   Nguyên nhân chủ quan: Nguyên nhân xảy ra các vi phạm của Cơ quan điều tra, Tòa án và Viện kiểm sát chủ yếu do trình độ nhận thức, ý thức trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chưa thực sự cao. Một phần do các yếu tố khách quan như số lượng án nhiều, thậm chí cùng thời điểm 1 Điều tra viên, Thẩm phán, Kiểm sát viên phải thụ lý giải quyết nhiều vụ án dẫn tới chất lượng điều tra, xây dựng hồ sơ, nghiên cứu hồ sơ án chất lượng chưa cao. Bên cạnh đó một số Điều tra viên, Thẩm phán trình độ còn hạn chế, chưa thực sự nắm bắt hết các quy định, văn bản quy phạm hướng dẫn áp dụng pháp luât… Lãnh đạo một số đơn vị ở cả ba cơ quan: Điểu tra, Tòa án và Viện kiểm sát. có lúc còn chưa theo dõi chỉ đạo sát sao quá trình giải quyết các vụ án, mặt khác Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán chưa đánh giá chứng cứ vụ án toàn diện, chưa kịp thời báo cáo đề xuất những vướng mắc với lãnh đạo để chỉ đạo xử lý.

  1.   Những giải pháp khắc phục và kiến nghị:

a,   Giải pháp khắc phục:

-   Để xảy những vi phạm, tồn tại nêu trên, trước hết các đồng chí Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán phải nghiêm túc kiểm điểm rút kinh nghiệm. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cần tăng cường học tập chuyên sâu nghiệp vụ, nâng cao trình độ, năng lực công tác, chủ động phối hợp trong công tác giải quyết các vụ án, báo cáo đề xuất kịp thời những khó khăn, vướng mắc để lãnh đạo nghiên cứu, có biện pháp chỉ đạo giải quyết.

-   Đối với lãnh đạo các cơ quan tiến hành tố tụng cần tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành để kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và uốn nắn, khắc phục kịp thời những thiếu sót, tồn tại. Mặt khác, cần tăng cường công tác phối họp liên ngành trong giao ban, trao đổi công tác để chỉ đạo sát sao, thống nhất giải quyết các vụ án hình sự nói chung, đặc biệt là những vụ án hình sự có tính chất phức tạp, những vụ án đặc biệt nghiêm trọng.

-       Kiểm sát viên phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự; thực hiện nghiêm túc chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm”.

-    Tiếp tục quán triệt Hiến pháp năm 2013 đến toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên trong ngành kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai, yêu cầu cán bộ, kiểm sát viên tập trung nghiên cứu, tích cực tham gia ý kiến vào Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi.

b,   Kiến nghị:

-     Liên ngành Trung ương cần có văn bản hướng dẫn thống nhất để giải quyết những vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là sửa Thông tư số 17 – các tội về ma túy và các tội phạm quy định tại các Điều 231, 232 BLHS.

-    Đề nghị Viện KSND tối cao quan tâm hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu nghiệp vụ cho Kiểm sát viên trong công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự;

-    Đề nghị Viện KSND tối cao quan tâm, đề xuất với Đảng và Nhà nước tạo điều kiện về chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ kiểm sát viên, nhất là việc thu hẹp khoảng cách chênh lệnh ngạch bậc, tiền lương giữa Kiểm sát viên sơ cấp với Kiểm sát viên trung cấp và cao cấp.

Thông qua thực tiễn công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự trong những năm qua, Phòng thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án an ninh – ma túy báo cáo chuyên đề này (Nhận diện các vi phạm trong hoạt động tư pháp) của các cơ quan tiến hành tố tụng được rõ hơn. Nhằm để các đơn vị thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay./.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi

Các tin khác