Rút kinh nghiệm các vi phạm về tố tụng và nội dung trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình của Tòa án cấp sơ thẩm

Qua công tác kiểm sát xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cp sơ thm có vi phạm về tố tụng và nội dung nên cần thông báo để rút kinh nghiệm chung:

  1.      Vụ Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà, giữa:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Lụa.

Địa chỉ: ấp Xóm Đông, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, TP. HCM.

Bị đơn: Bà Phan Thị Đc.

Địa chỉ: 17/4 TMT 02, khu phố 7, Trung Mỹ Tây, quận 12, TP. HCM.

Ông Phạm Văn Thuận đại diện theo ủy quyn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1.      y ban nhân dân huyện Củ Chi.

Ông Võ Văn An đại diện.

  1.      Ông Lê Văn Một.
  2.      Bà Lưu Thị Thuận.

Cùng địa chỉ: 138 Hương lộ 2, ấp Xóm Đồng, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung vụ kiện như sau:

Nguyên đơn trình bày:

Bà biết bà Đức qua ông Trần Trung Thành để cho bà làm hợp đồng thu hi nợ số tiền 38.000 USD của ông Đỗ Ngọc Minh ngụ tại 79 Trường Sơn, phường 2, quận Tân Bình và bà có đưa trước cho ông Thành số tiền 1.000 USD. Trong thời gian làm hp đồng, Tư Hùng giới thiệu cho bà làm Công ty đối tác khác để có giấy phép với số tiền 2.500.000.000 đồng và do không đủ tiền để cho đợt 1 cho Công ty chuyển nhượng giấy phép nên ông Thành đã giới thiệu cho bà Đức để thế chấp căn nhà nói trên cho bà Đức với số tiền 250.000.000 đồng, nhưng thực chất bà chỉ nhận 212.000.000 đồng. Việc làm hợp đồng mua bán được công chứng tại Phòng công chứng thì bà nhận thấy cam kết trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là không đúng vì không nói rõ ngày giao nhà và đất, việc lập hợp đồng chỉ bán đất chứ không nói bán nhà. Do vậy, bà khởi kiện yêu cầu tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà và bà Đức. Bà sẽ trả lại cho bà Đức số tiền 250.000.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất của Ngân hàng nhà nước Việt Nam đối với số tiền bà đã vay. Bà muốn đưa ông Thành và ông Phước làm chứng trong vụ án nhưng không rõ địa chỉ.

Bị đơn trình bày:

Ngày 12/9/2012 tại Văn phòng công chứng Củ Chi, bà Lụa sang nhượng cho bà Đức nhà và đất tại thửa đất số 261-2, tờ bản đồ s 09, tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 89 m2, giấy chứng nhận quyền s dụng đất số V431958 do UBND huyện Củ Chi cấp cho bà Trần Thị Lụa ngày 29/8/2002 giá 250.000.000đ, bà Đức đã trả đủ tiền. Do trên đất có nhà chưa hp thức hóa quyn sở hữu nên ngay khi lp hợp đng sang nhượng quyền sử dụng đất thì bà Lụa lập giấy tay xác định bán toàn bộ nhà và đất cho bà Đức giá 250.000.000 đồng. Cùng ngày, bà Lụa lập giấy ủy quyền cho bà Đức để liên hệ với các cơ quan nhà nước thực hiện việc đăng ký quyn sử dụng đt. Tuy nhiên sau đó thì bà Lụa có đơn ngăn chặn.

Ngày 10/7/2013 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng cho bà Lụa thời hạn 45 ngày đ cung cấp chứng cứ nhưng hết hạn trên bà Lụa vẫn không cung cp được chứng cứ nào để ngăn chặn việc đăng bộ theo quy định. Ngày 19/9/2013 bà Đức tiếp tục nộp hồ sơ và đã thực hiện việc nộp thuế và lệ phí trước bạ đối với nhà đất xong, chỉ chờ nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ ngày 12/9/2012 đến nay đã lâu nhưng bà Lụa luôn ngăn cản việc giao nhà đất đã bán. Do đó, bà Đức có đơn phản tố yêu cầu bà Lụa tiếp tục thực hiện hợp đồng đã ký ngày 12/9/2012, giao nhà đất cho bà Đức quản lý, sử dụng và đứng tên sở hữu.

Bản án dân sự sơ thẩm sổ 217/2015/DS-ST ngày 11/6/2015 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã quyết định:

“1. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Lụa về việc yêu cầu hủy hợp đng chuyn nhượng quyền sử dụng đất s 000015113/HĐ-CNQSDĐ tại Văn phòng Công chứng Củ Chi vào ngày 12/9/2012.

  1.      Chấp nhận yêu cầu phản t của bà Phan Thị Đức: Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất s 000015113/HĐ-CNQSDĐ tại Văn phòng Công chng Củ Chi vào ngày 12/9/2012 đối với thửa đất s 261-2, tờ bản đồ s 09, tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích là 89 m2, giấy chứng nhận quyn sử dụng đất s V431958 vào s cấp giấy s 57/QSDĐ/ĐG do UBND huyện Củ Chi cấp cho bà Trần Thị Lụa vào ngày 29/8/2002, đăng ký và thay đổi vào ngày 15/11/2002 và ngày 23/3/2004;

Bà Phan Thị Đức được quyền đăng ký quyn sử dụng đất tại Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đi với thửa đất s 261-2, tờ bản đ s 09, tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích là 89 m2 mà các bên đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đt số 000015113/HĐ-CNQSDĐ tại Văn phòng Công chứng Củ Chi vào ngày 12/9/2012.

  1.      Trách nhiệm của các bên đương sự: Buộc bà Trần Thị Lụa, ông Lê Văn Một và bà Lưu Thị Thuận phải thực hiện nghĩa vụ giao toàn bộ nhà đất tại thửa đt s 261-2, tờ bản đồ s 09, tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành ph H Chí Minh, có diện tích là 89 m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V431958 vào s cấp giấy số 57/QSDĐ/ĐG do UBND huyện Củ Chi cấp cho bà Trn Thị Lụa vào ngày 29/8/2002, đăng ký và thay đi vào ngày 15/11/2002 và ngày 23/3/2004.
  2.      Án phí:

-         Án phí dân sự sơ thm là 24.000.000 đồng buộc bà Trn Thị Lụa phải nộp, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Trần Thị Lụa đã nộp là 6.250.000 đồng theo biên lai thu tiền s 08128 ngày 14/10/2013 ca Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

-         Hoàn lại tiền tạm ứng án phí là 6.250.000 cho bà Phan Thị Đức theo biên lai thu tiền số 08625 ngày 25/12/2013 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử, bà Lụa kháng cáo.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 000015113/HĐ-CNQSDĐ tại Văn phòng Công chứng Củ Chi vào ngày 12/9/2012 giữa bà Lụa và bà Đức mua bán quyền sử dụng thửa đất số 261-2, tờ bản đồ số 09, tại xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, diện tích là 89 m2, giy chứng nhận quyền sử dụng đất số V431958 do y ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho bà Lụa vào ngày 29/8/2002. Theo hợp đồng này thì các bên chỉ giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có tài sản gắn liền với đất. Trong quá trình tòa án giải quyết các bên thừa nhận khi ký hợp đng chuyên nhượng quyền sử dụng đất trên thì đã có nhà kiên cố (nhà chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà).

Như vậy, tại thời điểm hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì trên đất đã có nhà, cả bên mua và bên bán đều biết nhưng vẫn tiến hành ký kết và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, không có tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng trên không thể hiện đúng hiện trạng tài sản mà các bên giao dịch chuyển nhượng. Do đó hp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 12.9.2012 bị vô hiệu.

Phía bị đơn cho rằng do nhà chưa có giấy tờ nên không thể đưa vào hợp đồng chuyển nhượng để tiến hành thủ tục công chứng nên ngay ngày 12.9.2012 các bên có lập biên nhận tiền bán toàn bộ nhà và đất. Theo giấy này thì bà Lụa bán cho bà Đức toàn bộ nhà và đất nên bà Lụa đồng ý làm ủy quyền cho bà Đức tiến hành làm thủ tục giấy tờ nhà.

Xét thấy, tại thời điểm giao dịch bà Lụa chưa có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà nên việc bà Lụa chuyển nhượng nhà cho bà Đức là trái quy định của pháp luật. Hơn nữa, việc mua bán nhà trên không được công chứng theo luật định. Mặt khác, tại khoản 2 điều 8 của hợp đồng này thể hiện nội dung ...mọi sửa đi, b sung hoặc hủy bỏ hợp đồng này phải được lập thành văn bản trước khi đăng ký và phải được công chứng mới có giá trị”. Vì vậy, biên nhận bán toàn bộ nhà đất ngày 12.9.2012 không phát sinh giá trị và hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất ngày 12.9.2012 cũng bị vô hiệu do hai bên cùng có lỗi.

Việc tòa sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyn sử dụng đt ngày 12.9.2012 giữa bà Lụa với bà Đức và buộc bà Lụa, ông Một, bà Thuận giao toàn bộ nhà đất cho bà Đức là không phù hợp nên kháng cáo của bà Lụa có cơ sở chấp nhận.

Để giải quyết hậu qu của hợp đồng này cần thiết tiến hành định giá đ có cơ sở tính thiệt hại. Tuy nhiên, do tại cấp phúc thm cả nguyên đơn và bị đơn đều không yêu cầu định giá nên không có cơ sở đ tính thiệt hại. Vì vậy, các bên ch hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trong quá trình tòa án giải quyết, bà Lụa tự nguyện trả cho bà Đức số tiền lãi theo quy định của ngân hàng đối với số tiền 250 triệu từ ngày bà nhận đến ngày xét xử. Xét thấy sự tự nguyện này không trái quy định pháp luật nên có cơ sở ghi nhận.

Tại phiên tòa phúc thm, Viện kim sát nhân dân thành ph H Chí Minh đ nghị Hội đng xét xử chp nhận kháng cáo của bà Lụa, sửa án sơ thm. Ghi nhận việc tự nguyện chịu số tiền lãi mà bà Lụa đã nhận.

Bản án dân sự phúc thẩm số 1213/DS-PT ngày 21.9.2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

  1.      Vụ “Ly hôn” giữa:

Nguyên đơn: Cao Văn Tấn.

Địa chỉ: D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Năm.

Địa chỉ: D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1.      Ông Trương Hu Hi (chết 2003).

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng:

1.1/ Bà Phạm Thị Vân.

Địa chỉ: D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

1.2/ Bà Trương Thị Hoài Loan.

Địa chỉ: số 107 C/c Độc Lập A, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Tp.HCM.

1.3/ Bà Trương Thị Hoài Phương.

Địa chỉ: số 107 C/c Độc Lập A, phường Tân Quý, quận Tân Phú, Tp.HCM.

Bà Phạm Thị Vân đại diện ủy quyền bà Loan, bà Phương.

Địa chỉ: D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

  1.      Bà Phạm Thị Vân

Địa chỉ: D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp. HCM.

  1.      UBND huyện Bình Chánh, Tp.HCM.

Địa chỉ: số E8/9A Nguyễn Hữu Trí, Tân Túc, Bình Chánh, Tp.HCM.

  1.      UBND xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM.

Địa chỉ: s F7/16 ấp 6, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM.

Nội dung vụ kiện như sau:

Nguyên đơn trình bày:

Năm 1980 ông với bà Năm chung sống với nhau nhưng đến ngày 28/6/2005 mới đăng ký kết hôn trễ hạn. Quá trình chung sống vợ chồng ông tạo lập được căn nhà và đất tại địa chỉ số D11/45, ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 2, gồm: 2.900m2 và một căn nhà tng diện tích khuôn viên khoảng 360m2 do ông đã có con ông đã để cho bà Năm đứng tên một mình nhà và đất trên vào năm 2001, giấy tờ nhà đất nói trên bà Năm giữ. Nay ông xin ly hôn và yêu cầu chia mỗi người 1/2; ông giữ căn nhà, hoàn trả cho bà Năm giá trị.

Bị đơn trình bày:

Bà đồng ý ly hôn, không đồng ý chia tài sản vì là tài sản riêng của bà. Bà phản tố yêu cầu hủy việc kết hôn giữa bà và ông Tấn vì việc kết hôn này trái pháp luật.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

1.1/ Bà Trương Thị Hoài Loan:

Bà là con của ông Hai (chết 2003) và bà Vân, ông Hai là thành viên hộ gia đình bà Năm. Phần đất do y ban nhân dân huyện Bình Chánh cấp năm 2001 cho hộ bà Năm có nguồn gốc đất của bà ngoại tạo lập trước năm 1975, bà ngoại chết bà Năm đứng đại diện cho hộ gia đình. Hộ gia đình bà Năm đã sử dụng đất này liên tục n định từ trước năm 1975 đến nay. Quá trình sử dụng gia đình có xây dựng căn nhà trên đất, có sửa chữa nhiều lần mới được như hôm nay. Bà không đồng ý yêu cu ông Tấn.

1.2/ Bà Trương Thị Hoài Phương: Bà thống nhất như li trình bày của bà Loan

2/ UBND huyện Bình Chánh có bà Dương Thị Kim Hoa đại diện:

Xác nhận phần đất nêu trên có nguồn gốc của bà Thai cho lại bà Năm trước năm 1975 và y ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đt cho hộ bà Phạm Thị Năm theo đúng quy định của pháp luật.

3/ UBND xã Vĩnh Lộc A có bà Đặng Thị Nhung đại diện:

Ông Tấn và bà Năm sống chung năm 1980, năm 2005 ông Tấn đến y ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A đăng ký kết hôn. Ngày 28/6/2005 công chức tư pháp hộ tịch xã đề xuất Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho ông Tấn và bà Năm. Sau đó xã đã trao giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho ông Tấn ký thay bà Phạm Thị Năm vào sổ lưu trữ xã vì theo ông Tn trình bày bà Năm bệnh không đi được. Nay y ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A đề nghị thu hồi, hủy b giấy chứng nhận kết hôn trên vì cấp chưa đúng trình tự thủ thục theo quy định.

Bản án số 105/2014/DS-ST ngày 17/10/2014 TAND huyện Bình Chánh đã xử:

1/ Vquan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Cao Văn Tấn và bà Phạm Thị Năm

Xử cho ông Cao Văn Tấn được ly hôn với bà Phạm Thị Năm

Không chp nhận yêu cầu phản tố của bà Phạm Thị Năm về việc bà Phạm Thị Năm cho rng việc kết hôn giữa bà và ông Cao Văn Tn là trái pháp luật.

2/ V con chung: Hai ông bà xác định không có con chung, Tòa không xét đến.

3/ Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Năm được quyển sử dụng căn nhà và đt tọa lạc tại địa chỉ s D11/45 ấp 4, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM. Đng thời, bà Phạm Thị Năm còn được sử dụng phần đt có diện tích 2.901,9m2 tọa lạc tại xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM thuộc thửa 255, tờ bản đồ số 2 (theo tài liệu 02/CT-UB) nhằm một phần thửa 49, tờ bản đồ s 5 (theo tài liệu năm 2006) Bộ địa chính xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, Tp.HCM.

Ông Cao Văn Tấn và bà Phạm Thị Năm đều phải có trách nhiệm h trợ, phi hợp cùng nhau trong việc liên hệ đến các cơ quan chức năng có thm quyn ký tên trên các giấy tờ có liên quan đ giúp bà Phạm Thị Năm hoàn tt các thủ tục cần thiết đối với việc đăng ký sở hữu nhà sang tên cho bà Phạm Thị Năm và sử dụng đất sang tên bà Phạm Thị Năm như đã nêu ở trên theo quy định của pháp luật hiện hành.

Bà Phạm Thị Năm được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyn để làm thủ tục đăng ký sở hữu nhà và sang tên giấy chứng nhận QSDĐ cho bà đi với phần nhà, đất như nêu trên.

Buộc bà Phạm Thị Năm có trách nhiệm hoàn lại cho ông Cao Văn Tn phân na giá trị tài sản chung số tiền là: 1.484.857.275 đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

V nợ chung và các nghĩa vụ dân s khác: Hai ông, bà tự khai không có nên Tòa không xem xét.

Về Án phí dân sự sơ thẩm:

-         Ông Cao Văn Tn phải chịu án phí DSST : 56.745.718 đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí do ông Cao Văn Tấn đã nộp là 5.200.000 đng theo biên lai thu tin tạm ứng án phí s 06168 ngày 04/10/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh; Ông Cao Văn Tấn còn phải nộp thêm tiền án phí với s tiền là: 51.545.718 đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

-         Bà Phạm Thị Năm phải chịu án phí DSST là: 56.745.718 đồng; nhưng được cn trừ vào số tiền tạm ứng án phí do bà Phạm Thị Năm đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai thu tiền án phí s: 01412 ngày 14/11/2012 của Chỉ cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh; Bà Phạm Thị Năm còn phải nộp thêm tin án phí với s tiền là: 56.545.718 đồng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

V lệ phí và các chi phí t tụng khác: Lệ phí định giá và thm định trước đây do ông Cao Văn Tấn đã tạm ứng nộp đủ. Tại Tòa hôm nay, ông Cao Văn Tn tự nguyện chịu và đã nộp đủ s tiền lệ phí định giá và thẩm định trước đây.

Sau khi xử sơ thẩm bà Năm kháng cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh kháng nghị.

Vn đ cn rút kinh nghiệm:

-         Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết Tòa án đưa ông Trương Hữu Hai vào tham gia t tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và xác định những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hai là không đúng vì vụ án được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh thụ lý ngày 04/10/2011 nhưng ông Hai đã chết từ năm 2003 (theo giấy chứng tử số 05 ngày 20/01/2003). Vì ông Hai chết trước thời đim tòa án thụ lý vụ án nên việc xác định tư cách tố tụng của ông Hai là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và xác định những người kế thừa quyn và nghĩa vụ t tụng của ông Hai là không đúng theo quy định tại khoản 1 Điu 62 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011.

-         Về nôi dung:

Tòa sơ thm xử không chấp nhận yêu cầu phản t của bà Năm về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận kết hôn do trái pháp luật và chấp nhận yêu cầu của ông Tấn chia tài sản sau ly hôn cho ông Tấn là không đúng. Bởi lẽ:

Bà Năm có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận kết hôn do trái pháp luật. Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Tấn, hủy giy chứng nhận kết hôn nhưng không chấp nhận phản tố của bà Năm là không đúng. Theo đại diện của y ban nhân dân xã Vĩnh Lộc A, khi làm thủ tục đăng ký kết hôn ch có một mình ông Tấn đi đăng ký làm giấy chứng nhận kết hôn và chữ ký của bà Năm do ông Tấn ký thay là không đúng quy trình thủ tục. y ban nhân dân xã cũng đề nghị Tòa án thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn s 115 quyn s 01/2005 ngày 28/6/2005, nội dung này cũng phù hợp với lời trình bày của ông Tấn, bà Năm nên yêu cầu phản tố của bà Năm là có căn cứ. Việc Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng quy định pháp luật.

Đối với yêu cầu chia phần đất: Nguồn gốc phần nhà và đất thuộc thửa 250, 255 tờ bản đồ số 02, xã Vĩnh Lộc A có nguồn gốc của bà Trần Thị Thay (Trn Thị Thai) cho bà Phạm Thị Năm từ năm 1975, đến năm 1980 ông Tấn mới v ở chung với bà Năm như vợ chồng, ông Tấn thừa nhận khi ông về sống với bà Năm thì đã có căn nhà số D11/45 ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh và phần đất mà ông đang tranh chấp rồi. Mặt khác, ông Tấn làm nghề chạy xe ôm, không phải là người trực tiếp canh tác, không có quá trình sử dụng đất này cùng với bà Năm. Hơn nữa, thực tế ông Tấn chỉ về đây ở trên căn nhà này cùng bà Năm, ông Tấn không đăng ký tạm trú và cũng không có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên. Mặc dù đến ngày 27/4/1995 UBND huyện Bình Chánh cp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Năm nhưng tài sản là phn nhà đt này không phải là tài sản chung giữa ông Tấn và bà Năm trong quá trình sng chung sng tạo lập được, ông Tấn cũng không đưa ra được chứng cứ đ chứng minh phần nhà đất này là tài sản chung của ông Tấn và bà Năm. Theo Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì phn nhà đất này là tài sản riêng của bà Năm do cha mẹ bà Năm để lại trước khi ông Tn v sng chung với bà Năm. Năm 1995, khi bà Năm được cp giy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Tấn cũng không phải là thành viên của hộ gia đình của bà Năm vì ông Tấn không đăng ký tạm trú, không đăng ký hộ khu thường trú tại địa chỉ số D11/45 ấp 5, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh nên không có cơ sở để chia tài sn cho ông Tấn. Việc Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh chp nhận yêu cầu chia tài sản của ông Tấn là không phù hợp với quy định pháp luật.

Xét thấy, bn án sơ thẩm giải quyết không phù hợp quy định của pháp luật nên kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và kháng cáo của bà Năm là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đ nghị Hội đng xét xử chấp nhận kháng nghị và kháng cáo, sửa án sơ thm.

Bản án dân sự phúc thẩm số 664/2015/DS-PT ngày 08.6.2015 của TAND thành phố Hồ Chí Minh đã chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kim sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

  1.      Vụ Tranh chấp lối đi, giữa:

Nguyên đơn:

  1.      Ông Trần Ngọc Ánh.

Địa chỉ: số 39/4, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. H Chí Minh.

  1.      Ông Trn Văn Châu.

Địa chỉ: số 39/4A, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Tân.

Địa chi: số 39/7, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1.      Bà Trần Thị Ba.

Địa chỉ: số 39/7, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

  1.      Bà Lê Thị Thu Trang.

Địa chỉ: số 39/7, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

  1.      Bà Nguyễn Thị Kim Thoa.

Địa chỉ: số 39/4, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

  1.      Bà Nguỵễn Thị Ái Vy.

Địa chỉ: số 39/4A, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

  1.      y ban nhân dân huyện Hóc Môn

Địa chỉ: số 1, đường Lý Nam Đế, thị trấn Hóc Môn, Hóc Môn, Tp HCM.

Ông Dương Văn Quí đại diện.

  1.      Ngân hàng Thương mại c phn Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

Trụ sở: số 25Bis, Nguyễn Thị Minh Khai, Bến Nghé, quận 1, Tp. HCM.

Ông Lê Nguyễn Thành Tín đại diện.

Địa chỉ: số 2C, đường Nguyễn Ảnh Thủ, phường Trung Mỹ Tây, quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung vụ kiện:

Nguyên đơn:

-         Ông Ánh trình bày: Nhà số 39/4 ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn của cha Trần Văn Xê và mẹ Nguyễn Thị Đồng chết để lại, nhà xây dựng từ năm 1965. Ông được cp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ngày 05/5/2010 tại thửa số 354, tờ bản đồ s 25, diện tích đất 209,6m2, diện tích xây dựng 110,4m2. Theo bản đồ hiện trạng vị trí thì thể hiện lối đi của nhà đt ra đường Tân Xuân 5 có chiều rộng là 03m, lối đi chung này đã có từ mấy chục năm naylối đi chung này có đi chung với nhà bà Trần Thị Ba. Do ông Tân chiếm hết li đi chung nên ông yêu cầu ông Tân chừa cho gia đình ông lối đi chung là 03m đúng như hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được cp.

-         Ông Châu trình bày: Ông xây nhà năm 2001 trên phần đất của cha Trần Văn Xê và mẹ Nguyễn Thị Đồng để lại, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đt và quyn sở hữu nhà tại thửa số 355, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 107,9m2, diện tích xây dựng là 76m2. Theo bản đồ hiện trạng vị trí thì thể hiện lối đi của nhà đất ra đường Tân Xuân 5 có chiều rộng là 03m, lối đi chung này đã có từ mấy chục năm nay và lối đi chung này có đi chung với nhà bà Trn Thị Ba. Do ông Tân chiếm hết lối đi chung nên ông yêu cầu ông Tân chừa cho gia đình ông lối đi chung là 03m đúng như hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được cấp.

Bị đơn trình bày:

Ngày 14/5/2012, bà ngoại ông là Trần Thị Ba đã được cấp giấỵ chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại thửa số 406, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 262,2m2, diện tích xây dựng là 107,5m2, tại địa chỉ số 39/7, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó bà Ba tặn nhà đất trên cho ông. Năm 2014 ông được cấp giấy tờ phần đất bà Ba cho. Phần đất và nhà ông Tân có sân phía trước nhà thuộc phần đất của ông, không có đường đi chung với nhà ông Ánh, ông Châu. Ông Ánh, ông Châu có đường khác. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và theo hiện trạng thực tế thì không thể hiện lối đi chung nào hết. Trước đây, ông Ánh, ông Châu đề nghị ông bán phần đất diện tích 2x12m trước sân nhà ông để họ là giấy tờ cho đường đi chung nhưng ông không đồng ý. Ông Tân đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Châu, ông Ánh. Ông chấp nhận như giá đã định là 215.870.000d Hiện ông thế chấp cho Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh vay là 900.000.000đ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

-         Bà Trn Thị Ba trình bày: Đất do ông bà đ lại, bà đã được cp giy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà năm 2012, năm 2014 bà đã tặng toàn bộ cho cháu Tân. Bà đồng ý yêu cầu của ông Châu, ông Ánh.

-         Ông Dương Văn Quí đại diện y ban nhân dân huyện Hóc Môn trình bày:

Ông Châu được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ngày 17/3/2010 tại thửa s 355, tờ bản đ số 25, diện tích đất 107,9m2, diện tích xây dựng là 76m2, tại địa chỉ số 39/4A, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Phía trước nhà có lối đi chung có chiều ngang là 03m để đi ra đường Tân Xuân 5 được thể hiện theo bản vẽ hiện trạng vị trí số 62226/CN-HM ngày 11/8/2008 của Trung tâm đo đạc bản đồ, chi nhánh Hóc Môn.

Ông Trần Ngọc Ánh được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gn liền với đt, ngày 05/5/2010, tại thửa s 354, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 209,6m2, diện tích xây dựng là 110,4m2, tại địa chỉ s 39/4, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Phía trước nhà có lối đi chung có chiều ngang là 03m đ đi ra đường Tân Xuân 5 được thể hiện theo bản vẽ hiện trạng vị trí số 62227/CN-HM ngày 11/8/2008 của Trung tâm đo đạc bản đồ, chi nhánh Hóc Môn.

Cả hai căn nhà mang số 39/4 và 39/4A có vị trí liền kề nhà của bà Trn Thị Ba đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tại thửa số 406, tờ bản đ s 25, diện tích đt 262,2m2, diện tích xây dựng là 107,5m2, tại địa chỉ số 39/7, p Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh và vị trí đt của ông Trn Văn Châu và đường Tân Xuân 5. Phần đất cấp cho bà Trần Thị Ba có một phần lối đi chung (ngang 03m) để các hộ ông Ánh và Châu sử dụng đi từ trong nhà ra ngoài đường Tân Xuân 5. Sau đó bà Ba đã tặng cho toàn bộ quyn sử dụng đt và căn nhà cho ông Tân. Ông Tân đã đăng bộ, sang tên theo các quy định của pháp luật vào ngày 12/6/2014 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đt huyện Hóc Môn. y ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyn sở hữu nhà ở ngày 14/5/2012 cho bà Ba không đúng hiện trạng sử dụng đất, vị trí cấp đất bao trùm cả phần lối đi chung có chiều ngang là 03m, ảnh hưởng đến việc đi lại của hai hộ ông Ánh và ông Châu. Do vậy việc tranh chấp của ông Ánh, ông Châu là có cơ sở để giải quyết. Tuy nhiên, do vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các phán quyết của Tòa án, y ban nhân dân huyện Hóc Môn sẽ chấp hành.

Bản án sơ thẩm số 298/2015/DS-ST ngày 07/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn đã quyết định:

“Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc Ánh và ông Trần Văn Châu như đơn đề ngày 04/11/2014.

  1.      Buộc ông Nguyễn Văn Tân, bà Lê Thị Thu Trang và bà Trần Thị Ba phải tháo dỡ phần tài sản trên đất là cột sắt, mái tôn tại vị trí s 1 (thửa 406-1) có diện tích là 21 m2 nằm trong phần diện tích lối đi chung là quyền sử dụng đất thuộc vị trí 1 và 2 (thửa 406-1) tờ bản đồ số 25, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, có diện tích đất là 32m2, được thể hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí của hợp đồng đo vẽ số 98609/CNHM-CC đã ký duyệt ngày 09/01/2015 của Trung tâm đo đạc bản đ - Sở tài nguyên và môi trường thành ph Hồ Chí Minh đ trả lại hiện trạng lối đi chung.
  2.      Công nhận phần quyền sử dụng đất thuộc vị trí 1 và 2 (thửa 406-1), tờ bản đ s 25, xã Tân Xuân huyện Hóc Môn, có diện tích là 32m2 th hiện trên Bản đồ hiện trạng vị trí của hợp đồng đo vẽ số 98609/CNHM-CC đã ký duyệt ngày 09/01/2015 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở tài nguyên và môi trường thành phố Hồ Chí Minh, có giá trị quy ra tiền là 215.870.000đ là lối đi chung cho các gia đình ông Trần Văn Châu, bà Nguyễn Thị Ái Vy, tại địa chỉ s 39/4A, p Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành ph Hồ Chí Minh, gia đình ông Trn Ngọc Ánh, bà Nguyn Thị Kim Thoa, địa chỉ s 39/4, p Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố H Chí Minh và gia đình bà Trần Thị Ba, ông Nguyễn Văn Tân, bà Lê Thị Thu Trang, cùng địa chỉ s 39/7, ấp Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.
  3.      Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, y ban nhân dân huyn Hóc Môn và ông Nguyễn Văn Tân, bà Lê Thị Thu Trang căn cứ vào phân quyn sử dụng đt bị khu trừ thuộc vị trí 1 và 2 (thừa 406-1), tờ bản đồ s 25, xã Tân Xuân huyện Hóc Môn, có diện tích là 32m2 là li đi chung, được th hiện trên Bản đồ hiện trạng v trí ca hợp đồng đo vẽ s 98609/CNHM-CC đã ký duyệt ngày 09/01/2015 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường thành ph Hồ Chí Minh để làm căn cứ liên hệ với cơ quan có thm quyn cập nhật, sửa đi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đt, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (s vào cấp giấy chứng nhn QSDĐ: CH00408) ngày 14/5/2012 cho bà Trần Thị Ba, tại thửa s 406, t bản đ s 25, diện tích đất 262,2m, diện tích xây dựng là 107,5m2, tại địa chỉ s 39/7 p Chánh 2, xã Tân Xuân, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chỉ Minh. Bà Trn Thị Ba đã tặng nhà đt trên cho ông Nguyễn Văn Tân theo Hợp đồng công chứng s 004672 ngày 06/5/2014 tại Phòng công chứng Lý Thị Như Hòa và ông Nguyên Văn Tân đã đăng bộ, sang tên tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đt huyện Hóc Môn vào ngày 12/6/2014, theo các quy định của pháp luật trong hạn 30 ngày k từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Nếu quá thời hạn trên, Uỷ ban nhân dân huyện Hóc Môn có quyền thu hồi Giy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyn sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (sổ vào cấp giấy chứng nhận QSDĐ: CH00408) ngày 14/5/2012 cho bà Trn Thị Ba và ông Nguyn Văn Tân đăng bộ, sang tên ngày 12/6/2014 tại Văn phòng Đăng ký quyn sử dụng đt huyện Hóc Môn để cấp lại cho ông Nguyễn Văn Tân theo hiện trạng thực tế sử dụng đúng theo các quy định của pháp luật.

  1.      Trên cơ sở diện tích đất còn lại sau khi đã chỉnh sửa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đt quyn sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đt, (s vào cấp giy chứng nhận QSDĐ: CH00408) ngày 14/5/2012 thì Ngân hàng thương mại c phn phát triển Thành ph Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Văn Tân, bà Lê Thị Thu Trang phải điều chỉnh bằng phụ lục hợp đồng đi với Hợp đồng thế chấp quyn sử dụng đt, tài sản khác gắn liền với đất đ đảm bảo thực hiện nghĩa vụ s 0017/14/HĐTC/NAT mà hai bên đã ký kết tại phòng công chứng số 4, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 30/6/2014 (số công chứng 024022, quyển 6), để phù hợp với diện tích đất và tài sản trên đất thực tế còn lại.
  2.      V án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 128; 130; 131 Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đi b sung năm 2011 và áp dụng Điều 8, 9, 10 và 27, cùng danh mục mức án phí, lệ phí toà án của Pháp lệnh án, phí lệ phí Toá án.

-         Buộc ông Nguyễn Văn Tân phải chịu toàn bộ tiền ản phí dân sự sơ thm là 10.793.500đ

-         Trả lại ông Trần Ngọc Ánh và ông Trần Văn Châu số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.250.000đ theo biên lai s AE/2011/02450 ngày 25/11/2014 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.”

Sau khi xét xử sơ thẩm ông Tân kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, VKSND huyện Hóc Môn kháng nghị phần án phí và chi phí định giá.

Vấn đề cần rút kinh nghiệm:

Hai bên chỉ là tranh chấp lối đi và quyền sử dụng đất, không yêu cầu Tòa án xem xét giá trị của phần đất tranh chấp nên theo Điều 17 Nghị quyết 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/6/2012 của HĐ thẩm phán tòa án nhân dân ti cao thì trong trường hợp này Tòa án tính án phí không có giá ngạch. Việc Tòa án buộc bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch là không đúng. Do đó, kháng nghị của Viện kim sát huyện Hóc Môn là có căn cứ.

Nguồn gốc đất, của ông Trần Văn Lộn cha của các ông Trần Văn Xê, Trần Văn Xích, Trần Văn Bê và Trần Thị Ba tạo lập từ xa xưa. Trong quá trình sử dụng ông Lộn chia lại cho các con mỗi người 1 phần, khi phân chia cho các con ông Lộn không làm giấy tờ gì nhưng có kêu các con ra chỉ đường ranh và trông cây đ xác định ranh. Sau đó ông Xê, bà Ba cho lại con và cháu của mình.

Ông Ánh được thừa hưởng nhà của ông Xê, nhà xây từ năm 1965 đến năm 1989 có sửa lại và năm 2010 được Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn cp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại thửa s 354, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 209,6m2. Theo bản đồ hiện trạng vị trí thì li đi ra đường Tân Xuân 5 có chiều rộng 3m là lối đi chung.

Ông Châu xây nhà trên phần đất của ông Xê để lại, ông được y ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyển sở hữu nhà vào năm 2010, tại thửa số 355, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 107,9m2. Theo bản đồ hiện trạng vị trí thì lối đi ra đường Tân Xuân 5 có chiều rộng 3m là lối đi chung.

Bà Ba được y ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà tại thửa số 406, tờ bản đồ số 25, diện tích đất 262,2m2, diện tích xây dựng là 107,5m2. Năm 2014 bà Ba tặng nhà đất trên cho ông Tân và Tân đã được y ban nhân dân huyện Hóc Môn cấp giấy phép xây dựng, ông đã xây dựng thêm gồm cả phần đất tranh chấp.

Khi giải quyết, tòa sơ thẩm căn cứ vào trình bày của y ban nhân dân huyện Hóc Môn tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Tân phải tháo dỡ phần tài sản trên đất, xác định lối đi chung là không phù hợp.

Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có công văn gửi Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Hóc Môn để thu thập chứng cứ. Theo tài liệu do Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Hóc Môn cung cấp, phn đất trên không phải là lối đi chung. Vì vậy, kháng cáo của ông Tân có cơ sở chp nhn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị và kháng cáo, sửa án sơ thẩm. Bản án số 1282/2015/DS-PT ngày 5/10/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên như đ nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận chung:

Các vụ án nêu trên, tòa sơ thẩm có vi phạm về tố tụng và nội dung bị cấp phúc thm sửa do có lỗi của tòa sơ thẩm. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H Chí Minh kịp thời phát hiện khi tham gia xét xử phúc thẩm và Viện kiểm sát quận, huyện đã thực hiện tốt chức năng khi tham gia phiên tòa, khi kiểm sát bản án đã kịp thời phát hiện vi phạm và ban hành các kháng nghị có cơ sở, được cấp phúc thm chp nhận toàn bộ kháng nghị.

Viện kim sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thông báo đến Viện kiểm sát 24 quận, huyện để nghiên cứu rút kinh nghiệm chung./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi