Thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình đối với vụ án "Tranh chấp quyền sử dụng đất"

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình ban hành thông báo rút kinh nghiệm đối với vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

 

            Thông qua công tác kiểm sát bản án, xét xử phúc thẩm, phòng kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự - hành chính VKSND tỉnh Ninh Bình thông báo rút kinh nghiệm đối vi vụ án dân sự “tranh chấp quyền sử dụng đất” xảy ra tại huyện Gia Viễn, giữa nguyên đơn là vợ chồng chị Hà Thị Thoa với bị đơn là vợ chồng anh Hà Văn Tỉnh. Trong quá trình giải quyết, Tòa án cấp sơ thẩm có nhiều vi phạm nghiêm trọng về thủ tục t tụng và nội dung, nhưng khi nghiên cứu hồ sơ, tham gia phiên tòa, kiểm sát bản án VKS huyện không phát hiện được vi phạm để thực hiện thẩm quyền theo quy định, cụ thể:

  1.       Nội dung vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm:

* Nội dung vụ án: Năm 2006, căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của UBND xã Gia Trung đã được phê duyệt và xét nhu cầu về việc xin giao đất làm nhà ở của các hộ gia đình trong xã, UBND huyện Gia Viễn có quyết định giao đất cho 57 hộ gia đình làm nhà , trong đó có hộ gia đình anh Hà Vãn Tỉnh và chị Hà Thị Thoa (là 2 anh em ruột). Trên thủ tục hồ sơ xin giao đất, gia đình anh Tỉnh và gia đình chị Thoa đã được giao mỗi gia đình 1 thửa đất diện tích 110 m2 (là 2 thửa đất liền kề sát nhau, gia đình anh Tỉnh thửa 96, gia đình chị Thoa thửa 97) và đều đã được UBND huyện cấp GCNQSDĐ năm 2008. Sau khi được giao đất, vợ chồng anh Tỉnh làm nhà, công trình phụ trên diện tích cả 2 thửa đất (số 96, 97) để sử dụng. Năm 2013, chị Thoa khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh Tỉnh trả lại QSD diện tích 110 m2 đất tại thửa 97 cho chị.

            Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm chị Thoa xác định: năm 2006, gia đình chị là đối tượng được giao đất, chị là người trực tiếp làm các thủ tục hồ sơ xin giao đất; mọi thủ tục, hồ sơ xin giao đất đều mang tên Hà Thị Thoa; riêng số tiền nộp cho nhà nước do vợ chng chị là người không biết chữ nên chị đưa tin nhờ chị Xuân nộp hộ. Sau khi được giao đất, chị cho gia đình anh Tỉnh mượn đất xây dựng lán, công trình phụ để sinh sống, bán hàng. Nay chị có nhu cầu sử dụng đòi lại đt thì vợ chồng anh Tỉnh không trả.

            Vợ chồng anh Tỉnh xác định: Mặc dù về thủ tục hồ sơ xin giao đất và GCNQSDĐ đều mang tên chị Thoa, nhưng thực tế diện tích 110 m2 đất tranh chp không phải là của chị Thoa mà thuộc quyn sử dụng của vợ chồng anh với lý do: Năm 2006, theo quy định mỗi hộ gia đình chỉ được giao một sut đt, thời điểm đó gia đình chị Thoa là hộ gia đình nghèo, không có nhu cu, điu kiện đ mua đt nên vợ chồng anh chị có nói với chị Thoa cho mượn tên chị Thoa đ làm thủ tục xin giao đất. Được sự đồng ý của chị Thoa và UBND xã Gia Trung, vợ chồng anh Tỉnh đã làm thủ tục xin giao đất và nộp tin sử dụng đt. Vì vậỵ anh Tỉnh, chị Xuân cho rng thủ tục, hồ sơ giao đt mang tên chị Thoa là do vợ chng anh chị mượn tên của chị Thoa, mọi thủ tục hồ sơ do vợ chồng anh trực tiếp làm làm, tiền nộp QSDĐ là của vợ chồng anh chị, kể từ khi được giao đt hàng năm gia đình anh chị vn nộp thuế thửa đất mang tên chị Thoa, nên không chấp nhận yêu cầu đòi đất của chị Thoa.

* Bản án sơ thẩm quyết định: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Thoa; buộc anh Tỉnh, chị Xuân phải trả lại diện tích 110m2 đất thửa đất 97 cho chị Thoa nhưng thanh toán bằng tiền là 122.755.156 đồng. Giao vợ chồng anh Tỉnh tiếp tục sử dụng thổ đất trên. Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm, trách nhiệm thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

  1.       Những vấn đề cần rút kinh nghiệm:

            Thứ nhất: Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án, bị đơn là vợ chồng anh Tỉnh có văn bản gửi Tòa án sơ thẩm nêu ý kiến trả lời đối với yêu cầu khi kiện của chị Thoa, với nội dung: bác bỏ việc đòi lại đất của chị Thoa; yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của v chồng anh Tỉnh; yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Thoa.

            Theo quy định tại khoản 1 điều 176 BLTTDS quy định “cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, bị đơn có quyền yêu cầu phn tố đi với nguyên đơn” và điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 quy định “được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn ... nếu yêu cầu đó độc lập không cùng với yêu cầu của nguyên đơn”.

            Đối chiếu quy định pháp luật nêu trên thấy rằng: nội dung “yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất đang tranh chấp là thuộc quyn sử dụng của anh Tỉnh, chỉ Xuân; yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Thoa” của vợ chồng anh Tỉnh là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhưng Tòa án sơ thẩm không xem xét, hướng dẫn đương sự thực hiện các thủ tục tố tụng về yêu cầu phản t của bị đơn, là vi phạm quy đinh tại điều 176, 178 Bộ luật tố tụng dân sự và điều 12, 13 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 3/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

            Thứ hai: Theo quy định của pháp luật về đất đai (điều 37, 64 Luật đất đai năm 2003 và điều 8, 31 Nghị định 181) thì thẩm quyền giao đất và quản lý nhà nước về đất đai đối với thửa đất mà các đương sự đang tranh chấp là thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của UBND huyện Gia Viễn. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác minh th tục, hồ sơ giao đất tại UBND xã Gia Trung, không xác minh thu thập chứng cứ về trình tự, thủ tục giao đất tại UBND huyện Gia Viễn - là cơ quan trực tiếp có thẩm quyền giao đất, quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương để xem xét xác định diện tích 110 m2 đất đang tranh chấp UBND huyện giao cho ai, có việc mượn tên để giao đất như lời khai của vợ chồng anh Tỉnh không, nếu giao cho chị Thoa theo GCN đã cp thì trình tự thủ tục h sơ giao đất có đúng quy định của pháp luật hay không... Từ đó mới có đy đủ cơ sở đ xác đnh đúng quyền sử dụng đt hợp pháp đi với thửa đt đang tranh chấp là của ai và mới có căn cứ để chấp nhận hay không chp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thoa.

            Như vậy, Tòa án sơ thẩm không xác minh thu thập chứng cứ về trình tự, thủ tục giao đất tại UBND huyện Gia Viễn, đã xác định diện tích 110 m2 đất tại thửa đất s 97 thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của chị Thoa và chấp nhận yêu cu khởi kiện của chị Thoa là chưa đủ cơ sở, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên đương sự. Vi phạm về thu thập chứng cứ quy định tại điều 85 khoản 2 điểm g và điều 94 khoản 2 Bộ luật tố tụng dân sự.

            Thứ ba: Trong quá trình giải quyết vụ án vợ chồng anh Tỉnh trình bày thửa đất đang tranh chp khi UBND huyện giao là ao sâu, sau đó vợ chng anh chị đã tôn tạo, vượt lập và xây dựng nhà, công trình trên đất. Nhưng khi xem xét thẩm định tại chỗ và tiến hành thủ tục định giá tài sản, Tòa án sơ thẩm không xem xét, làm rõ trị giá công sức vượt lập thửa đất của vợ chồng anh Tỉnh như thế nào, để làm cơ sở giải quyết vụ án, đảm bảo quyền lợi cho vợ chồng anh Tỉnh.

            Thứ tư: Trong quá trình giải quyết vụ án, lời khai, chứng cứ các đương sự trình bày, cung cp tại Tòa án và kết quả xác minh tại UBND xã Gia Trung đối với thửa đất đang tranh chấp còn nhiều mâu thuẫn, không thống nhất, chưa đủ căn cứ để xác định ai là người nộp tiền, số tiền phải nộp là bao nhiêu, số tiền cụ thể chị Xuân đã nộp... nhưng Tòa án không thu thập chứng cứ bổ sung để làm rõ, đã xác định số tiền chị Xuân nộp tiền sử dụng đất cho chị Thoa tại UBND xã 17.847.000 đồng là chưa đủ căn cứ. Mặt khác, bản án sơ thẩm tính lãi suất của số tiền 17.847.000 đồng để buộc chị Thoa phải thanh toán tr cho chị Xuân số tiền lãi là không đúng quy định tại điều 471 Bộ luật dân sự vì chưa đủ cơ sở để xác định đây là quan hệ hp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về lãi suất để buộc chị Thoa phải trả lãi.

            Trên cơ sở kiểm sát bản án VKSND tỉnh đã phát hiện kịp thời, đầy đủ các vi phạm nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm và ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án. Kết quả xét xử: Bản án phúc thẩm đã chấp nhận toàn bộ nội dung kháng nghị của VKS tỉnh, huỷ bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp huyện giải quyết sơ thẩm lại vụ án theo thủ tục chung.

            Từ vụ án trên, Phòng kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự - hành chính tổng hp thông báo để Viện kiểm sát các huyện, thành phố biết, cùng nghiên cứu rút kinh nghiệm chung, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự./.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi