Phân tích khung chính sách liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

(Phần 2)  Phân tích khung chính sách liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch

Theo định nghĩa của ECPAT International (Tổ chức Chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục) thì “Xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch là việc các cá nhân sử dụng các chuyến du lịch nhằm mục đích quan hệ tình dục với trẻ em, có thể từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc từ các vùng địa lý khác nhau trong cùng một quốc gia”. Đây là một loại tội phạm liên quan đến cả pháp luật hình sự, lao động và pháp luật về quyền con người.

Tháng 11 năm 2005, Tuần báo “News of the world” của Anh đã đưa tin, cựu ca sĩ nhạc rock Gary Glitter đang có “vài ba” người vợ tuổi vị thành niên ở Bà Rịa – Vũng Tàu. Tờ báo còn đăng tải nhiều hình ảnh Gary Glitter (61 tuổi), đi xe đạp ở bờ biển này với nhiều em gái nhỏ tuổi. Sau khi bị tờ báo của Anh phát hiện, Gary Glitter có ý định lẩn trốn sang Bang Kok - Thái Lan nhưng đã bị cảnh sát Việt Nam bắt giữ tại sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 19/11/2005.

Qua khai báo của bên bị hại và nhân chứng, trong thời gian cư trú ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Gary Glitter đã xâm hại tình dục 2 trẻ em gái là Trần Thị D, sinh năm 1994 (11 tuổi) và em Trần Thị Thảo N, sinh năm 1993 (12 tuổi). Cũng theo tuần báo “News of the World”, từ giữa năm 2002, trong thời gian ở Campuchia, Gary đã sang Việt Nam một vài lần để thực hiện hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Đến tháng 3/2005, Gary Glitter trở lại Việt Nam và đăng ký tạm trú ở căn nhà số 38, Trần Phú, TP. Vũng Tàu. Theo những người dân ở gần đó, trong suốt thời gian Gary Glitter cư ngụ ở đây nhưng lại không bị cơ quan chức năng, các cấp chính quyền địa phương phát hiện, mặc dù hành tung của Gary Glitter có vẻ bí ẩn.

Theo định nghĩa của ECPAT International (Tổ chức Chấm dứt mại dâm, khiêu dâm và buôn bán trẻ em nhằm bóc lột tình dục) thì “Xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch là việc các cá nhân sử dụng các chuyến du lịch nhằm mục đích quan hệ tình dục với trẻ em, có thể từ quốc gia này sang quốc gia khác, hoặc từ các vùng địa lý khác nhau trong cùng một quốc gia”. Đây là một loại tội phạm liên quan đến cả pháp luật hình sự, lao động và pháp luật về quyền con người. Hành vi của Gary Glitter ở Việt Nam được xếp vào loại “xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch”. Và là vụ án điển hình về xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch đã được phát hiện và xét xử tại Việt Nam. Vậy, những khuôn khổ pháp luật nào của Việt Nam đã và được áp dụng khi  xét xử vụ án xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch?

Khung pháp lý liên quan trực tiếp đến phòng chống du lịch tình dục trẻ em bao gồm các văn kiện pháp luật quốc tế như sau: (1) Công ước về quyền trẻ em (1989) (CƯQTE) và Nghị định thư không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em (2000) (Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CƯQTE); (2) Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000) (UNTOC) và Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung UNTOC (2005) (Nghị định thư BBN); (3) Công ước (Số 182) về nghiêm cấm và hành động tức thời để xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (Công ước 182 của ILO). Các văn kiện này đã được Việt Nam và các quốc gia trong khu vực phê chuẩn để thực hiện các ứng phó về tư pháp hình sự nhằm đấu tranh với du lịch tình dục trẻ em.

Trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, có chế tài xử phạt đối với các hành vi xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999; Luật Bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 2004; Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (Nghị định 71/2011/NĐ-CP; Nghị định 91/2011/NĐ-CP; Nghị định 73/2010/NĐ-CP; Nghị định 72/2013/NĐ-CP) gồm các nhóm tội danh và hành vi như sau (1) Mại dâm trẻ em, trong đó gồm các hành vi liên quan đến mua, bán dâm trẻ em; (2) Xâm hại tình dục trẻ em gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu và dâm ô đối với trẻ em; (3) Khiêu dâm trẻ em, trong đó gồm các hành vi tuyên truyền, kích động trên internet; (4) Mua bán trẻ em vì mục đich mại dâm; (5) Dụ dỗ, ép buộc, chứa chấp người chưa thành niên phạm tội (bao gồm người dưới 18 tuổi);  

Đối với các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tư pháp hình sự, mặc dù Việt nam không có quy định riêng về việc bảo vệ nạn nhân và nhân chứng là trẻ em tuy nhiên, một số văn bản quy định các quyền và biện pháp bảo vệ cơ bản có thể áp dụng đối với nạn nhân và nhân chứng là trẻ em của tội phạm du lịch tình dục. Cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003; Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 12/7/2012; Bộ luật Hình sự; Luật BVCSGDTE; Luật  Phòng chống buôn bán người; Pháp lệnh Phòng chống mại dâm.  Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em (2011-2015) thể hiện cam kết của Chính phủ về tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ em tại Việt Nam và đưa ra một cơ hội dựa trên ý chí chính trị hiện tại để tăng cường bảo vệ trẻ em trong quá trình tư pháp hình sự. 

Đối với quyền tài phán ngoài lãnh thổ. Theo nguyên tắc quốc tịch, công dân của quốc gia nào có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của quốc gia đó, quyền tài phán được áp dụng: (1) đối với công dân Việt Nam phạm tội ngoài lãnh thổ Việt Nam; (2) Đối với người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam; (3) Đối với người nước ngoài phạm tội ở trong lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên yêu cầu việc thực hiện quyền tài phán này.

Đối với các biện pháp phối hợp hành pháp xuyên quốc gia, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự (bao gồm cả dẫn độ và tương trợ tư pháp) được thực hiện trên cơ sở các điều ước mà Việt Nam là thành viên và pháp luật của Việt Nam. Trường hợp Việt Nam chưa là thành viên của điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác có thể được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế. Luật Tương trợ tư pháp (2007) đã quy định đầy đủ hơn về vấn đề dẫn độ và tương trợ tư pháp, bao gồm cả các bước yêu cầu đặc thù để đưa ra và tiếp nhận yêu cầu. Tội phạm có thể bị dẫn độ bị phạt tù từ 01 năm trở lên, có nghĩa rằng, hầu hết các tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự liên quan đến du lịch tình dục trẻ em đều có thể bị dẫn độ. Đồng thời, trong Luật Phòng chống mua bán người cũng đã đưa ra khung pháp luật cho Việt Nam về hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người, làm tiền lệ quan trọng cho việc hợp tác quốc tế trong giải quyết các tội phạm nghiêm trọng liên quan đến bóc lột tình dục trẻ em.

Gary Glitter đã xâm hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm thần, thể chất, danh dự, nhân phẩm của hai trẻ em gái là Trần Thị D, sinh năm 1994 (11 tuổi) và em Trần Thị Thảo N, sinh năm 1993 (12 tuổi) được quy định rõ trong quyền được bảo vệ của Công ước liên hợp quốc về Quyền trẻ em. Ngày 3/3/2006, phiên tòa xét xử Gary Glitter kết thúc, với tội danh “dâm ô với trẻ em”, Gary Glitter bị TAND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tuyên phạt 3 năm tù giam, đồng thời bị trục xuất khỏi Việt Nam ngay sau khi chấp hành án phạt. Ngoài ra, Gary Glitter còn bị tòa án buộc phải phải bồi thường cho 2 nạn nhân, mỗi người 5 triệu đồng.

Sau vụ án cựu ca sĩ Gary Glitter đến nay, Việt Nam chưa nổi lên vụ việc nghiêm trọng nào liên quan đến du lịch tình dục trẻ em. Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đã có nhiều nỗ lực hợp tác để ngăn chặn tội phạm  du lịch tình dục trẻ em song nó thực sự là thách thức và ngày càng gia tăng. Loại hình tội phạm này ở Việt Nam có một số biểu hiện đáng chú ý như: khách du lịch tự tìm kiếm hoặc thông qua môi giới để thực hiện hành vi mua dâm, mua trinh, giao cấu, dâm ô với trẻ em. Ngoài các đường dây sextour hoặc đường dây mua bán trẻ em xuyên biên giới cung cấp các dịch vụ tình dục cho khách du lịch trong và ngoài nước; nhiều khách du lịch dùng tiền để quay phim, chụp ảnh khỏa thân, khiêu dâm trẻ em để tàng trữ, phát tán văn hóa phẩm khiêu dâm…

Phân tích khung hệ thống luật pháp, chính sách liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch cho thấy:

-    Hệ thống luật pháp, chính sách chưa có quy định riêng về tội phạm du lịch tình dục trẻ em mà mới chỉ có tội phạm xâm hại tình dục trẻ em.  Các quy định luật pháp, chinh sách đang được thiết kế từ bị động sang chủ động bảo vệ trẻ em; từ chỉ xử lý hình sự, xử lý hành chính khi vụ việc xảy ra sang có các biện pháp phòng ngừa ngay tại cộng đồng như Thông tư 23 về Quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục. Bởi tội phạm du lịch tình dục trẻ em thể hiện ở các hình thức khó phát hiện và kiểm soát như khách du lịch tự kiếm trẻ em hoặc thông qua môi giới (nhân viên quản lý, bảo vệ nhà hàng khách sạn, hướng dẫn viên du lịch, lái xe taxi, xe ôm…); khách du lịch thuê trẻ em để quay phim, chụp hình khỏa thân, khiêu dâm; một số đối tượng, tổ chức đường dây mua bán trẻ em để phục vụ khách du lịch. Nạn nhân chủ yếu là những trẻ em nghèo, lang thang, sống tại những vùng có địa điểm du lịch. Rất khó khăn trong việc phát hiện, điều tra các vụ án du lịch tình dục trẻ em do độ tuổi của các em còn quá nhỏ. Các em có tâm lý sợ hãi, nhận thức chưa hoàn thiện nên việc lấy lời khai, chứng cứ tản mạn, thiếu chính xác. Đối tượng phạm tội thường dùng tiền để dàn xếp, thỏa thuận; nhiều điều tra viên thiếu kinh nghiệm, kỹ năng luật pháp, tâm lý trẻ em nên khó khăn trong việc thu thập chứng cứ. Chỉ những vụ việc đặc biệt nghiêm trọng mới có đủ chính cứ để đưa ra xử phạt hành chính và hình sự. Do vậy Thông tư 23 đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng cũng như đưa ra quy trình để cộng đồng có khả năng ứng phó phù hợp khi có trường hợp xâm hại tình dục xảy ra.

-   Cách tiếp cận chính sách hiện nay vẫn là tiếp cận đến trẻ em nói chung, không tiếp cận theo một số yếu tố đặc trưng như (1) tiếp cận theo giới tính: nam và nữ, trẻ em gái bị xâm hại tình dục cao hơn nhiều so với trẻ em nam? Đặc thù nào đã dẫn đến thực trạng đó; (2)   Tiếp cận theo nhóm trẻ em có nguy cơ cao bị xâm hại tình dục: nhóm trẻ em nào cần có biện pháp, chính sách phòng ngừa phù hợp (trẻ em khuyết tật về tâm thần, trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, trẻ em nghèo, trẻ em lao động sớm, giúp việc gia đình….. ); (3)   Tiếp cận là trẻ em đồng tính: đồng tính không bị coi là một bệnh, đang là xu hướng mới nảy sinh trong xã hội Việt Nam hiện nay, trẻ em đồng tính nam dễ bị xâm hại tình dục… Cách tiếp cận chính sách không đầy đủ các khía cạnh dẫn đến không có các biện pháp bảo vệ nạn nhân và nhân chứng là trẻ em, không giám sát được quá trình phạm tội dẫn đến trẻ em có thể là nạn nhân lần thứ n của tội phạm du lịch tình dục.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật pháp, chính sách liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em nói chung và xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch nói riêng còn gặp nhiều khó khăn như Định nghĩa liên quan đến trẻ em chưa đồng nhất giữa 16 và 18 tuổi; Chưa có khái niệm được quy định trong Bộ luật hình sự về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch; Những hành vi mua bán người chưa được quy định trực tiếp trong Bộ luật hình sự; Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy chưa hài hòa giữa Bộ luật hình sự và pháp luật quốc tế…  Ngay cả Quy trình can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục tại công đồng do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức thực hiện cũng đang gặp một số rào cản. Có 5 bước can thiệp, trợ giúp trẻ em bị xâm hại tình dục tại cộng đồng, các bước sẽ là một vòng khép kín và trẻ em sẽ được hỗ trợ nhiều lần cho đến khi hòa nhập cộng đồng, không còn dấu hiệu bị xâm hại. Các bên liên quan tham gia vào quy trình can thiệp, trợ giúp gồm các ban ngành ở cấp xã/phường, nhưng chủ yếu và đóng vai trò quan trọng là cán bộ BVCSTE xã/phường (là những người tình nguyện, nhiệt tình ở cộng đồng, không được đào tạo chuyên môn sâu về BVTE) và đại diện UBND xã. Khó khăn trong việc thực hiện quy trình này:

- Cán bộ tham gia quy trình có nhận thức hạn chế: pháp luật, chính sách, kỹ năng làm việc với trẻ, thiếu hiểu biết về tâm sinh lý của trẻ, các vấn đề liên quan đến tình dục….

- Chỉ có sự tham gia của ngành LĐTBXH (vì Thông tư 23 là của ngành LĐTBXH) chưa có quy định trách nhiệm cụ thể của các ngành liên quan như công an, y tế, giáo dục vì chưa có Thông tư liên tịch.

- Chưa có cán bộ xã hội chuyên nghiệp hỗ trợ cho cán bộ BVCSTE tại cộng đồng,

- Thiếu hỗ trợ việc kết nối dịch vụ (theo tuyến ngang với các dịch vụ công liên quan ở cùng tuyến xã, huyện, tỉnh) và dịch vụ chuyển tuyến (theo tuyến dọc),

-  Không có kinh phí thực hiện quy trình.

Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc có hiệu lực từ năm 1990, Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước vào năm 1991. Công ước quy định rằng mọi trẻ em trên thế giới đều có quyền được sống và nuôi dưỡng với sự yêu thương, đùm bọc của gia đình và xã hội. Thế nhưng, nhiều trẻ em trên thế giới đang không có được những quyền cơ bản này, trong đó có Việt Nam. Không ngày nào báo chí không đưa tin về các vụ xâm hại tình dục trẻ em trên thế giới. Từ các nước phát triển cho tới các nước nghèo, từ các quốc gia ổn định đến các nước đang bất ổn do xung đột, trẻ em luôn là đối tượng bị xâm hại tình dục với nhiều hình thức khác nhau. Cần có sự vào cuộc ngay từ hôm nay của gia đình, nhà trường, xã hội và các cơ quan ban ngành có liên quan bằng một kế hoạch hành động cụ thể để ngăn chặn, phòng chống nạn xâm hại tình dục trẻ em trong hoạt động du lịch.

nguồn tài liệu: http://www.molisa.gov.vn

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi