Nghiên cứu việc tuyển dụng và sử dụng quan lại dưới thời phong kiến Việt Nam

Nghiên cứu việc tuyển dụng và sử dụng quan lại

dưới thời phong kiến Việt Nam

                                                                                                         Nguyễn Quốc Huy
                                                                Chủ tịch Hội CCB cơ quan Bộ Tư pháp

 
Lịch sử của các dân tộc, quốc gia là một dòng chảy không ngừng, thế hệ sau kế tiếp thế hệ trước viết lên lịch sử dân tộc và xây dựng tiếp nối nền văn hóa của dân tộc mình.
Trong lĩnh vực công vụ, công chức, viên chức, quản trị đất nước việc nghiên cứu truyền thống dân tộc để khai thác, bảo tồn, gìn giữ, phát huy những giá trị đích thực phục vụ cho cuộc sống ngày nay và mai sau là vô cùng cần thiết.
I.Về việc tuyển dụng quan lại dưới các điều đại phong kiến Việt Nam
      Qua nghiên cứu lịch sử phong kiến Việt nam, pháp luật rất được chú trọng, quan tâm đến những người làm việc trong bộ máy nhà nước, vấn đề thứ nhất là chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân tài, đề cao đạo đức người làm quan. Người làm quan phải là người quân tử, con người đó thể hiện là: Chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ; đạo làm quan cốt ở hai điều “trên thị yêu vua, dưới thì yêu dân”. Người làm quan phải là người có tài “dựng nước lấy học làm đầu, cần trị lấy dân làm gốc”. Đồng thời, không chỉ dựa vào bằng cấp, khoa cử, mà phải được kiểm nghiệm bằng thực tế, lấy kết quả công việc để đánh giá và sử dụng tài năng. Vì vậy, có nhiều người là hoàng thân, quốc thích nhưng không có tài thì chỉ được nhà vua phong hàm, phong tước để hưởng bổng lộc của triều đình, nhưng không được giao quyền để giải quyết, điều hành công việc. Chính vì vậy, nhà nước phong kiến Việt Nam đã quản trị được đất nước trong những điều kiện rất khó khăn, đặc biệt khi đất nước có giặc ngoại xâm.
      Để lựa chọn được người tài, nhà nước phong kiến Việt Nam đã áp dụng nhiều hình thức tuyển dụng như: Nhà vua đích thân đi tìm người hiền tài để trị nước; bằng con đường tiến cử hoặc cầu hiền; bằng con đường khoa cử, đây là hình thức phổ biến nhất. Thời Lý (ở thế kỷ thứ XI) vua Lý Nhân Tông, năm Ât Dậu, tháng 2 xuống chiếu thi minh kinh bác sỹ và Nho học tam thường; vào năm Thiên tư Gia Thụy thứ 10 (1195) Lý Cao Tông bắt đầu mở thi Tam giáo (Nho-Phật-Lão). Đời Lý chưa thực sự chú trọng đề cao khoa trường, con đường làm quan chủ yếu là lấy tuyển cử làm trọng và thực hiện chế độ nhiệm tử, tức là dùng các con quan. Đến thời vua Lê Thánh Tông việc thi khoa cử được đề cao. Đên thời Vua Minh Mạng đã được đặc biệt chý ý tới khoa cử , sau được nâng lên thành phương thức chính thống, phổ biến để chọn nhân tài cho quốc gia; ở thời kỳ này đã mở khóa thi Hương, thi Hội và thi Đình. Những người đỗ đạt đều được trọng dụng theo khả năng thực tế của từng người; có học vị cao thì được bổ ngay, nhận chức vụ cao và làm quan trong triều, nếu thi đỗ ở học vị thấp hơn thì làm ở phủ, huyện.
II. Về Phân loại, bố trí quan lại
      Dưới thời phong kiến dựa vào yếu tố quyền lực, các chức vụ nhà nước được phân chia thành 02 loại, đó là: Quan lại và nha lại. Quan chỉ huy, như quan tổng đốc, quan tri phủ, tri huyện; còn nha lại là người thừa hành, phục vụ cho các quan lại ở các nha môn. Đối với quan lại, nhà nước phong kiến Việt Nam áp dụng chế độ thuyên chuyển, điều động, riêng nha lại thì được giữ lại ổn định. Để tạo môi trường mới, phát huy tính năng động, của quan lại, để tránh trì trệ, kéo bè, kéo cánh, phe phái, tham nhũng. Các triều đại phong kiến Việt Nam đã áp dụng chế độ thuyên chuyển quan lại, ví dụ tri phủ ở phủ này chuyển đi làm tri phủ của phủ khác, hoặc làm tri huyện. Đây được coi là bài học quan trọng có tính lịch sử khi tiến hành công tác luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức hiện nay ở nước ta hiện nay.
III.Về phân bổ quan lại và phân bổ biên chế
      Về việc phân bổ quan lại, và biên chế dưới các triều đại phong kiến Việt nam thường dựa vào dân số để quy định về số lượng quan lại. Dưới triều vua Lê Thánh Tông quy định: Từ 500 hộ trở lên có 05 xã trưởng; 300 hộ có 04 xã trưởng; 100 hộ có 02 xã trưởng, dưới 60 hộ có 01 xã trưởng. Năm 1939 dưới thời vua Minh Mạng thứ 20, nhà vua lấy số lượng và nhu cầu công việc làm tiêu chí để quyết định biên chế, phân bổ quan lại. Trong chỉ dụ của vua Minh Mạng năm 1831 có viết “ Bắc thành có 11 trấn rất rộng, việc nhiều, các địa phương ấy các việc quân, dân, kiện tụng, thuế khóa… thực bề bộn. Cần phải chiếu theo địa hạt chia người coi giữ có chuyên trách”.
     Bên cạnh đó, pháp luật phong kiến Việt Nam còn áp dụng thể chế “hồi tỵ” đối với quan lại. Việc sắp xếp quan lại ở các địa phương quy định rất chi tiết, ví dụ như: “Người sinh ra ở vùng này tới cai trị ở vùng khác, thậm chí các quan viên có nhà ở gần bản nha môn thì Bộ Lại nên đổi đi nơi khác. Trong Bộ Luật Hồng Đức còn cấm quan lại địa phương lấy vợ tại địa phương mình cai trị. Trong Chiếu tháng 9.1488 của Hồng Đức có quy định việc sắp đặt lại tránh quan hệ họ hàng: “Khi xét đặt xã trưởng, hễ là anh em ruột, con chú bác và bác cháu, cậu cháu với nhau thì chỉ có một người làm xã trưởng, không được cùng làm để gây mối tệ bè phái hùa nhau”.  
V. Về việc giám sát, khảo cứu
     Ở dưới triều Nguyễn, việc sát hạch là việc làm thường xuyên do Bộ Lễ thực hiện và giao cho Bộ Lại xét bổ, được tiến hành nghiêm minh, thưởng, phạt rõ ràng.
      Việc giám sát do Đô soát viện thực hiện, Nhà vua trực tiếp chỉ huy, cơ quan này hoạt động độc lập, không chịu sự giám sát của bất cứ cơ quan nào (Minh Mạng năm 1832).
      Về công tác kiểm tra, triều đình cử quan đại thần đi “Kinh lược đại sứ” với quyền hạn được giao rất lớn để tiến hành thanh tra, kiểm tra khắp nơi giúp dân cởi bỏ oan sai, đồng thời thẳng tay trừng trị quan lại tham nhũng, bán nước, hại dân.
     Việc khảo khóa được quan tâm, qua kết quả khảo khóa được coi là cơ sở để thăng quan, tiến chức, “thăng người giỏi, truất người hèn”. Nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong khảo khóa. Pháp luật dưới triều đại phong kiến còn quy định: “ Qua khảo hạch dám có tư tính xét bậy, Bộ Lại khảo xét không minh, Lại khoa xét bắt không sáng suốt đều phải giao sang Hình bộ theo luật chịu tội”. Dưới triều Nguyễn việc khảo khóa được quy định theo thời hạn. Ngày nay, chúng ta đang thực hiện đánh giá cán bộ, công chức, viên chức, được thực hiện thường xuyên hàng năm, nhưng tiêu chí chưa thực sự cụ thể, dẫn đến tồn tại là tôi ủng hộ anh, anh ủng hộ tôi, dĩ hòa vi quý, còn mang nặng tính hình thức, chưa sát thực tế.
VI. Về đãi ngộ và thưởng, phạt quan lại
       Từ triều vua Lê Thánh Tông trở đi, bổng lộc của quan lại được quy địnhtheo chức tước, phẩm hàm và theo khối lượng công việc, trả lương theo việc làm và công trạng. Bên cạnh chế độ tiền lương, các triều đình phong kiến còn áp dụng chế độ tiền “dưỡng liêm”, để cấp cho những viên quan cai trị gần dân như tri phủ, tri huyện, nhằm khuyến khích “đức thanh liêm”, nhưng không phải cấp đồng đều cho tất cả tri phủ, tri huyện.
      Chế độ quan lại thời phong kiến còn chú trọng đến trách nhiệm của các quan lại trong việc thừa hành công vụ. Trong Quốc triều Hình luật có nhiều quy định mang tính chất trừng trị nghiêm khắc  như: phạt do để chậm trễ chiếu chỉ, công văn giấy tờ (Điều 23), quan do vô tình dùng dằng để lỡ việc, nếu việc nhỏ xử tội biếm, công việc hàng tháng xử tội đồ, việc lớn tức là công việc hàng năm  xử tội lưu (Điều 136). Ngoài ra còn có các quy định khác: đối với quan tại chức, không đến nơi làm việc mà không có lý do thì bị xử phạt biếm hoặc bãi chức (Điều 4), nếu ở sở làm việc mà ngồi không đúng phép sẽ bị xử tội biếm hoặc phạt tiền (Điều 23).
     Dưới triều vua Minh Mạng việc thưởng, phạt rất nghiêm minh, quan lại có công thì được ban thưởng lớn, có tội đều bị xử phạt nghiêm minh, điển hình như, năm 1838 vua Minh Mạng đã cách chức Thượng thư Bộ Lễ về lỗi không kiểm tra, đôn đốc để người dưới quyền không trông nom, bảo quản đồ thờ trong nhà Thế miếu, để bọn Giám thủ đánh tráo từ vàng thật thành vàng giả.
      Tóm lại, các chế độ như tuyển dụng, sử dụng, phân loại, sắp xếp quan lại, thưởng, phạt chế độ trách nhiệm, thanh tra, giám sát…dưới các triều đại phong kiến Việt Nam đã lột tả rõ nét về diện mạo chính trị - xã hội ở thời kỳ này, đến nay các quy định này vẫn giữ những giá trị lịch sử và văn hóa của dân tộc cần được coi trọng, nghiên cứu, chắt lọc và kế thừa vận dụng trong thời đại ngày nay, nhất là chế độ tuyển dụng; phân bổ biên chế; đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; chế độ trách nhiệm, thưởng, phạt; sắp xếp bố trí, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, công chức./.
 
 
Nguồn bài viết: trang web của Bộ Tư pháp
                                                                    
Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi