MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁT BIỂU CỦA KSV TẠI PHIÊN TÒA THEO BỘ LUẬT TTDS VÀ LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NĂM 2015

 

ThS. Lê Thị Hồng Hạnh – KSV Viện KSND Quận Hai Bà Trưng

 

Bản  phát biểu KSV là một văn bản pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án trong giai đoạn xét xử. Tại Điều 262, Điều 306, Điều 375, Điều 341 BLTTDS; Điều 190, Điều 240, Điều 270 Luật TTHC đều quy định: "Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án" 

Như vậy, phát biểu của KSV tại phiên tòa là một thủ tục bắt buộc. Theo đó, KSV phải đánh giá được toàn bộ quá trình chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm. Nhận xét về việc chấp hành pháp luật của HĐXX, thư ký Tòa án tại phiên tòa  đồng thời KSV phải phân tích nội dung vụ án, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện các chứng cứ của vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan để đề xuất hướng giải quyết vụ án (chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự...); Ý kiến phát biểu của KSV tại phiên tòa là một trong các căn cứ để Hội đồng xét xử thảo luận, xem xét giải quyết vụ án khi nghị án.

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng khi tham gia vào quan hệ pháp luật có tranh chấp cũng là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân. Tại Khoản 4, Điều 27, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân như sau:“Tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật”.

Do đó, để bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013 và quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Tại Điều 262, Điều 306, Điều 375, Điều 341 BLTTDS; Điều 190, Điều 240, Điều 270 Luật TTHC đều quy định: "Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án" . Tại các Thông tư liên tịch số 02, 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 (sau đây gọi tắt là Thông tư) quy định việc phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát, Tòa án trong kiểm sát việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự cũng không có quy định cụ thể trong bao nhiêu ngày VKS phải gửi bản phát biểu cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của các Thông tư liên tịch số 03, 04/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/8/2012 trước đây quy định: “…Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, VKS phải gửi cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”. Theo  tác giả nhận thấy với quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, VKS phải gửi Bản phát biểu cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án như quy định trước đây là phù hợp. Liên quan đến vấn đề này tác giả đưa ra một ví dụ cụ thể sau đây:

Tại đơn xin ly hôn ngày 19/11/2015 được bổ sung bởi bản tự khai, hòa giải nguyên đơn anh L.T.N trình bày: Anh L.T.N và chị Đ.M.T đăng ký kết hôn ngày 20/3/2002 tại UBND phường TN, quận H trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu nhau. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với bố mẹ đẻ của anh N tại số X ngõ Y phố BM, phường TN, quận H, Hà Nội.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng không hòa hợp về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không tôn trọng hai bên gia đình. Nay anh N yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về tình cảmAnh N xác định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc nên xin ly hôn.

Về tài sản chung:  Không có tài sản chung, không vay nợ ai, không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Về con: Vợ chồng có 02 con chung: là cháu L.Đ.P (SN : 20/12/2003) và cháu L.V.H (SN : 15/01/2009). Anh N xin nuôi cháu P còn chị T nuôi cháu H. Không bên nào phải đóng góp tiền nuôi con.

Về nhà ở: Vợ chồng anh không có nhà ở riêng, hiện vợ chồng anh đang ở tại số X ngõ Y phố BM, phường TN, quận H, Hà Nội là nhà của bố mẹ anh là ông L.H.P và bà N.T.N. Năm 2010 gia đình anh xây sửa lại. Anh n và chị T đóng góp 170.000.000đồng, ngoài ra anh N còn đóng góp 30.000.000đồng là tiền do anh tiết kiệm mà có. Anh trai anh N là L.H.H đóng góp 150.000.000đồng. Nếu ly hôn, anh N sẽ trả cho chị T 100.000.000đồng. Còn nếu chị T không đồng ý thì Tòa căn cứ vào các tài liệu chứng cứ để xét xử.

Về vay nợ: Vợ chồng không vay nợ ai, không ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn chị Đ.M.T trình bày: Chị xác nhận về thời gian và điều kiện kết hôn như anh N khai. Từ đầu năm 2015, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm nên cãi nhau những mâu thuẫn đó chỉ là nhỏ nhặt. Chị đã luôn cố gắng nuôi dạy các con và vun vén cho gia đình. Chị xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị vẫn quan tâm yêu thương anh N. Đặc biệt anh N vẫn về nhà ăn cơm và chăm sóc các con. Do vậy, chị không muốn ly hôn và muốn anh N xem xét và quay trở về với gia đình. Do chị không muốn ly hôn nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề nào khác.

Ngày 8/11/2016, Tòa án nhân dân quận H chuyển hồ sơ cùng Quyết định đưa vụ án ra xét xử sang Viện kiểm sát nhân dân quận H. Qua nghiên cứu hồ sơ KSV nhận thấy:

Anh L.T.N và chị Đ.M.T đăng ký kết hôn ngày 20/3/2002 tại UBND phường TN, quận H trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu nhau. Trước khi kết hôn chưa ai có vợ, có chồng. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với bố mẹ đẻ của anh N tại số X ngõ Y phố BM, phường TN, quận H, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh N cho rằng nguyên nhân vợ chồng không hòa hợp về quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, không tôn trọng hai bên gia đình nhưng anh N đã không đưa ra được chứng cứ chứng minh gì về mâu thuẫn trên. Bị đơn chị T  không đồng ý ly hôn vì chị vẫn quan tâm yêu thương anh N, chị đã luôn cố gắng nuôi dạy các con và vun vén cho gia đình. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án xác minh tại tổ dân phố nơi anh N và chị T thể hiện: Mong muốn anh N rút đơn vì không khí gia đình vẫn hài hòa, cuộc sống bình thường. Anh N vẫn thường xuyên chăm sóc và quan tâm tới gia đình. Với những chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại Bản phát biểu của KSV đã nhận xét về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, thư ký kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử sơ thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án KSV căn cứ Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn: Tình trạng của vợ chồng là trầm trọng khi hai người không thương yêu, quý trọng, giúp đỡ, chăm sóc nhau, dù đã được hòa giải nhiều lần; vợ hoặc chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau hoặc ngoại tình, dù đã được hòa giải, nhắc nhở. Do vậy, KSV không chấp nhận đơn xin ly hôn của Anh L.T.N đối với chị Đ.M.T. Bác đơn xin ly hôn để anh N và chị T có thời gian để suy nghĩ lại và có điều kiện hàn gắn.

Ngày 28/11/2016, Tòa án tiến hành xét xử. Tuy nhiên, tại phiên tòa chị T đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của anh N, anh N đồng ý giao 02 con cho chị T nuôi và đồng ý cấp dưỡng 10.000.000đồng/tháng/cháu. Ngoài ra anh N sẽ trả cho chị T 100.000.000đồng tiền công sức đóng góp xây dựng nhà.

Trong trường hợp này phát biểu của KSV sẽ như thế nào? Theo quy định tại Điều 5 BLTTDS quy định: Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự:

1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó.

2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.

Như vậy, quyền tự định đoạt của đương sự là quyền tự quyết định tham gia tố tụng dân sự, tự quyết định quyền và lợi ích của họ trong tố tụng dân theo quy định của pháp luật. Việc yêu cầu và thay đổi yêu cầu này hoàn toàn dựa trên ý chí của đương sự. Do vậy, trong vụ án trên KSV không thể đưa ra quan điểm giải quyết vụ án như dự kiến ban đầu là bác đơn xin ly hôn của anh L.T.N mà KSV phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.

Qua phân tích và dẫn chứng vụ việc cụ thể như trên, tác giả cho rằng với quy định ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án là không phù hợp với thực tiễn xét xử, là yêu cầu rất khó khăn đối với Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Bởi lẽ, trường hợp phải gửi ngay sau khi phiên tòa kết thúc, Kiểm sát viên sẽ không kịp bổ sung, hoàn thiện bài phát biểu cả về hình thức và nội dung, quan điểm giải quyết vụ án bởi vì phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa không những phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án mà còn phải căn cứ vào diễn biến trực tiếp tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải kịp thời và linh hoạt bổ sung vào bản phát biểu để điều chỉnh quan điểm giải quyết vụ án. Nên bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên có thể được chỉnh sửa về nội dung và hình thức văn bản sau khi nắm bắt diễn biến trực tiếp tại phiên tòa. Mặt khác, Bản phát biểu còn được đóng dấu của Viện kiểm sát.

Với những khó khăn vướng mắc nêu trên, để áp dụng pháp luật thống nhất, đảm bảo cho hoạt động tư pháp được kiểm sát một cách chặt chẽ, chính xác thiết nghĩ cần phải có quy định cụ thể hơn về gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án.

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi