MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

 

Phạm Văn Tuân

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

 

 

Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015 với rất nhiều nội dung mới, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ và đề cao hơn quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, dưới góc độ lập pháp, vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật cũng như cách hiểu áp dụng pháp luật một cách chặt chẽ đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo luật định.

Qua nghiên cứu nội dung của BLTTHS chúng tôi có một số các quan điểm như sau:

1. Về chủ thể tham gia tố tụng

So với BLTTHS năm 2003 quy định 11 chủ thể là người tham gia tố tụng, thì BTTTHS năm 2015 có đến 20 chủ thể là người tham gia tố tụng. Một số chủ thể mới được quy định như: Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố; người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố; người chứng kiến; người định giá tài sản… Việc quy định thêm các chủ thể trên với tư cách là người tham gia tố tụng là hoàn toàn cần thiết và hợp lý. Tuy nhiên, mỗi người tham gia tố tụng đều có một vị trí, vai trò nhất định trong hoạt động tố tụng, quyền và nghĩa vụ của họ có những điểm giống nhau nhưng bên cạnh đó có những điểm khác nhau tùy vào từng chủ thể. Tại các Điều 68 (người giám định), Điều 69 (người định giá tài sản), Điều 70 (người phiên dịch, người dịch thuật) đều quy định rằng: “họ phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo”. Theo quy định của BLTTHS thì việc giám định, định giá hay phiên dịch, dịch thuật có thể được tiến hành kể từ khi cơ quan có thẩm tiến hành tố tụng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho đến xuyên suốt quá trình tố tụng. Kết quả giám định, định giá là căn cứ đầu tiền để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can (giám định tỉ lệ thương tật, tâm thần, định giá giá trị của tài sản…). Vậy trường hợp những người nêu trên là người thân thích của người bị tạm giữ, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố thì họ vẫn có quyền tiến hành giám định, định giá, phiên dịch, dịch thuật cho những người thân thích của mình quy định như trên là không hợp lý. Tuy rằng, các kết quả này nếu có sự gian dối thì sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình nhưng nếu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không phát hiện ra rất có thể gây bỏ lọt tội phạm hoặc khi phát hiện ra sẽ lại phải yêu cầu giám định lại, định giá lại… thậm chí khi bản án có hiệu lực pháp luật mới phát hiện sẽ kéo theo hệ quả bản án phải được xem xét lại theo thủ tục tái thẩm (theo khoản 1 Điều 398) làm kéo dài thủ tục tố tụng đối với vụ án. Theo chúng tôi, nên quy định người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, dịch thuật phải từ chối giam gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi đồng thời là bị hại, đương sự, người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của Người bị buộc tội, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố.

2. Về các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, khám xét.

Điều 114 BLTTHS quy định : “Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.” BLTTHS năm 2015 quy định 05 trường hợp được phép bắt người bao gồm: bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt quả tang, bắt người bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Điều luật quy định trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt theo chúng tôi là chưa hợp lý. Bởi vì, đối với trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam là trường hợp đối với họ đã có quyết định khởi tố bị can nên trong trường hợp này phải ra 1 trong 2 quyết định như trên theo điều luật là chưa chính xác. Nên quy định thêm rằng “trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam”.

Tại các Điều 119 (tạm giam), Điều 121 (bảo lĩnh), Điều 122 (đặt tiền để bảo đảm), Điều 123 (cấm đi khỏi nơi cư trú) đều quy định là: “Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này”. Đây là một quy định mới của BLTTHS năm 2015 nhằm đảm bảo khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với bị can, bị cáo thì họ phải tuân thủ các quy định của pháp luật, nếu có hành vi  vi phạm nêu trên thì sẽ bị áp dụng biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, nhà lập pháp sử dụng biện pháp liệt kê như trên và chỉ quy định 04 chủ thể: người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này theo chúng tôi là chư hợp lý. Bởi vì, nếu như họ đe dọa, khống chế, trả thù người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, dịch thuật, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người thân thích của những người này cũng cần áp dụng biện pháp tạm giam do những người tham gia tố tụng này cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc làm sáng tỏ vụ án trong hoạt động TTHS. Nên quy định thêm các chủ thể trên để đảm bảo việc khách quan trong tố tụng cũng như tính răn đe đối với các bị can, bị cáo mà có hành vi vi phạm nêu trên.

Điều 128 (Kê biên tài sản) quy định: “Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo”. Việc kê biên tài sản có thể ảnh hưởng trực tiếp tới quyền sở hữu về tài sản của bị can, bị cáo dù sao khi này họ mới bị coi là người bị tình nghi phạm tội nên việc kê biên cần thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục nghiêm ngặt do BLTTHS, Luật thi hành án dân sự để đảm bảo quyền lợi của họ, việc quy định như trên là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi cần quy định rõ “người 18 tuổi trở lên trong gia đình có đủ năng lực hành vi dân sự”. Như vậy sẽ đảm bảo quyền lợi của người có tài sản bị kê biên khi có sự vi phạm. Tương tự như vậy là Điều 195 (Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, phương tiện) cũng cần quy định rõ người 18 tuổi trở lên trong gia đình nhưng phải có đủ năng lực hành vi dân sự”.

3. Về khởi tố vụ án hình sự

Điều 149 (phục hồi giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố) quy định: “Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.”. Đây là một điều luật mới, có tạm đình chỉ thì phải có phục hồi nó chính là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp tục giải quyết các vấn đề tiếp theo khi mà lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn nữa. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 đã trao thêm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát (Điều 145), Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 148) nhưng Viện kiểm sát lại không có thẩm quyền phục hồi giải quyết mà quyền này chỉ trao cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là chưa hợp lý. Theo chúng tôi nên bổ sung thêm Viện kiểm sát và điều luật trên.

Điều 151 (giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện) quy định: “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.” Nghĩa là cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm sẽ có 2 lựa chọn: 1) khởi tố vụ án; 2) chuyển cho cơ quan điều tra. Điều này mẫu thuẫn với khoản 4 Điều 153 (thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự) quy định: “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm”. Trong trường hợp nêu trên thì HĐXX có quyền khởi tố vụ án hoặc yêu cần VKS khởi tố vụ án chứ không cần chuyển cho Cơ quan điều tra. Theo chúng tôi, nên quy định tại Điều 151 “… chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết”.

Điều 156 (thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự) quy định “Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố.” Theo quy định của BLTTHS thì HĐXX có quyền khởi tố vụ án hình sự (Điều 153) nhưng không thấy quy định nào cho phép HĐXX có quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Theo chúng tôi, nên quy định thêm HĐXX vào điều luật sẽ hợp lý hơn.

4. Về cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã được BLTTHS năm 2015 quy định hết sức cụ thể và có thể coi đây là một quy định mới hoàn toàn tiến bộ so với BLTTHS năm 2003, trong việc góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm đối với những tội phạm xảy ra trong lĩnh vực mà các cơ quan, người có thẩm quyền này thực hiện nhiệm vụ, chức năng của mình. Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của họ không chỉ được quy định chặt chẽ trong Luật tổ chức các Cơ quan điều tra năm 2015 mà còn được quy định trong BLTTHS năm 2015 tại các Điều 35, 39, 40 BLTTHS. Tuy nhiên, việc trao quyền cho những cơ quan và người được giao nhiệm vụ trong hoạt động điều tra trong BLTTHS còn những hạn chế chưa được quy định chặt chẽ trong luật như:

Điều 178 (Biên bản Điều tra) quy định “Trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên lập biên bản thì biên bản được thực hiện theo quy định tại Điều này. Biên bản phải được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.” Điều luật chưa quy định trường hợp cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, khởi tố và điều tra vụ án thì kiểm sát viên khi lập biên bản có phải chuyển cho cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra để đưa vào hồ sơ vụ án hay không ?.

Điều 179 (Khởi tố bị can) quy định “Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát cùng cấp để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.” Điều luật chưa quy định Trường hợp Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố bị can (điểm b khoản 2 Điều 39) thì trong thời hạn nào phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát.

Điều 182 (Triệu tập bị can) quy định “Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập bị can ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt, thời gian làm việc, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.” Điều luật không quy định trường hợp cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra triệu tập bị can (điểm d khoản 2 Điều 39) có phải gửi giấy triệu tập không ?.

Điều 183 (Hỏi cung bị can) quy định “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can”. Điều luật không quy định Việc hỏi cung bị can của cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra (điểm c khoản 4 Điều 39) khi hỏi cung bị can có phải thông báo cho kiểm sát viên và người bào chữa không ?

Điều 184 (Biên bản hỏi cung bị can) quy định “Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án”. Điều luật không quy định biên bản hỏi cung của ksv có phải chuyển cho cán bộ điều tra của để đưa vào hồ sơ vụ án không ? trong trường hợp cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố và điều tra vụ án.

Điều 185 (Triệu tập người làm chứng) quy định: “Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập”. Điều luật không quy định Triệu tập người làm chứng của cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra có phải gửi giấy triệu tập không ?.

Điều 201 (khám nghiệm hiện trường) quy định “Điều tra viên chủ trì khám nghiệm hiện trường… Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường”. Điều luật không quy định, trường hợp khi cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường (điểm d khoản 3 Điều 39) thì ai sẽ chủ trì ? và có cần phải thông báo việc tiến hành khám nghiệm hiện trường cho Viện kiểm sát hay không?.

Điều 260 (Bản án) quy định “bản án phải phân tích tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra truy tố, xét xử”. Điều luật không quy định phải phân tích hành vi, quyết định tố tụng của Cán bộ điều tra của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khi cán bộ điều tra là người tiến hành điều tra vụ án.

Điều 449 (áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra) quy định: “Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định”. Điều luật chỉ quy định Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, quyết định. Trong khi Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền trưng cầu giám định pháp y tâm thần (điểm d khoản 2 Điều 39), nếu kết luận giám định xác định người có hành vi phạm tội bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì có đề nghị Viện kiểm sát áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh như cơ quan điều tra?.

Từ những điều luật và nhận định nêu trên. Theo quan điểm của chúng tôi cần bổ sung cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc cán bộ của cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra vào những điều luật đã phân tích như trên để áp dụng BLTTHS một cách thống nhất, đạt hiệu quả cao nâng cao vai trò của các cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, góp phần đấu tranh và phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả.

5. Về thủ tục xét xử

Điều 297 (Hoãn phiên tòa) quy định: “Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa”. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp chủ tọa phiên tòa là Chánh án của Tòa án, nếu trong trường hợp này thì ai sẽ ra quyết quyết định hoãn phiên tòa. Theo chúng tôi cần quy định rõ khi chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm phán khác là thành viên của HĐXX sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa, trường hợp HĐXX chỉ có một thẩm phán thì có thể thẩm phán dự khuyết có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thay mặt HĐXX ra quyết định hoãn phiên tòa, trường hợp không có thẩm phán dự khuyết thì báo cáo Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.

Điều 361 (Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm với quyết định sơ thẩm) quy định thẩm quyền của HĐXX: “Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật; Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án. Đối với các quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể là đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị (khoản 2 Điều 330) thì người kháng cáo, kháng nghị có quyền rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên họp hoặc tại phiên họp. Trường hợp người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị rút kháng cáo, kháng nghị thì HĐXX sẽ ra quyết định gì trong trường hợp này. Theo chúng tôi nên quy định thêm thẩm quyền của HĐXX khi có kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định bị rút thì HĐXX ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với kháng cáo, kháng nghị đó.

Điều 261 (Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm) quy định: “…Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định”. Viện kiểm sát với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, có thể nói Viện kiểm sát có mặt tham gia xuyên suốt trong mọi hoạt động tố tụng hình sự. Việc kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị chính là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định khi Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp thì HĐXX có hoãn phiên họp hay không, BLTTHS chỉ quy định trường hợp hoãn phiên tòa khi vắng mặt Kiểm sát viên (Điều 350). Theo chúng tôi, cần quy định rõ trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt tại phiên họp phúc thẩm thì HĐXX ra quyết định hoãn phiên họp và quy định rõ thời hạn hoãn phiên họp là bao lâu để đảm bảo hoạt động tố tụng được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.

6. Thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

Điều 418 (giám sát đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi) quy định: “Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người dưới 18 tuổi, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời” Như đã phân tích ở trên, những đối tượng cần được bảo vệ không chỉ là người làm chứng, người bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này mà bao gồm cả người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, dịch thuật, người làm chứng, người tiến hành tố tụng và người thân thích của những người này. Họ rất có thể là đối tượng trả thù hay đe dọa của người có hành vi phạm tội. Vì vậy, theo chúng tôi cũng cần quy định khi có sự đe dọa, khống chế hay trả thù những người nêu trên thì cũng cần có biện pháp để ngăn chặn và xử lý kịp thời.

Điều 419 (Áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế) quy định: Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng 2/3 thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên…”. Điều luật quy định thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội theo chúng tôi là chưa chính xác. Bởi vì, người bị buộc tội bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Trong khi đó, Tạm giam chỉ áp dụng cho bị can, bị cáo. Nên quy định là “ thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi…” sẽ hợp lý hơn.

Điều 421 (Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can, đối chất) quy định “…Việc lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của họ”. Nhưng khoản 1 Điều 114 quy định “trong thời hạn 12h kể từ khi giữ người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thì phải lấy lời khai ngay và ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do”. Như vậy, việc giữ người trong trường hợp khần cấp đối với người dưới 18 tuổi mà không có người đại diện hoặc người bào chữa thì không được lấy khai nhưng phải ra 1 trong 2 quyết định là tạm giữ hoặc trả tự do theo chúng tôi là chưa hợp lý.

6. Về thủ tục rút gọn

Điều 457 (Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn) quy định: “trong thời hạn 24h kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại điều 456 của bộ luật này Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn”. Điều luật quy định có 3 cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đó là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Nhưng tại Luật tổ chức Cơ quan điều tra cũng như BLTTHS đều không quy định chủ thể có quyền trong Cơ quan điều tra là ai có quyền áp dụng thủ tục rút gọn. Trong khi đó, thẩm quyền này của Viện kiểm sát thuộc về Viện trưởng, phó Viện trưởng viện kiểm sát (điểm l khoản 2 Điều 41), của Tòa án thuộc về Chánh án, phó Chánh án Tòa án (điểm c khoản 2 Điều 44). Theo chúng tôi nên quy định rõ trong luật khi Cơ quan điều tra áp dụng thủ tục rút gọn thì thẩm quyền này thuộc về ai.

7. Về người được bảo vệ

Điều 484 (người được bảo vệ) quy định 04 chủ thể được BLTTHS quy định gồm: Người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Trong những người tham gia tố tụng có rất nhiều người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án như: người tố cáo, người chứng kiến, người định giá tài sản, người giám định. Trong khi BLTTHS quy định họ có quyền được yêu cầu bảo vệ khi họ bị đe dọa, trả thủ… chả hạn như người tố cáo có quyền này quy định tại khoản 1 Điều 479, người người làm chứng có quyền yêu cầu bảo về quy định tại khoản 3 Điều 67 nhưng họ không được xếp vào người được bảo vệ theo chúng tôi là chưa hợp lý. Nên quy định thêm các đối tượng trên vào nhóm người được bảo vệ.

                                                                                                                  

 

 

 

 

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi