MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TÌNH HÌNH TỘI PHẠM ẨN CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN Ở TÂY NGUYÊN

ThS. Lê Văn Định - Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai

 

Tình hình tội trộm cắp tài sản ở Tây Nguyên hay ở đâu đó cũng đều phải có hai mặt, mặt bản chất và mặt biểu hiện ra bên ngoài của bản chất đó bằng tổng thể các hành vi trộm cắp tài sản cùng với các chủ thể đã thực hiện các hành vi đó trong một đơn vị thời gian và không gian nhất định. Cái tổng thể này phải được làm rõ ở đây và cũng theo lí luận tội phạm học, trong hiện thực, nó phải có hai phần: Phần hiện của tình hình tội cắp tài sản và phần ẩn của tình hình tội cắp tài sản. Xuất phát từ việc nghiên cứu lí luận tội phạm học và từ nguồn số liệu thống kê tội phạm hàng năm của các cơ quan tư pháp hình sự bao hàm hai nội dung khoa học: Một là, về mặt lí luận có nhiều quan điểm khác nhau về tội phạm ẩn (hay phần ẩn của tình hình tội phạm); hai là, về mặt thực tiễn, số liệu thống kê đó chỉ mới phản ánh một phần tình hình tội trộm cắp tài sản ở Tây Nguyên thời gian qua, còn một phần tội phạm đáng kể khác, thực tế đã xảy ra nhưng vì nhiều lí do khác nhau mà các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lí và thống kê tội phạm chưa phát hiện và xử lí nên không đưa vào thống kê tội phạm, đó là phần tội phạm ẩn. Trong bài viết này chúng tôi làm rõ thêm về mặt lí luận và thực tiễn về tình hình tội phạm ẩn của tội phạm trộm cắp tài sản ở Tây Nguyên trên cơ sở nghiên cứu lí luận về tội phạm ẩn trong các tài liệu tội phạm học hiện có, 510 bản án hình sự sơ thẩm với 1.005 bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2015 (nguồn số liệu không thường xuyên) và nguồn số liệu điều tra xã hội học.

1. Về mặt lí luận: Cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về tên gọi của khái niệm tội phạm ẩn, định nghĩa của khái niệm, cách phân loại tội phạm ẩn. Cụ thể:

1.1. Về tên gọi của khái niệm tội phạm ẩn: Về mặt thuật ngữ thì thuật ngữ là từ hoặc cụm từ được đặt làm tên gọi chính xác cho các khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học nhất định[1], về con đường hình thành thuật ngữ, theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học có ba con đường hình thành thuật ngữ[2]. Tuy nhiên đối với tội phạm học, thuật ngữ được hình thành bằng hai con đường: Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường, sao phỏng và dịch nghĩa từ nước ngoài. Khi thuật ngữ được dùng làm khái niệm thì thuật ngữ đó phải phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng. Đồng thời, thể hiện được vị trí, mối quan hệ với các thuật ngữ khác[3]. Vì vậy, theo chúng tôi khi nghiên cứu về tình hình tội phạm, nên gọi phần hiện và phần ẩn, mặc dù còn có cách gọi khác[4], cách gọi này phản ánh đúng bản chất của khái niệm, vừa mang tính bao quát được vấn đề cần nhận thức, tức là toàn bộ tội phạm ẩn nhưng lại phân chia rạch ròi thành từng phần của vấn đề nghiên cứu, tức là phần hiện và phần ẩn đặt trong tình hình tội phạm. Đồng thời, thể hiện được vị trí, mối quan hệ với phần hiện, với tình hình tội phạm.

1.2. Về định nghĩa của khái niệm tội phạm ẩn: Có nhiều định nghĩa khác nhau[5], nhưng định nghĩa phản ánh được bản chất của khái niệm đặt trong mối quan hệ với phần hiện, với tình hình tội phạm, đó là định nghĩa của PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh: “Là một trong hai phần của tình hình tội phạm, tội phạm ẩn (hay phần ẩn của tình hình tội phạm) được tạo nên bởi tổng thể các hành vi phạm tội đã xảy ra trong thực tế, song không được phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê tội phạm”[6].

1.3. Về loại tội phạm ẩn: Trên cở sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tác giả chia tội phạm ẩn thành ba loại: Tội phạm ẩn khách quan (hay còn gọi là tội phạm ẩn tự nhiên); tội phạm ẩn chủ quan (hay còn gọi là tội phạm ẩn nhân tạo) và tội phạm ẩn thống kê[7]. Cả ba loại này đều có trong tình hình tội trộm cắp tài sản ở Tây Nguyên, cụ thể:

Thứ nhất, tội phạm ẩn khách quan: Tội phạm ẩn khách quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lí tội phạm không có thông tin về chúng[8].

Thứ hai, tội phạm ẩn chủ quan: Tội phạm ẩn chủ quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế mà thông tin về chúng đã được cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lí tội phạm nắm được, song vì nhiều lý do khác nhau, các tội phạm đó trong một thời gian nhất định hoặc vĩnh viễn không bị xử lí hoặc không thể xử lí hoặc xử lí không đúng quy định của pháp luật[9]

          Thứ ba, tội phạm ẩn thống kê: Cho đến nay, còn có nhiều quan điểm khác nhau về tội phạm ẩn thống kê[10]. Theo kết quả nghiên cứu, chúng tôi cho rằng tội phạm ẩn thống kê có thể có ở quốc gia này nhưng không có ở quốc gia khác, có thể có trong giai đoạn này nhưng không có trong giai đoạn khác. Có hay không có tội phạm ẩn thống kê phụ thuộc vào pháp luật về thống kê tội phạm của mỗi quốc gia. Hiện nay, ở nước ta quy định về thống kê tội phạm có tồn tại tội phạm ẩn thống kê. Tội phạm ẩn thống kê là  toàn bộ các tội danh mà bị cáo bị tòa án xét xử trong một bản án hình sự nhưng do quy định của pháp luật về thống kê tội phạm đã không thống kê đủ số tội danh đó nên bị loại ra ngoài con số thống kê.

          2. Về mặt thực tiễn: Tội phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản trên địa bàn Tây Nguyên biểu hiện thông qua bốn thông số:

2.1. Độ ẩn: “Độ ẩn được hiểu là khả năng ẩn khuất khác nhau của từng loại tội phạm hoặc của từng nhóm tội[11]. Tùy từng loại tội phạm hoặc từng nhóm tội, khả năng che dấu của người phạm tội, đối tượng bị tác động, nạn nhân, khả năng phát hiện, xử lí tội phạm của các cơ quan có thẩm quyền. Các nhà tội phạm học nước ta chia độ ẩn của các loại tội phạm thành 04 cấp độ (từ độ ẩn cấp 1 đến độ ẩn cấp 4), tội trộm cắp tài sản được xếp ở độ ẩn cấp II, tức là có độ ẩn thấp.

2.2. Thời gian ẩn: Thời gian ẩn là khoản thời gian từ khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cho đến khi hành vi phạm tội của người đó bị phát hiện. Thời gian ẩn có thể là một khoảng thời gian nhất định nhưng cũng có thể là mãi mãi, phụ thuộc vào khả năng che giấu của người phạm tội, người phạm tội có khả năng che giấu càng tinh vi thì thời gian ẩn càng lâu, nạn nhân tố giác hoặc không tố giác với cơ quan có thẩm quyền hoặc các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm đã không tiến hành xử lí theo quy định hoặc xử lí không đúng quy định hoặc cơ quan điều tra đã không tìm ra người phạm tội... Kết quả nghiên cứu từ nguồn số liệu không thường xuyên cho thấy: Thời gian ẩn dưới một tháng có 112 bị cáo, chiếm 32,7%, thời gian ẩn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng có 105 bị cáo, chiếm 30,70%, thời gian ẩn từ 3 tháng đến dưới 6 tháng có 87 bị cáo, chiếm 25,40%, thời gian ẩn từ 6 tháng đến dưới 9 tháng có 13 bị cáo, chiếm 3,80%, thời gian ẩn từ 9 tháng đến dưới 1 năm có 13 bị cáo, chiếm 3,80%, thời gian ẩn từ 1 năm đến dưới 3 năm có 11 bị cáo, chiếm 3,22%, trên 3 năm có 1 bị cáo, chiếm 0,29%.

2.3. Tỉ lệ ẩn: Tỉ lệ ẩn được hiểu là tỉ lệ tương quan giữa tội phạm bị phát hiện và tội phạm chưa bị phát hiện. Để có cơ sở tính toán một cách tương đối chính xác tỉ lệ tội phạm ẩn phải dựa vào nhiều nguồn số liệu khác nhau (nạn nhân, cơ quan tư pháp hình sự...), do những hạn chế trong khâu thu thập số liệu, chúng tôi sử dụng nguồn số liệu của các bản án hình sự và nguồn số liệu điều tra xã hội học do chúng tôi thực hiện. Kết quả nghiên cứu từ nguồn số liệu không thường xuyên cho thấy: Có 1.505 bị cáo phạm tội không bị phát hiện (tính theo số lần phạm tội đến khi xét xử trong bản án hình sự sơ thẩm) và 02 bị can bỏ trốn chưa tìm được, 15 bị can đang bị truy nã , 31 bị can chưa xác định được lai lịch. Tổng cộng có 1553/1.005 bị cáo, chiếm 154,53% (tức là gấp hơn 1,5 lần), đây là con số rất lớn. Còn kết quả điều tra xã hội học đối với 185 hộ dân tại tổ 3, phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai kết quả như sau: Số phiếu phát ra 185, số phiếu thu về 181, số phiếu không hợp lệ 5 (trả lời sai), số phiếu hợp lệ 176, trong đó, có 124 phiếu không bị mất trộm tài sản, có 52 phiếu bị mất trộm tài sản. Trong 52 phiếu, có 26 phiếu, chiếm 50% các vụ án đã xảy ra nhưng nạn nhân không báo với cơ quan chức năng có thẩm quyền.

2.4. Lí do ẩn của tội phạm ẩn khách quan, chủ quan và thống kê

Thứ nhất, lí do ẩn đối với tội phạm ẩn khách quan: Từ việc nghiên cứu các bản án hình sự sơ thẩm và kết quả điều tra xã hội học với 185 hộ dân tại tổ 3, phường Đoàn Kết, thị xã Ayun Pa, chúng tôi cho rằng lí do ẩn:

Một là, lí do ẩn xuất phát từ phía người phạm tội: (1) Người phạm tội luôn muốn che giấu hành vi của mình, không muốn nạn nhân biết; tận dụng mọi khả năng, điều kiện có thể để che giấu hành vi phạm tội và tạo ra những cản trở để tránh bị phát giác, phát hiện; (2) Xuất phát từ nhân thân người phạm tội, tuy họ được xếp vào loại lần đầu phạm tội nhưng họ có khả năng giấu hành vi phạm tội của mình rất tinh vi, họ phạm tội liên tục trong một thời gian dài mà không bị phát hiện. Kết quả nghiên cứu từ nguồn số liệu không thường xuyên cho thấy: Thời gian bị phát hiện dưới một tháng có 112 bị cáo, chiếm 32,7%, thời gian bị phát hiện từ 1 tháng đến dưới 3 tháng có 105 bị cáo, chiếm 30,70%, thời gian bị phát hiện từ 3 tháng đến dưới 6 tháng có 87 bị cáo, chiếm 25,40%, thời gian bị phát hiện từ 6 tháng đến dưới 9 tháng có 13 bị cáo, chiếm 3,80%, thời gian bị phát hiện từ 9 tháng đến dưới 1 năm có 13 bị cáo, chiếm 3,80%, thời gian bị phát hiện từ 1 năm đến dưới 3 năm có 11 bị cáo, chiếm 3,22%, trên 3 năm có 1 bị cáo, chiếm 0,29%.

Hai là, lí do xuất phát từ phía người bị hại: (1) Người bị hại không che giấu tội phạm nhưng không muốn tố giác với lí do tài sản bị mất có giá trị không lớn, ngại tiếp xúc với cơ quan Công an lo phiền hà về thủ tục, không tin vào khả năng tìm ra thủ phạm hoặc các lí do khác; (2) Người bị hại không tố giác tội phạm và còn mong muốn giữ kín sự kiện phạm tội, thường thì người bị hại có quan hệ thân thích với nạn nhân hoặc sợ khi tố giác bị quy trách nhiệm như thủ quỹ giữ tiền của cơ quan mà làm mất tiền, khi bị mất tài sản chấp nhận im lặng bồi thường; (3) Người bị hại không dám tố giác, thường rơi vào phạm tội có tổ chức, sợ bị trả thù.... Kết quả điều tra xã hội học ở tiểu mục 2.3 cho thấy: Có 26 phiếu, chiếm 50% các vụ án đã xảy ra nhưng nạn nhân không báo cáo cơ quan chức năng có thẩm quyền. Trong số này có tới 90,38% là những vụ trộm cắp tài sản công dân với một số lý do như: Tài sản bị mất không lớn (38,30%); ngại tiếp xúc với cơ quan công an, sợ phiền hà về thủ tục (8,51%); không tin vào khả năng tìm ra thủ phạm (8,51%).

Thứ hai, đối với tội phạm ẩn chủ quan: Từ kết quả nghiên cứu về lí luận và thực tiễn, chúng tôi rút ra các lí do ẩn như sau:

Một là, các chủ thể có chức năng tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về  tội phạm đã tiếp nhận tố giác, tinh báo về tội phạm nhưng không tiến hành các trình tự, thủ tục xử lí theo quy định.

Hai là, do trình độ, năng lực của cán bộ, công chức của các cơ quan tư pháp hình sự còn hạn chế, yếu kém đã không điều tra ra người đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc điều tra ra người đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng không xử lí, xử lí không đúng quy định, thiếu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, có tiêu cực trong xử lí tội phạm.

Ba là, trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tội phạm ẩn chỉ xuất hiện trong các trường hợp sau: (1) Cơ quan điều tra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự vì cho rằng không có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự nhưng theo quy định của pháp luật thì có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự; (2) Cơ quan điều tra đã áp dụng mọi biện pháp để tìm bị can nhưng vẫn không biết bị can đang ở đâu nên đã tạm đình chỉ điều tra theo đúng quy định; (3) Tạm đình chỉ và đình chỉ điều tra không đúng quy định. Kết quả nghiên cứu các bản án hình sự cho thấy: Bị can bỏ trốn chưa tìm được có 02 người, đang bị truy nã có 15 người và chưa xác định được lai lịch của bị can có 31 người.

Bốn là, trong giai đoạn truy tố căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, chứng cứ, Viện kiểm sát có thể ra một trong các quyết định: Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Tội phạm ẩn chỉ xảy ra trong trường hợp tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án không đúng quy định hoặc tạm đình chỉ vụ án đúng quy định nhưng vẫn được xác định tội phạm ẩn vì bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu, không biết đến khi nào sẽ tìm được bị can.

Năm là, trong giai đoạn xét xử, Tòa án căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, chứng cứ để ra một trong những quyết định: Đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Tội phạm ẩn chỉ xảy ra trong trường hợp tạm đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án hoặc tuyên bị cáo không có tội không đúng quy định của pháp luật; tạm đình chỉ vụ án đúng quy định nhưng vẫn được xác định tội phạm ẩn vì không biết bị can, bị cáo đang ở đâu, không biết đến khi nào tìm thấy được bị can, bị cáo. Hội đồng xét xử tại phiên tòa phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra nhưng đã không ra quyết định khởi tố hoặc không yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Kết quả thống kê của Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn 2006 - 2015, khu vực Tây Nguyên không có bị cáo nào được tòa án tuyên không tội, trong khi đó, cả nước có 19 người bị toà án tuyên không có tội.  

Thứ ba, đối với tội phạm ẩn thống kê: Theo hướng dẫn thống kê tội phạm mẫu 01A của Tòa án nhân dân tối cao, tội phạm ẩn chỉ xảy ra trong các trường hợp: Một là, trong vụ án chỉ có một bị cáo, nhưng bị cáo đó bị xử phạt về nhiều tội khác nhau thì thống kê theo tội danh nặng nhất và có mức hình phạt cao nhất (so sánh giữa các tội mà bị cáo bị xét xử). Trong trường hợp có hai hay nhiều tội danh có mức cao nhất của khung hình phạt bằng nhau thì thống kê theo tội danh được quy định tại Điều luật có số thứ tự nhỏ nhất. Ví dụ: Bản án hình sự sơ thẩm số 137/2009/HSST ngày 27/11/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử bị cáo Ksor Kuk phạm các tội: “Giết người” với khung hình phạt 19 năm tù, “Cướp tài sản” với khung hình phạt 4 năm tù, “Trộm cắp tài sản” với khung hình phạt 2 năm tù, tổng cộng, bị cáo Ksor Kuk phạm ba tội danh nhưng theo hướng dẫn chỉ thống kê một tội danh giết người (tội danh nặng nhất và có mức hình phạt cao nhất), hai tội danh còn lại không được thống kê; Hai là, trong một vụ án có nhiều bị cáo phạm các tội khác nhau thì thống kê theo tội danh của bị cáo đầu vụ. Ví dụ: Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2015/HSST ngày 14/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử bị cáo Huỳnh Bảo Long phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Võ Ngọc Lâm phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tổng cộng hai bị cáo phạm hai tội danh khác nhau nhưng theo hướng dẫn chỉ thống kê tội danh trộm cắp tài sản của bị cáo Long (bị cáo đầu vụ), còn tội danh của bị cáo Lâm không được thống kê. Như vậy, tội phạm ẩn chỉ xảy ra do quy định của pháp luật về thống kê tội phạm đã không thống kê đầy đủ số tội danh mà bị cáo đã bị xét xử trong các trường hợp nêu trên.

Tóm lại, nghiên cứu và xác định tình hình tội phạm ẩn của tội trộm cắp tài sản đặc biệt là tên gọi của khái niệm tội phạm ẩn, định nghĩa của khái niệm, cách phân loại tội phạm ẩn, các thông số ẩn là đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa về lí luận và thực tiễn. Giúp chúng ta nhận thức đúng về mặt lí luận, đánh giá đúng thực chất tình hình tội phạm ẩn đã xảy ra, xác định nguyên nhân ẩn, để từ đó có thể đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm hiệu quả.

 

[1] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên, 2012), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb.Giáo dục, tr.118.

[2] PGS.TS. Hà Quang Năng, Đặc điểm của thuật ngữ Tiếng Việt. Truy cập ngày 28/9/2016, Truy cập tại http://www.tgn.edu.vn/bai-viet/c45/i359/dac-diem-cua-thuat-ngu-tieng-viet-phan-1-.html.

[3] GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa (2013), Chuẩn hóa các thuật ngữ và các định nghĩa khái niệm trong phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 9/2013, tr.135-140.

[4]TS. Dương Tuyết Miên (2010), Bàn về tội phạm rõ, tôi phạm ẩn, Tạp chí Luật học số 3/2010, tr.27-31; Trường đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình Tội phạm học, Nxb.Công an nhân dân, tr. 101-105; Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình Tội phạm học, Nxb.Hồng Đức, tr.135-140.

[5]TS.Dương Tuyết Miên (2010), Bàn về tội phạm rõ, tôi phạm ẩn, Tạp chí Luật học số 3/2010, tr.27-31;Trường đại học luật Hà Nội (2015), Giáo trình Tội phạm học, Nxb.Công an nhân dân, tr. 103.

[6] PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh (2015), Bài giảng Tội phạm học, tr.113.

[7] Thuật ngữ tội phạm ẩn thống kê được PGS.TS.Phạm Văn Tỉnh công bố lần đầu tiên trên Tạp chí Kiểm sát số 2 và 3 năm 1993.

[8] PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh (2015), Bài giảng Tội phạm học, tr.116.

[9] PGS.TS. Phạm Văn Tỉnh (2015), Bài giảng Tội phạm học, tr.177-178.

[10] TS.Dương Tuyết Miên (2010), Bàn về tội phạm rõ, tôi phạm ẩn, Tạp chí Luật học số 3/2010, tr.27-31; Trần Hữu Tráng (2000), Một số vấn đề về tình hình tội phạm ẩn ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số 3/2000, tr.51-55; Nguyễn Tuyết Mai, Tội phạm ẩn về ma túy – Thông số cần được xác định, Tạp chí Luật học số 7/2006, tr. 20-24.

[11] Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), Tội phạm học, Luật hình sự và Tố tụng hình sự, Nxb.Chính trị quốc gia, tr.36.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi