Hoàn thiện cơ chế thực hiện chính sách và pháp luật trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em - Dưới góc độ tiếp cận quyền con người

TS. Trần Văn Duy

Nghiên cứu viên, Phó trưởng Phòng Từ điển Bách khoa

- Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam

- Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam



Tóm tắt

Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Do đó, việc bảo vệ nhân phẩm, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, đặc biệt là trẻ em đối tượng được bảo vệ là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và nhân dân. Do đó, bài viết sẽ nghiên cứu: (i) Thực trạng vụ việc vi phạm pháp luật hiếp dâm trẻ em; (ii) Cơ chế chính sách và pháp luật đấu tranh phòng, chống vụ việc vi phạm pháp luật hiếp dâm trẻ em (iii) Một số giải pháp pháp lý và xã hội nhằm đấu tranh phòng, chống vụ việc vi phạm pháp luật hiếp dâm trẻ em.

Từ khóa: chính sách và pháp luật, trẻ em, phu nữ, xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em, tiếp cận quyền.

  1.      Quan niệm về tiếp cận quyền

      Tiếp cận dựa trên quyền (tiếp cận trên cơ sở quyền con người - viết tắt tiếng Anh: HRBA) là phương pháp tiếp cận bảo đảm các quyền con người cụ thể theo hướng cân bằng ở hai yếu tố: Nội dung quyền và cách thức thực thi quyền.[1]

Cụ thể hơn, Ủy ban nhân quyền Scotland xác định tiếp cận dựa trên quyền là việc trao quyền cho mọi người để họ biết và đòi hỏi về các quyền mà họ được hưởng, đồng thời nâng cao năng lực và trách nhiệm của những cá nhân, thiết chế có trách nhiệm trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi các quyền con người.[2] Các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho phu nữ, trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến phu nữ, trẻ em, và những quan điểm của phu nữ, trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của phu nữ, trẻ em.[3]

Như vậy, quyền phu nữ, trẻ em không chỉ đơn giản được hiểu là những tiêu chuẩn phổ quát được ghi nhận tại các văn kiện quốc tế, mà còn là yếu tố trung tâm trong quá trình xây dựng các chính sách và hoạt động của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác. Việc dựa vào những chuẩn mực và nguyên tắc về quyền con người nói chung và quyền phu nữ, trẻ em nói riêng làm mục tiêu hướng đến trong hoạt động được Liên hợp quốc[4].

Như vậy, như vậy cách hiểu này, tiếp cận dựa trên quyền con người là phương pháp tiếp cận lấy các tiêu chuẩn về quyền con người làm cơ sở để xác định kết quả mong đợi và lấy các nguyên tắc về quyền con người làm điều kiện, khuôn khổ cho quá trình đạt được kết quả đó. Sử dụng các tiêu chuẩn và nguyên tắc về quyền con người làm cơ sở và mục tiêu cho hoạt động là đích mà cách tiếp cận dựa trên quyền con người hướng tới. Khác với cách tiếp cận khác, tiếp cận dựa trên quyền con người không chỉ quan tâm tới việc đạt được mục tiêu mà còn quan tâm thích đáng tới quy trình, cách thức được lựa chọn để đạt được những mục tiêu đó với mục đích hỗ trợ người dân tham gia tích cực vào phát triển, chứ không phải chỉ là người hưởng lợi thụ động từ các chính sách của nhà nước.

  1.      Thực hiện chính sách và pháp luật đấu tranh phòng, chống vụ việc vi phạm pháp luật tội phạm xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em hiện nay

Thứ nhất, tình trạng xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều và ở mức độ đáng báo động trong phạm vi cả nước.

Tình trạng xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều và ở mức độ đáng báo động trong phạm vi cả nước. Chỉ tính từ ngày 01/01/2008 đến ngày 31/12/2013, Tòa án các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 9.683 vụ với 11.444 bị cáo. Trong đó, đưa ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm 8.772 vụ với 10.265 bị cáo.

Theo Tòa án nhân dân tối cao, trong số các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em mà Tòa án các cấp đưa ra xét xử, có 1.812 vụ với 2.641 bị cáo bị xét xử về tội “Hiếp dâm”, 3.276 vụ với 3.759 bị cáo bị xét xử về tội “Hiếp dâm trẻ em”, 31 vụ với 61 bị cáo bị xét xử về tội “Cưỡng dâm”;  25 vụ với 30 bị cáo bị xét xử về tội “Cưỡng dâm trẻ em”; 2.749 vụ với 2.878 bị cáo bị xét xử về tội “Giao cấu với trẻ em” và 879 vụ với 896 bị cáo bị xét xử về tội “Dâm ô với trẻ em”. Số liệu này cho thấy nạn nhân của các vụ án xâm phạm tình dục là trẻ em chiếm tỷ lệ lớn (6.929 vụ với 7.563 bị cáo, chiếm tỷ lệ 78,99% số vụ và chiếm 73,68% số bị cáo bị xét xử)[5]. Qua theo dõi số liệu các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em Tòa án các cấp đã thụ lý, giải quyết, thấy rằng tình trạng xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây, cụ thể: Năm 2008: 1.494 vụ với 1.789 bị cáo; năm 2012: 1.736 vụ với 2.039 bị cáo và năm 2013: 2.050 vụ với 2.330 bị cáo[6].

Các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em xảy ra ở khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó,giai đoạn 2008-2013, các địa phương xảy ra nhiều vụ án hình sự xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em gồm có: Thành phố Hồ Chí Minh (815 vụ/935 bị cáo); Đồng Nai (615 vụ/681 bị cáo), Cà Mau (384 vụ/406 bị cáo), Bình Dương (370 vụ/414 bị cáo), Đắk Lắk (287 vụ/332 bị cáo), Hà Nội (300 vụ/395 bị cáo), Trà Vinh (194 vụ), Bình Thuận (166 vụ/224 bị cáo).[7]

Theo số liệu của Bộ LĐ-TBXH mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục (trong đó số trẻ em bị xâm hại tình dục chiếm hơn 60%):

Năm

Số trẻ em bị xâm hại tình dục

2011

1.045

2012

2012

2013

1.326

        2014

1.544

                  2015

             1.687

(Nguồn: Tác giả thu thập qua các Báo cáo tổng kết các năm của Bộ LĐXH)

Tính chất, mức độ nghiêm trọng của các vụ án xậm hại tình dục phụ nữ và trẻ em cũng có xu hướng ngày càng tăng lên. Nhiều vụ án xảy ra có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự suy đồi đạo lý nghiêm trọng, coi thường tính mạng, sức khỏe và nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em, gây bức xúc trong dư luận xã hội, như bố đẻ hiếp dâm con gái ruột, anh trai hiếp dâm em gái, người chồng hiếp dâm con riêng của vợ, ông ngoại hiếp dâm cháu, nhiều người hiếp dâm một người, người bị hại trong vụ hiếp dâm còn quá nhỏ tuổi, xâm hại tình dục làm người bị xâm hại mang thai và sinh con, hiếp dâm rồi giết người nhằm trốn tránh sự tố giác của người bị hại, trốn tránh sự phát hiện, trừng trị của pháp luật,…[8]

Thứ hai, còn tôn tại nhiều bất cập trong công tác phối hợp, vận dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái

Nhiều vụ tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái không được trình báo vì nhiều lý do. Số bị can luôn thấp hơn số vụ án được khởi tố là đặc điểm thực tiễn của loại tội phạm này. Số vụ án tạm đình chỉ điều tra do chưa xác định được đối tượng hoặc đối tượng bỏ trốn là rất cao. Bởi lẽ, trong thực tiễn áp dụng pháp luật thì việc phát hiện, phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái là hầu hết số vụ không bắt quả tang, không người làm chứng, nhiều vụ người bị hại còn quá nhỏ, nhận thức hạn chế… Bên cạnh đó, tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái được gia đình trình báo, nhưng cơ quan điều tra không thu thập đủ chứng cứ để khởi tố bị can, hoặc cơ quan điều tra đã khởi tố nhưng VKS phải ra quyết định hủy bỏ vì không đủ căn cứ. Thậm chí, khi phát hiện, gia đình không tố giác mà yêu cầu bồi thường hoặc thỏa thuận chờ đủ tuổi tổ chức kết hôn, cho sinh con hoặc phá thai, tạo điều kiện cho trẻ tiếp tục sống chung… Bên cạnh đó, các cơ quan hành pháp, tư pháp từ cấp cơ sở trong việc giải quyết các vụ xâm hại tình dục, bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái, các cán bộ thực thi pháp luật chưa có nhiều kiến thức, kỹ năng làm việc với những nhóm dễ tổn thương.

Theo nghiên cứu của Unicef thì họ cảm thấy xấu hổ và muốn giữ kín những điều liên quan đến lạm dụng tình dục phụ nữ, trẻ em tồn tại khá phổ biến trong nhiều nhóm cư dân cộng đồng ở Việt Nam và là một trong những nguyên nhân gốc rễ của các số liệu báo cáo thấp về xâm hại tình dục trẻ em[9]. Thậm chí, có trường hợp sau khi bị tố giác, đối tượng cùng nạn nhân bỏ trốn, đối tượng chối tội, phản cung, trong khi phần lớn các vụ án không có nhân chứng, phát hiện trễ.

Thứ ba, công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương, đặc biệt các luật liên quan vấn đề của phụ nữ và trẻ em như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Hình sự chưa được thực hiện thường xuyên.

Thực tế các vụ xâm hại tình dục phụ nữ, trẻ em thời gian qua cho thấy đều xuất phát từ nguyên nhân chủ quan là yếu tố con người. Chính việc chưa ý thức, hiểu rõ mối nguy hiểm, tác động tiêu cực của tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ,  trẻ em của một bộ phận phụ huynh, trẻ em, thậm chí cơ quan quản lý, chăm sóc trẻ em đã khiến tội phạm xâm hại tình dục gia tăng. Thực trạng chính quyền, đơn vị chức năng các cấp chưa có những giải pháp tuyên truyền kiến thức tình dục, hôn nhân gia đình, công tác tuyên truyền pháp luật tại địa phương một cách rộng rãi, cụ thể và thường xuyên đến người dân, nhất là trong môi trường học đường, đối tượng tuyên truyền nhắm đến là học sinh, thanh thiếu nhi, phụ huynh công nhân, người lao động, người dân ở ngoại thành.

Thứ tư, chưa giám sát chặt chẽ việc tuân thủ luật về phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái của các cơ quan truyền thông để đảm để đảm bảo các sản phẩm truyền thông không duy trì khuôn mẫu và định kiến giới. 

Báo chí chưa giữ vai trò tiên phong trong phòng ngừa, cảnh báo vi phạm luật từ các vụ việc xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái được phát hiện và xử lý nghiêm minh. Chưa thực hiện đa dạng hình thức truyền thông, mới chỉ thường xuyên tổ chức nhiều hội thi, hội thảo và tập trung tuyên truyền là chủ yếu. Một số địa phương chưa có nhiều mô hình truyền thông đi vào thực chất chứ không phải hình thức như qua các mô hình Câu lạc bộ, Nhóm thanh niên đồng tính,..... Qua đó, giúp các thành viên, hội viên phụ nữ, trẻ em có thêm kiến thức nuôi dạy con, từ đó hạn chế tình hình tệ nạn xã hội, giúp gia đình có trách nhiệm hơn với con em. Đặc biệt, mô hình cảm hóa giáo dục thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, để thường xuyên thăm hỏi, động viên, nắm bắt tâm tư nguyện vọng đối tượng để có biện pháp hỗ trợ kịp thời, nhất là tư vấn giới thiệu học nghề, việc làm là chưa nhiều. Đặc biệt, nhận thức của bộ phận người dân về tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái còn kém nên công tác tuyên truyền chưa đạt hiệu quả; một số cán bộ ở cơ sở còn hạn chế về kỹ năng ảnh hưởng đến chất lượng tuyên truyền...

Thứ năm, hệ thống pháp luật liên quan đến về phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái vẫn còn nhiều khoảng trống.

Mặc dù đã có quy định về quy trình, trách nhiệm, thẩm quyền về phòng, chống tội phạm xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái nhưng chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em, thiếu quy định cụ thể đầu mối tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác và phối hợp xác minh, đánh giá, điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em; chưa có quy định về thẩm quyền, thủ tục tách trẻ em ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc trong trường hợp chính cha mẹ, người chăm sóc có hành vi xâm hại tình dục đối với trẻ em; thiếu hệ thống theo dõi để đảm bảo những trẻ em này không tiếp tục bị bạo lực, bị xâm hại tình dục.[10] Chế tài xử lý tội phạm liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em, ph nữ còn nhiều sơ hở thiếu sót, dẫn tới việc làm hạn chế hiệu quả công tác đấu tranh xử lý đối với tội phạm này. Đã xuất hiện hành vi phạm tội kiểu mới, đối tượng phạm tội là người đồng tính. Bên cạnh đó việc các quy định của pháp luật chưa quy định đối với các hành vi này khiến cho các vụ xâm hại tình dục liên quan đến người đồng tính thiếu căn cứ xử lý, hình phạt áp dụng đối với các đối tượng phạm tội chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến số vụ phạm tội người đồng tính tiếp tục gia tăng. Nghiêm trọng hơn, ở góc độ xã hội thì tình trạng xâm hại tình dục lại là mầm mống phát triển của nhiều loại tội phạm khác như cướp tài sản, giết người, cố ý gây thương tích… do tính chất đặc biệt của nạn nhân và đối tượng gây án[11].

Bên cạnh đó, chế tài xử lý hành vi xâm hại tình dục phụ nữ, trẻ em quy định rất cụ thể trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015, trong đó có quy định cụ thể về các tội xâm hại tình dục Luật trẻ em mới được thông qua trong kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII cũng có quy định nghiêm cấm hành vi xâm hại tình dục trẻ em (Điều 6), quyền của trẻ em được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục (Điều 25) và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó đã bao gồm cả trẻ em bị xâm hại tình dục. Hệ thống các văn bản hướng dẫn chi tiết nội dung của các “đạo luật” trên chưa xây dựng kịp thời khi luật có hiệu lực.

  1.      Một số giải pháp pháp lý và xã hội nhằm đấu tranh phòng, chống vụ việc vi phạm pháp luật tội phạm xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em trong thời gian tới

Thứ nhất, thực hiện tốt công tác giám sát thực thi pháp luật, đặc biệt các luật liên quan vấn đề của phụ nữ và trẻ em như Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ luật Hình sự để các vụ việc bạo lực được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh. Phối hợp các cơ quan, đơn vị để xử lý kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Đặc biệt, trong việc giải quyết các vụ xâm hại tình dục, bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái, các cán bộ thực thi pháp luật cần có nhạy cảm giới cũng như kiến thức, kỹ năng làm việc với những nhóm dễ tổn thương[12].

Thứ hai, tiếp tục xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn thành lập và hoạt động của hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em. Tổ chức các loại hình dịch vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em ở các địa phương. Tổ chức tập huấn và bồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng thực hành cho đội ngũ cán bộ làm việc trong hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em. Qua đó, cung cấp và kết nối dịch vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em như bảo đảm sự an toàn cho phụ nữ, trẻ em; tư vấn, tham vấn, trị liệu phục hồi tâm lý, thể chất cho phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, trẻ em bị xâm hại, phụ nữ, trẻ em bị bạo lực; trợ giúp phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phụ nữ, trẻ em bị xâm hại, phụ nữ, trẻ em bị bạo lực tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, các phúc lợi xã hội khác khi có nhu cầu. Trợ giúp nâng cao năng lực cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ em, cộng đồng về bảo vệ trẻ em, kỹ năng làm cha mẹ; nâng cao kỹ năng tự bảo vệ.

          Thứ ba, chấn chỉnh lại công tác truyền thông, tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động truyền thông, giáo dục về giới, về pháp luật phòng, chống tội phạm xâm phạm tình dục phu nữ, trẻ em. Các cơ quan có thẩm quyền cần thực hiện thanh tra, kiểm tra các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản, thông tin trên internet; xử lý nghiêm những hành vi sản xuất, phát hành các ấn phẩm, sản phẩm thông tin dành có nội dung đồi trụy, kích động bạo lực.

          Thứ tư, xây dựng chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục liên quan đến phụ nữ, trẻ em theo hướng tiếp cận quyền con người chứ không phải tiếp cận cai trị, hạn chế quyền.

          Cần có những quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật của Nhà nước để bảo đảm quyền hạn pháp lý khi thực hiện việc can thiệp, hỗ trợ bảo vệ phụ nữ, trẻ em, đặc biệt là bảo vệ phụ nữ, trẻ em trong tình trạng khẩn cấp. Hệ thống pháp luật về dịch vụ bảo vệ phụ nữ, trẻ em đầy đủ và đồng bộ, đảm bảo các điều kiện thực hiện quy trình phát hiện, can thiệp sớm, tư vấn, phục hồi tích cực cho mọi phụ nữ, trẻ em và tái hòa nhập cho các nạn nhân là phụ nữ, trẻ em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục. Đặc biệt, cần có những quy định cụ thể hơn về trách nhiệm cung cấp, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại phụ nữ, trẻ em, đầu mối tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác và phối hợp xác minh, đánh giá, điều tra về hành vi xâm hại, tình trạng mất an toàn hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với phụ nữ, trẻ em.

Thứ năm, kiên quyết điều tra khám phá, xử lý nghiêm các vụ án xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em, đấu tranh triệt phá các đường dây tội phạm xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em xuyên quốc gia, có yếu tố nước ngoài, bắt, xử lý các đối tượng phạm tội. Trong quá trình đấu tranh cần kết hợp linh hoạt các biện pháp nhằm điều tra mở rộng vụ án, thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan để làm cơ sở xử lý đối tượng phạm tội; tập trung lực lượng giải quyết dứt điểm các vụ xâm phạm tình dục phụ nữ, trẻ em còn tồn đọng, cơ quan điều tra kịp thời hoàn chỉnh hồ sơ chuyển Viện kiểm sát nhân dân truy tố, Tòa án nhân dân đưa ra xét xử nghiêm minh các đối tượng phạm tội.

  1.      Kết luận

Hoàn thiện cơ chế thực hiện chính sách và pháp luật trong việc đấu tranh

 và phòng chống tội phạm xâm phạm tình dục phu nữ, trẻ em dưới góc độ tiếp cận quyền con người là nhằm mục đích tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả phụ nữ, trẻ em đều được bảo vệ. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho phụ nữ, trẻ em, giảm thiểu tình trạng phụ nữ, trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực tạo cơ hội để phụ nữ, trẻ em được bình đẳng về cơ hội phát triển.

Tài liệu tham khảo:

  1.      Lê Thị Thu, Tham luận Hội thảo Quốc gia, Một số vấn đề thực hiện pháp luật về phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp và UNDP tổ chức tháng 10 năm 2013, tr.35
  2.      Nguyễn Thị Dung, Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ trẻ em đối với các tội xâm hại tình dục, Hội thảo Tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ trẻ em do Bộ Tư pháp và Bộ LĐXH tổ chức tháng 5 năm 2014, tr.4
  3.      Scottish Human Rights Commission, Human Rights and the Care of Older People Information Pack, tr.11
  4.    Tòa án nhân dân tối cao (2008, 2012, 2013, ), Báo cáo tổng kết toàn ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2012 và 2013.
  5.      Tòa án nhân dân tối cao (2008, 2012, 2013, ), Báo cáo tổng kết toàn ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2012 và 2013.  
  6.    Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo UBTVQH về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật hình sự bảo vệ phụ nữ, trẻ em, tr.2.
  7.      The Convention on the Rights of the Child, Điều 12
  8.      Trần Minh Tuấn, Tham luận Tọa đàm, Thực hiện cơ  chế bảo vệ phụ nữ và trẻ en hiện nay do Hội Luật gia Hải Phòng tổ chức tháng 7 năm 2012, tr.21
  9.      Unicef (2008), Báo cáo thực thi chính sách nhân quyền phụ nữ tại Việt Nam, tr.56
  10.                      Văn phòng Điều phối thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, Tài liệu dành cho Cán bộ Liên hợp quốc tại Việt Nam.
  11.                      Vũ Công Giao (Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)và Lê Quỳnh Mai (Học viện Cảnh sát), Tiếp cận dựa trên quyền: Nhận thức và hành động của Liên hợp quốc, Kỷ yếu Hội thảo về Tiếp cận dựa trên quyền, Khoa Luật Đại học Quốc gia, tr.1-2.

 

Địa chỉ liên hệ:

TS. Trần Văn Duy – Nghiên cứu viên - Viện Hàn Lâm KHXH VN  

Số 36 Phố Hàng Chuối – Quận Hai Bà Trưng –HN.

Điện thoại: 098.254.8909

Email : duyluat1982@yahoo.com.vn

 

 

 

 

[1] Xem thêm: Văn phòng Điều phối thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam, Tài liệu dành cho Cán bộ Liên hợp quốc tại Việt Nam,

[2] Scottish Human Rights Commission, Human Rights and the Care of Older People Information Pack, tr.11

Xem tại: http://www.scottishhumanrights.com/careaboutrights/whatisahumanrightsbasedapproach (truy cập 16/11/2015)

[3] The Convention on the Rights of the Child, Điều 12

[4] Xem thêm: Vũ Công Giao (Khoa Luật ĐHQG Hà Nội)và Lê Quỳnh Mai (Học viện Cảnh sát), Tiếp cận dựa trên quyền: Nhận thức và hành động của Liên hợp quốc, Kỷ yếu Hội thảo về Tiếp cận dựa trên quyền, Khoa Luật Đại học Quốc gia, tr.1-2.

[5] Xem thêm: Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo UBTVQH về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật hình sự bảo vệ phụ nữ, trẻ em, tr.2.

[6] Xem thêm: Tòa án nhân dân tối cao (2008, 2012, 2013, ), Báo cáo tổng kết toàn ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2012 và 2013.

[7] Xem thêm: Tòa án nhân dân tối cao (2008, 2012, 2013, ), Báo cáo tổng kết toàn ngành Tòa án nhân dân các năm 2008, 2012 và 2013.

[8]Xem thêm:  Lê Thị Thu, Tham luận Hội thảo Quốc gia, Một số vấn đề thực hiện pháp luật về phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp và UNDP tổ chức tháng 10 năm 2013, tr.34

[9] Xem thêm: Unicef (2008), Báo cáo thực thi chính sách nhân quyền phụ nữ tại Việt Nam, tr.56

[10] Xem thêm:  Lê Thị Thu, Tham luận Hội thảo Quốc gia, Một số vấn đề thực hiện pháp luật về phụ nữ, trẻ em do Bộ Tư pháp và UNDP tổ chức tháng 10 năm 2013, tr.35

[11] Xem thêm: Trần Minh Tuấn, Tham luận Tọa đàm, Thực hiện cơ  chế bảo vệ phụ nữ và trẻ en hiện nay do Hội Luật gia Hải Phòng tổ chức tháng 7 năm 2012, tr.21

 

[12] Nguyễn Thị Dung, Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ trẻ em đối với các tội xâm hại tình dục, Hội thảo Tăng cường thực thi pháp luật về bảo vệ trẻ em do Bộ Tư pháp và Bộ LĐXH tổ chức tháng 5 năm 2014, tr.4

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi