Khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự

 

Ths. Đinh Hoàng Quang*

Phạm Việt Nghĩa**

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Cụ thể: Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội. Trong đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ (các căn cứ loại trừ tính trái pháp luật của hành vi), phạm tội chưa đạt, người thực hiện phạm tội và người tòng phạm[1]. Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong Phần chung của Bộ luật hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm tội như: mức độ nghiêm trọng của thiệt hại gây ra cho cá nhân, xã hội, Nhà nước (Điều 111 – 1); tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt của hành vi (Điều 111 – 2, 111 – 3); tính có lỗi cố ý hoặc vô ý của hành vi (Điều 121 – 3)[2]. Và ở luật hình sự nước Anh không quy định khái niệm tội phạm và dấu hiệu của một số tội cụ thể được quy định trong các đạo luật hình sự chuyên biệt[3]

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Thứ nhất, quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến[4]. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: “Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này[5]. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt[6]

Thứ hai, quy định khái niệm tội phạm với cả dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Khái niệm đầy đủ về tội phạm:

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Theo khái niệm nêu trên, tội phạm được đưa ra với đầy đủ các dấu hiệu của nó là: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự; Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến một độ tuổi nhất định thực hiện; tội phạm được thực hiện do cố ý hoặc vô ý (có lỗi) và người phạm tội phải bị xử phạt[7]. Cụ thể như tại Điều 14 Bộ luật hình sự Cộng hòa liên bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 quy định: “Tội phạm là hành vi có lỗi gây nguy hiểm cho xã hội, bị cấm bởi Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt. Hành động (hoặc không hành động), mặc dù về hình thức có bao hàm những dấu hiệu của một hành vi nào đó được Bộ luật này quy định nhưng do tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm[8]

Cùng với quan điểm như trên, nhưng những người khác không coi tình tiết phải bị xử phạt là dấu hiệu của tội phạm, và vì vậy không đưa đặc điểm này vào khái niệm đầy đủ về tội phạm. Những tác giả này cho rằng: phạm tội thì không tránh khỏi phải chịu hình phạt, đó là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật hình sự. Phải chịu xử phạt, đó là hậu quả tất yếu của việc thực hiện tội phạm chứ chính nó không phải là thuộc tính của tội phạm. Mặt khác, trong thực tế có nhiều trường hợp tội phạm không bị xử phạt do nhiều nguyên nhân khác nhau (quá thời hiệu, không khám phá được, được miễn trách nhiệm hình sự…), vậy thì trong những trường hợp ấy hành vi có được coi là tội phạm hay không nếu có đủ các yếu tố cấu thành. Thực vậy, khi một người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì hành vi đó đã là tội phạm, không phụ thuộc người đó có bị xử phạt hay không[9]. Điều 13 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 quy định: “Mọi hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; chia cắt quốc gia; lật đổ chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại trật tự kinh tế xã hội; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tập thể của quần chúng lao động; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân; xâm phạm các quyền nhân thân dân chủ và các quyền khác của công dân cũng như các hành vi khác gây nguy hại cho xã hội được quy định là tội phạm. Những hành vi nhỏ nhặt gây hại không lớn thì không phải là tội phạm[10].

Khái niệm tổng quát về tội phạm:

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng tuy là khái niệm được đưa ra mang tính khái quát cao nhưng nó vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của tội phạm. Không phải bất kỳ một hành vi nguy hiểm nào (tức gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại) cũng là tội phạm. Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội mới được quy định là tội phạm. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm cả hai mặt: mặt thực tế (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) và mặt xã hội. Hành vi sở dĩ nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó được người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Hay nói cách khác: năng lực trách nhiệm hình sự, tính có lỗi là các dấu hiệu tạo cho hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi gây thiệt hại nhưng do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc do con người thực hiện không có lỗi thì không mang tính nguy hiểm cho xã hội, thậm chí có trường hợp còn có lợi cho xã hội thì không thể được coi là tội phạm[11]. Cụ thể như: tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Ba Lan quy định: Chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự đang có hiệu lực pháp luật ngăn cấm mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Những hành vi gây thiệt hại không đáng kể cho xã hội cũng như những hành vi được thực hiện không có lỗi thì không phải là tội phạm[12]

Đặc biệt, ở Hoa Kỳ, do có hai hệ thống pháp luật tồn tại song song và có tính độc lập tương đối là pháp luật hình sự liên bang và pháp luật hình sự các bang, pháp luật hình sự các bang cũng độc lập với nhau nên khái niệm tội phạm được quy định khá đa dạng và khác nhau. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ ở cấp liên bang không xây dựng khái niệm tội phạm nói chung. Khái quát về tội phạm nếu có cũng chỉ dừng ở khái niệm chung về nhóm tội phạm, như tội phạm có tính bạo lực là tội phạm đã sử dụng, có ý định sử dụng hoặc đe dọa sử dụng sức mạnh vật chất xâm hại nhân thân hoặc tài sản của người khác; hoặc bất kì tội phạm khác bị coi là trọng tội và bản chất nguy hiểm của tội phạm cho thấy rằng trong khi thực hiện tội phạm đó có thể sẽ sử dụng sức mạnh vật chất xâm hại nhân thân hoặc tài sản của người khác. Các nhà làm luật tập trung xây dựng khái niệm về các tội phạm cụ thể.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: “Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này”. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: “Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù”. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: “Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm[13]

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Thứ nhất, có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không?

Tội phạm ở các quốc gia trên thế giới khác nhau tùy theo bản chất giai cấp của mỗi Nhà nước, cũng như phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng như luật hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm về phương diện nội dung và pháp lý, thể hiện rõ bản chất xã hội của tội phạm, qua đó, phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Nhà nước ta trong từng giai đoạn của lịch sử và cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân[14]

Khái niệm tội phạm có thể được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mặt khác trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Nội dung của khái niệm tội phạm xác định giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác. Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mô hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó cũng là cơ sở để quy định khung hình phạt tương ứng. Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, cơ quan có thẩm quyền tuy dựa vào cấu thành tội phạm để xác định tội phạm nhưng chỉ trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất cũng như những đặc điểm của tội phạm nói chung mới có thể áp dụng luật hình sự một cách đúng đắn qua việc xác định đúng tội danh, đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội[15]

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Thứ hai, nếu quy định thì theo hướng nào

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Trước hết, cần xem xét mối quan hệ giữa dấu hiệu nội dung và dấu hiệu hình thức. Có hai quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng: tính nguy hiểm cho xã hội tồn tại khách quan không phụ thuộc vào người đánh giá. Vì là hành vi nguy hiểm cho nên được người làm luật quy định trong Bộ luật hình sự và trở thành tội phạm. Tính trái pháp luật hình sự luôn luôn đi sau tính nguy hiểm cho xã hội, và do đó trong những điều kiện nhất định, do pháp luật không theo kịp cuộc sống, nghĩa là có những hành vi nguy hiểm cao cho xã hội nhưng không được quy định trong Bộ luật hình sự nên không phải là tội phạm. Vì vậy có thể áp dụng nguyên tắc “tương tự”. Quan điểm thứ hai cho rằng: tội phạm trước hết là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, và vì nó được quy định trong Bộ luật hình sự nên nó mới trở thành nguy hiểm cho xã hội. Và do đó, không phải là tội phạm, và người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi đó không được quy định trong Bộ luật hình sự[16]. Cả hai quan điểm trên đều có những hạt nhân hợp lý của nó. Tuy nhiên việc cho phép áp dụng nguyên tắc “tương tự” trong luật hình sự, dễ dẫn đến sự tùy tiện, những hậu quả xã hội khó lường, không đảm bảo quyền con người. Muốn bảo đảm cho một xã hội lành mạnh, có nền pháp chế cao, muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì nhà nước hủy bỏ nguyên tắc “tương tự” trong luật hình sự[17], hay nói cách khác phải quy định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm. Đồng thời, cũng cần quy định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi bởi vì đây là căn cứ phân biệt hành vi phạm tội với hành vi vi phạm khác và cũng là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội khi xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội[18]

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985[19]. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không[20].

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa[21]. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”[22]. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Hiện nay chúng ta đang hướng đến mở rộng nguồn của Luật hình sự (tội phạm và hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự là chủ yếu, ngoài ra còn được quy định trong một số Luật chuyên ngành)[23]. Do đó, cần bổ sung thêm nguồn của Luật hình sự trong khái niệm về tội phạm tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng cần sử dụng thuật ngữ “Pháp luật hình sự” thay cho thuật ngữ “Luật hình sự”[24]

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: “Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý[25]. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người[26]. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao[27].

Trong khái niệm liệt kê một loạt các khách thể bảo vệ của luật hình sự; tuy nhiên, nếu đối chiếu các khách thể đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 8 này với các chương trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự thì khoản 1 Điều 8 chưa đề cập đến một khách thể cũng rất quan trọng trong Chương XXIV – Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (các điều 341 – 344) là hòa bình và an ninh nhân loại[28]

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Thật ra nội dung cơ bản của Bộ luật hình sự là việc quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm các tội đó[29]. Tội phạm được quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức hành vi gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại (tức xâm hại) cho các quan hệ xã hội nhất định, còn đó là những quan hệ nào thì được quy định rõ ở phần các tội phạm. Hơn nữa, tính nguy hiểm của hành vi mang tính xã hội, tức hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không luôn luôn phải được xem xét trong trạng thái động của nó, tùy theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế - xã hội. Một hành vi có thể trong giai đoạn phát triển xã hội này là nguy hiểm, nhưng ở giai đoạn phát triển xã hội khác lại trở thành không nguy hiểm, và ngược lại. Việc đánh giá hành vi này hay hành vi khác có nguy hiểm hay không, có phải là tội phạm hay không; được thực hiện bằng hai quá trình song song: tội phạm hóa và phi tội phạm hóa bằng cách sửa đổi, bổ sung luật hình sự. Trong khi đó khái niệm tội phạm của một nhà nước phải mang tính ổn định, lâu dài, không thể liên tục sửa đổi, bổ sung. Và như vậy, việc nhà làm luật liệt kê những quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm ngay trong định nghĩa tội phạm là không cần thiết[30].

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

Thứ hai, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Rõ ràng việc quy định phân loại tội phạm trong Điều luật quy định về khái niệm tội phạm là điều bất hợp lý. Như trên đã phân tích, hình thức của khái niệm nói chung phải ngắn gọn, súc tích và có tính khái quát cao. Do đó, việc đưa nội dung của sự phân loại tội phạm vào khái niệm tội phạm đã làm cho hình thức khái niệm của tội phạm mất đi tính khoa học. Ngoài ra, về nguyên tắc, khái niệm tội phạm chỉ bao gồm những đặc điểm chung, đặc trưng, điển hình của bất kì loại tội phạm nào mà “nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác”. Trong khi đó, tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng chỉ là những loại trường hợp cụ thể của tội phạm nói chung. Vì vậy, việc quy định nội dung này vào khái niệm tội phạm là không hợp lí, do đó nó đã phá vỡ nguyên tắc trên.[31]

Thứ ba, khoản 4 Điều 8 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể[32].

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có lỗi và bị quy định trong pháp luật hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

 

*, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

[1] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa – Lê Thị Sơn, “Về phần chung Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Luật học, Đặc san 9/2011, tr. 23 – 29.

[2] Xem: Hồ Sỹ Sơn, “Tội phạm và các dấu hiệu của tội phạm nhìn từ góc độ so sánh pháp luật hình sự ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2012, tr 92.

[3] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 93.

[4] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 158

[5] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Thụy Điển, Nxb. Công an nhân dân, 2010.

[6] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

[7] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

[8] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Liên Bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, 2011.

[9] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

[10] Xem: Đinh Bích Hà (Dịch và giới thiệu): Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nxb. Tư pháp,Hà Nội, 2007, tr 41 – 42.

[11] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

[12] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

[13] Xem: Nguyễn Tuyết Mai, “Khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ vài nét so sánh với pháp luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 1/2011, tr. 63 – 64.

[14] Xem: Trịnh Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2013.

[15] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010.

[16] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

[17] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

[18] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

[19] Xem: Trần Quang Tiệp, Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 136.

[20] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

[21] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa và các tác giả khác, “Sửa đổi Bộ luật hình sự Việt Nam với việc chuẩn hóa các thuật ngữ và các định nghĩa khái niệm trong phần chung”, Tạp chí Luật học, số 7/2014, tr 20.

[22] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 472

[23] Xem: Tổ biên tập Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi), Dự thảo Phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi), ngày 12/10/2014 .

[24] Xem: Lê Văn Cảm - Đinh Hoàng Quang, “Những kiến giải lập pháp cụ thể về chế định đạo luật hình sự trong Chương I Dự thảo phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 19 tháng 10/2014, tr 26.

[25] Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 136

[26] Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

[27] Xem: Trương Quang Vinh, “Bàn về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999”, Tạp chí luật học, số 03/2003.

[28] Xem: Trịnh Tiến Việt, Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu mới của đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012, tr 82.

[29] Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

[30] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

[31] Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

[32] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

KHÁI NIỆM TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Ths. Đinh Hoàng Quang*

Phạm Việt Nghĩa**

Khái niệm tội phạm là một trong những vấn đề quan trọng nhất của luật hình sự. Chế định tội phạm là chế định trung tâm thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị, xã hội cũng như pháp lý của luật hình sự ở mỗi nước. Tội phạm là một hiện tượng xã hội, cho nên khái niệm của nó luôn luôn gắn liền với sự phát triển xã hội và ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Hiện nay, trong bối cảnh sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999 với một loạt quan điểm mới như bổ sung nguồn của Bộ luật hình sự và trách nhiệm hình sự của pháp nhân… thì việc hoàn thiện quy định về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự là điều hết sức cần thiết.

1. Tham khảo Luật hình sự của một số nước thế giới

Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới có quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự, tuy nhiên cũng có một số quốc gia không đưa khái niệm tội phạm vào Bộ luật hình sự.

Cụ thể: Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức không có điều luật về khái niệm tội phạm nhưng có cả một chương quy định về hành vi phạm tội. Trong đó, các quy định tập trung vào các vấn đề như: chủ thể của tội phạm, vấn đề lỗi và các trường hợp sai lầm, vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn đề thực hiện cho người khác, các căn cứ biện hộ (các căn cứ loại trừ tính trái pháp luật của hành vi), phạm tội chưa đạt, người thực hiện phạm tội và người tòng phạm[1]. Hay như ở Cộng hòa Pháp, trong Phần chung của Bộ luật hình sự không nêu các dấu hiệu của hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tại Phần các tội phạm lại quy định các dấu hiệu của hành vi phạm tội như: mức độ nghiêm trọng của thiệt hại gây ra cho cá nhân, xã hội, Nhà nước (Điều 111 – 1); tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt của hành vi (Điều 111 – 2, 111 – 3); tính có lỗi cố ý hoặc vô ý của hành vi (Điều 121 – 3)[2]. Và ở luật hình sự nước Anh không quy định khái niệm tội phạm và dấu hiệu của một số tội cụ thể được quy định trong các đạo luật hình sự chuyên biệt[3]

Bên cạnh đó, ở một số quốc gia có quy định khái niệm tội phạm trong Luật hình sự và cách thể hiện khái niệm tội phạm cũng có nhiều điểm khác nhau, có những quốc gia chỉ quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức, có những quốc gia quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung.

Thứ nhất, quy định khái niệm tội phạm với dấu hiệu hình thức

Ngay từ thời kỳ đầu khi xã hội tư sản vừa bước ra khỏi sự hạn chế của chủ nghĩa phong kiến, với tư tưởng đề cao vai trò của tự do dân chủ và bình đẳng, tư tưởng nhà nước pháp quyền thì quan niệm con người được phép làm những gì pháp luật không cấm… được thể hiện rất rõ nét trong khái niệm tội phạm. Do đó, khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự ở một số nước tư sản đã được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau: là hành vi bị đạo luật hình sự cấm hoặc là “vi phạm pháp luật bị Bộ luật hình sự trừng trị” hoặc là “hành vi do luật hình sự cấm bằng nguy cơ xử phạt” … Theo các luật gia tư sản thời kỳ này thì tội phạm là các hành vi do luật hình quy định. Trong khái niệm tội phạm này tính luật định được coi là đặc điểm duy nhất của tội phạm. Thực hiện nguyên tắc “không có tội phạm nếu điều đó không bị cấm trong Bộ luật hình sự”, các luật gia tư sản chứng minh được thế tiến bộ của nước mình trước luật hình phong kiến[4]. Cho tới nay, trong Bộ luật hình sự ở một số nước cũng vẫn quy định tội phạm dưới dạng hình thức là hành vi do Luật định. Cụ thể như: tại Điều 1 BLHS Thụy Điển quy định: “Tội phạm là hành vi được quy định trong Bộ luật này hoặc luật hoặc các văn bản pháp luật khác và bị áp dụng các hình phạt theo quy định của Luật này[5]. Điều 10 Bộ luật hình sự Cộng hòa Tây Ban Nha, tội phạm là hành vi bằng hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý và bị áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự và theo quy định tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Thụy Sĩ, chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự cấm bằng nguy cơ bị áp dụng hình phạt mới phải chịu hình phạt[6]

Thứ hai, quy định khái niệm tội phạm với cả dấu hiệu hình thức và dấu hiệu nội dung

Hiện nay, cùng với dấu hiệu hình thức, ở một số nước đã đưa dấu hiệu nội dung vào khái niệm tội phạm. Tội phạm không chỉ là hành vi được luật hình quy định mà còn là hành vi chống lại lợi ích xã hội, là hành vi có hại. Các khái niệm tội phạm được quy định trong Luật hình sự thể hiện ở hai dạng: khái niệm đầy đủ và khái niệm tổng quát về tội phạm.

Khái niệm đầy đủ về tội phạm:

Trong khái niệm này các tác giả đưa ra đầy đủ các dấu hiệu tội phạm. Một số cho rằng “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người đến một độ tuổi nhất định có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và vì nó người phạm tội phải bị xử phạt”.

Theo khái niệm nêu trên, tội phạm được đưa ra với đầy đủ các dấu hiệu của nó là: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự; Tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến một độ tuổi nhất định thực hiện; tội phạm được thực hiện do cố ý hoặc vô ý (có lỗi) và người phạm tội phải bị xử phạt[7]. Cụ thể như tại Điều 14 Bộ luật hình sự Cộng hòa liên bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 quy định: “Tội phạm là hành vi có lỗi gây nguy hiểm cho xã hội, bị cấm bởi Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt. Hành động (hoặc không hành động), mặc dù về hình thức có bao hàm những dấu hiệu của một hành vi nào đó được Bộ luật này quy định nhưng do tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm[8]

Cùng với quan điểm như trên, nhưng những người khác không coi tình tiết phải bị xử phạt là dấu hiệu của tội phạm, và vì vậy không đưa đặc điểm này vào khái niệm đầy đủ về tội phạm. Những tác giả này cho rằng: phạm tội thì không tránh khỏi phải chịu hình phạt, đó là một trong những nguyên tắc quan trọng của luật hình sự. Phải chịu xử phạt, đó là hậu quả tất yếu của việc thực hiện tội phạm chứ chính nó không phải là thuộc tính của tội phạm. Mặt khác, trong thực tế có nhiều trường hợp tội phạm không bị xử phạt do nhiều nguyên nhân khác nhau (quá thời hiệu, không khám phá được, được miễn trách nhiệm hình sự…), vậy thì trong những trường hợp ấy hành vi có được coi là tội phạm hay không nếu có đủ các yếu tố cấu thành. Thực vậy, khi một người thực hiện hành vi chứa đựng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì hành vi đó đã là tội phạm, không phụ thuộc người đó có bị xử phạt hay không[9]. Điều 13 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 quy định: “Mọi hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; chia cắt quốc gia; lật đổ chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại trật tự kinh tế xã hội; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tập thể của quần chúng lao động; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân; xâm phạm các quyền nhân thân dân chủ và các quyền khác của công dân cũng như các hành vi khác gây nguy hại cho xã hội được quy định là tội phạm. Những hành vi nhỏ nhặt gây hại không lớn thì không phải là tội phạm[10].

Khái niệm tổng quát về tội phạm:

Những người có quan điểm này cho rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ Luật hình sự quy định hay nói cách khác tội phạm có hai đặc tính cơ bản: nội dung là hành vi nguy hiểm cho xã hội và hình thức được Bộ luật hình sự quy định.

Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng tuy là khái niệm được đưa ra mang tính khái quát cao nhưng nó vẫn thể hiện đầy đủ các đặc điểm của tội phạm. Không phải bất kỳ một hành vi nguy hiểm nào (tức gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại) cũng là tội phạm. Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội mới được quy định là tội phạm. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bao gồm cả hai mặt: mặt thực tế (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) và mặt xã hội. Hành vi sở dĩ nguy hiểm cho xã hội bởi vì nó được người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Hay nói cách khác: năng lực trách nhiệm hình sự, tính có lỗi là các dấu hiệu tạo cho hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi gây thiệt hại nhưng do người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hoặc do con người thực hiện không có lỗi thì không mang tính nguy hiểm cho xã hội, thậm chí có trường hợp còn có lợi cho xã hội thì không thể được coi là tội phạm[11]. Cụ thể như: tại Điều 1 Bộ luật hình sự Cộng hòa Ba Lan quy định: Chỉ người nào thực hiện hành vi bị Bộ luật hình sự đang có hiệu lực pháp luật ngăn cấm mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Những hành vi gây thiệt hại không đáng kể cho xã hội cũng như những hành vi được thực hiện không có lỗi thì không phải là tội phạm[12]

Đặc biệt, ở Hoa Kỳ, do có hai hệ thống pháp luật tồn tại song song và có tính độc lập tương đối là pháp luật hình sự liên bang và pháp luật hình sự các bang, pháp luật hình sự các bang cũng độc lập với nhau nên khái niệm tội phạm được quy định khá đa dạng và khác nhau. Pháp luật hình sự Hoa Kỳ ở cấp liên bang không xây dựng khái niệm tội phạm nói chung. Khái quát về tội phạm nếu có cũng chỉ dừng ở khái niệm chung về nhóm tội phạm, như tội phạm có tính bạo lực là tội phạm đã sử dụng, có ý định sử dụng hoặc đe dọa sử dụng sức mạnh vật chất xâm hại nhân thân hoặc tài sản của người khác; hoặc bất kì tội phạm khác bị coi là trọng tội và bản chất nguy hiểm của tội phạm cho thấy rằng trong khi thực hiện tội phạm đó có thể sẽ sử dụng sức mạnh vật chất xâm hại nhân thân hoặc tài sản của người khác. Các nhà làm luật tập trung xây dựng khái niệm về các tội phạm cụ thể.

Ở cấp độ các bang, hầu hết bộ luật hình sự các bang đều chú ý xây dựng khái niệm tội phạm nói chung, làm cơ sở cho việc quy định các hành vi phạm tội cụ thể. Bộ luật hình sự bang California định nghĩa: “Tội phạm là hành vi được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động vi phạm các quy định của pháp luật về việc cấm thực hiện hoặc buộc phải thực hiện hành vi và hình phạt được áp dụng có thể là tử hình, tù giam, phạt tiền, buộc thôi việc ở các cơ quan hoặc cấm đảm nhiệm các công việc hoặc thu lợi ở bang này”. Bộ luật hình sự bang Colorado định nghĩa: “Tội phạm là sự vi phạm bất kì luật nào của liên bang hoặc là xử sự được mô tả bởi chính luật đó mà bằng việc phạm tội có thể bị phạt tiền hay phạt tù”. Bộ luật hình sự bang New York định nghĩa: “Tội phạm là hành vi gây thiệt hại mà hình phạt đối với người thực hiện là tù giam có thời hạn hoặc phạt tiền được quy định trong các văn bản luật hoặc văn bản dưới luật của bang hoặc được thừa nhận trong các văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Nét đặc trưng là nhà làm luật rất coi trọng yếu tố hình thức và hậu quả pháp lí của tội phạm. Dấu hiệu về “tính chất được quy định trong pháp luật hình sự” và “phải bị xử phạt về hình sự đối với người thực hiện nó” là các dấu hiệu pháp lí chủ yếu của tội phạm[13]

2. Cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo những quy định của Bộ luật hình sự ở một số nước trên, có thể nhận thấy về cơ sở lý luận cho việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự cần phải giải quyết vấn đề: có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không? và nếu quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự thì quy định như thế nào?

Thứ nhất, có nên quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự hay không?

Tội phạm ở các quốc gia trên thế giới khác nhau tùy theo bản chất giai cấp của mỗi Nhà nước, cũng như phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng như luật hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm về phương diện nội dung và pháp lý, thể hiện rõ bản chất xã hội của tội phạm, qua đó, phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Nhà nước ta trong từng giai đoạn của lịch sử và cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân[14]

Khái niệm tội phạm có thể được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mặt khác trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Nội dung của khái niệm tội phạm xác định giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác. Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể với ý nghĩa là mô hình pháp lý của từng loại tội phạm và qua đó cũng là cơ sở để quy định khung hình phạt tương ứng. Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, cơ quan có thẩm quyền tuy dựa vào cấu thành tội phạm để xác định tội phạm nhưng chỉ trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất cũng như những đặc điểm của tội phạm nói chung mới có thể áp dụng luật hình sự một cách đúng đắn qua việc xác định đúng tội danh, đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội[15]

Rõ ràng, với những ý nghĩa trên của khái niệm tội phạm thì cần thiết phải quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam.

Thứ hai, nếu quy định thì theo hướng nào

Vấn đề ở đây đây đặt ra nên quy định khái niệm tội phạm theo hướng chỉ quy định dấu hiệu hình thức (được Bộ luật hình sự quy định hay nói cách khác trái pháp luật hình sự) hay bao gồm cả dấu hiệu nội dung (hành vi nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu hình thức.

Trước hết, cần xem xét mối quan hệ giữa dấu hiệu nội dung và dấu hiệu hình thức. Có hai quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Quan điểm thứ nhất cho rằng: tính nguy hiểm cho xã hội tồn tại khách quan không phụ thuộc vào người đánh giá. Vì là hành vi nguy hiểm cho nên được người làm luật quy định trong Bộ luật hình sự và trở thành tội phạm. Tính trái pháp luật hình sự luôn luôn đi sau tính nguy hiểm cho xã hội, và do đó trong những điều kiện nhất định, do pháp luật không theo kịp cuộc sống, nghĩa là có những hành vi nguy hiểm cao cho xã hội nhưng không được quy định trong Bộ luật hình sự nên không phải là tội phạm. Vì vậy có thể áp dụng nguyên tắc “tương tự”. Quan điểm thứ hai cho rằng: tội phạm trước hết là hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự, và vì nó được quy định trong Bộ luật hình sự nên nó mới trở thành nguy hiểm cho xã hội. Và do đó, không phải là tội phạm, và người thực hiện hành vi không phải chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi đó không được quy định trong Bộ luật hình sự[16]. Cả hai quan điểm trên đều có những hạt nhân hợp lý của nó. Tuy nhiên việc cho phép áp dụng nguyên tắc “tương tự” trong luật hình sự, dễ dẫn đến sự tùy tiện, những hậu quả xã hội khó lường, không đảm bảo quyền con người. Muốn bảo đảm cho một xã hội lành mạnh, có nền pháp chế cao, muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì nhà nước hủy bỏ nguyên tắc “tương tự” trong luật hình sự[17], hay nói cách khác phải quy định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm. Đồng thời, cũng cần quy định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi bởi vì đây là căn cứ phân biệt hành vi phạm tội với hành vi vi phạm khác và cũng là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội khi xác định trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội[18]

Nghiên cứu lịch sử luật hình sự Việt Nam thì lần đầu tiên khái niệm tội phạm đã được chính thức ghi nhận trong văn bản pháp luật ở khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985[19]. Theo đó, khái niệm tội phạm được quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Trong khái niệm đã khẳng định nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan nhưng không phải là hành vi. Kế thừa quy định về khái niệm tội phạm ở Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, một lần nữa nguyên tắc hành vi lại được khẳng định. Có thể thấy pháp luật hình sự nước ta luôn luôn coi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi là điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất để xem xét một hành vi có phải là tội phạm hay không[20].

Từ những cơ sở trên, có thể thấy việc quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam bao gồm cả dấu hiệu nội dung (tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi) và dấu hiệu hình thức (tính trái pháp luật hình sự) là hết sức cần thiết.

3. Bất cập quy định khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành và đề xuất hoàn thiện

Nghiên cứu từng khoản của Điều 8 Bộ luật hình sự quy định về khái niệm tội phạm có những bất cập sau:

Thứ nhất, khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “ Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”

Như vậy, khái niệm tội phạm dưới dạng khái niệm đầy đủ về tội phạm như một số nước. Phân tích khái niệm trên, ta có thể thấy tội phạm có các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi này được quy định trong Bộ luật hình sự, hành vi này phải do người có năng lực trách nhiệm thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý và hành vi xâm hại đến một loạt các khách thể được bảo vệ bởi luật hình sự. Tuy nhiên, một định nghĩa như vậy tương đối dài, không đảm bảo tính ngắn gọn của định nghĩa[21]. Theo Từ điển tiếng việt thì “khái niệm” được hiểu là “ý nghĩ phản ánh ở dạng khái quát các sự vật và hiện tượng của hiện thực và những mối liên hệ giữa chúng”[22]. Do đó đòi hỏi khái niệm phải được diễn đạt ngắn gọn, súc tích nhưng vẫn thể hiện được những nội dung mang tính bản chất của khái niệm.

Hiện nay chúng ta đang hướng đến mở rộng nguồn của Luật hình sự (tội phạm và hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự là chủ yếu, ngoài ra còn được quy định trong một số Luật chuyên ngành)[23]. Do đó, cần bổ sung thêm nguồn của Luật hình sự trong khái niệm về tội phạm tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng cần sử dụng thuật ngữ “Pháp luật hình sự” thay cho thuật ngữ “Luật hình sự”[24]

Một điểm quan trọng nữa trong nội dung dự thảo sửa đổi Bộ luật hình sự là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Như vậy, thực hiện hành vi phạm tội ngoài cá nhân ra thì còn pháp nhân thực hiện.

Ngoài ra, trong khái niệm còn thể hiện đặc điểm tội phạm phải do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Cần phải khẳng định, năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định một người là có lỗi khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hoặc không thực hiện một việc mà luật hình sự quy định phải làm. Như vậy, năng lực trách nhiệm hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với lỗi mà tính có lỗi là đặc điểm của tội phạm đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo đó, lỗi được hiểu là: “Thái độ tâm lí của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý[25]. Là mặt hình thức của lỗi, quan hệ tâm lí ở đây bao gồm yêu tố lí trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Hai yếu tố này – một thể hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan, một thể hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức là những yếu tố tâm lí cần thiết của mọi hành động có ý thức của con người[26]. Nội dung của những yếu tố này cũng chính là những điều kiện bắt buộc để tạo thành năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, khi một người được coi là có lỗi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình cũng như đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thì đương nhiên họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi tính có lỗi đã được quy định trong khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 là đặc điểm của tội phạm rồi thì nhà làm luật không cần phải quy định tính có năng lực trách nhiệm hình sự của chủ thể vào trong khái niệm này nữa. Quy định như vậy sẽ làm cho nội dung khái niệm của tội phạm trở nên rườm rà và tính khoa học của nó không cao[27].

Trong khái niệm liệt kê một loạt các khách thể bảo vệ của luật hình sự; tuy nhiên, nếu đối chiếu các khách thể đã được liệt kê tại khoản 1 Điều 8 này với các chương trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự thì khoản 1 Điều 8 chưa đề cập đến một khách thể cũng rất quan trọng trong Chương XXIV – Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (các điều 341 – 344) là hòa bình và an ninh nhân loại[28]

Hành vi nguy hiểm cho xã hội tức là hành vi xâm phạm (gây thiệt hại hoặc nguy cơ gây thiệt hại) một hay nhiều khách thể nhất định. Vì vậy cũng có những cách nhìn nhận khác nhau về việc liệt kê khách thể chung của tội phạm. Có ý kiến cho rằng chính bằng cách chỉ ra khách thể chung như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội…người làm luật đã làm sáng tỏ bản chất giai cấp của luật hình sự, phân biệt khái niệm tội phạm trong luật hình xã hội chủ nghĩa với luật hình các chế độ nhà nước khác. Loại ý kiến thứ hai thì cho rằng người làm luật liệt kê rõ trong định nghĩa về tội phạm khách thể bị xâm hại là đưa ra cơ sở pháp lý để phân biệt tội phạm và các vi phạm pháp luật khác. Còn loại ý kiến khác nữa thì cho rằng các khách thể mà người làm luật đưa ra trong định nghĩa về tội phạm là trật tự các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tùy theo mức độ quan trọng của nó, và vì vậy nó là cơ sở cho sự phân loại các chương trong Bộ Luật hình sự ở phần các tội phạm.

Những cách nhìn nhận trên đều có những yếu tố hợp lý của nó, nhưng không hoàn toàn chính xác. Nếu theo cách nhìn nhận thứ nhất thì không phải chỉ luật hình sự xã hội chủ nghĩa mới bảo vệ những khách thể như độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, như tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người. Quan điểm thứ hai cũng không chính xác. Các quan hệ xã hội mà Bộ luật hình sự nêu ra ở đây không chỉ bị tội phạm xâm hại, các vi phạm pháp luật khác như vi phạm hành chính, gây thiệt hại về dân sự… cũng có thể gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội. Sự khác nhau ở đây chỉ ở chỗ các vi phạm pháp luật này ít nguy hiểm hơn. Nếu theo cách nhìn thứ ba thì chúng ta không hiểu tại sao tại phần các tội phạm, người làm luật lại quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự.. của công dân ngay sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trước các tội xâm phạm sở hữu.

Thật ra nội dung cơ bản của Bộ luật hình sự là việc quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm các tội đó[29]. Tội phạm được quy định là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tức hành vi gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại (tức xâm hại) cho các quan hệ xã hội nhất định, còn đó là những quan hệ nào thì được quy định rõ ở phần các tội phạm. Hơn nữa, tính nguy hiểm của hành vi mang tính xã hội, tức hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không luôn luôn phải được xem xét trong trạng thái động của nó, tùy theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế - xã hội. Một hành vi có thể trong giai đoạn phát triển xã hội này là nguy hiểm, nhưng ở giai đoạn phát triển xã hội khác lại trở thành không nguy hiểm, và ngược lại. Việc đánh giá hành vi này hay hành vi khác có nguy hiểm hay không, có phải là tội phạm hay không; được thực hiện bằng hai quá trình song song: tội phạm hóa và phi tội phạm hóa bằng cách sửa đổi, bổ sung luật hình sự. Trong khi đó khái niệm tội phạm của một nhà nước phải mang tính ổn định, lâu dài, không thể liên tục sửa đổi, bổ sung. Và như vậy, việc nhà làm luật liệt kê những quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm ngay trong định nghĩa tội phạm là không cần thiết[30].

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng việc quy định các dấu hiệu tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, tội phạm xâm phạm đến các khách thể được luật hình sự bảo vệ (được liệt kê như khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999) là không cần thiết, mà chỉ cần quy định một cách khái quát khái niệm tội phạm với các đặc điểm: là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong pháp luật hình sự.

Thứ hai, khoản 2 và khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình”.

Rõ ràng việc quy định phân loại tội phạm trong Điều luật quy định về khái niệm tội phạm là điều bất hợp lý. Như trên đã phân tích, hình thức của khái niệm nói chung phải ngắn gọn, súc tích và có tính khái quát cao. Do đó, việc đưa nội dung của sự phân loại tội phạm vào khái niệm tội phạm đã làm cho hình thức khái niệm của tội phạm mất đi tính khoa học. Ngoài ra, về nguyên tắc, khái niệm tội phạm chỉ bao gồm những đặc điểm chung, đặc trưng, điển hình của bất kì loại tội phạm nào mà “nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác”. Trong khi đó, tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng chỉ là những loại trường hợp cụ thể của tội phạm nói chung. Vì vậy, việc quy định nội dung này vào khái niệm tội phạm là không hợp lí, do đó nó đã phá vỡ nguyên tắc trên.[31]

Thứ ba, khoản 4 Điều 8 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”. Quy định này là cơ sở để phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào dù ít hay nhiều đều mang tính nguy hiểm cho xã hội nhưng so với tội phạm, tính nguy hiểm của các vi phạm này không đáng kể. Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ. Để đánh giá một hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không cần dựa vào hai đặc tính: chất và lượng. Hai đặc tính đó hợp thành tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Đối với tính nguy hiểm của hành vi thì đó là tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Vì vậy, cần thiết sửa khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 bằng cách thay tập hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể bằng tập hợp tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể[32].

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 thành:

Điều 8. Khái niệm tội phạm

1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện có lỗi và bị quy định trong pháp luật hình sự.

2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.

Nguồn: Tạp chí Nhà nước và pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học Xã hội Việt Nam

(số 2(322)/2015)

*, ** Giảng viên, trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

[1] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa – Lê Thị Sơn, “Về phần chung Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Luật học, Đặc san 9/2011, tr. 23 – 29.

[2] Xem: Hồ Sỹ Sơn, “Tội phạm và các dấu hiệu của tội phạm nhìn từ góc độ so sánh pháp luật hình sự ở một số nước trên thế giới”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2012, tr 92.

[3] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 93.

[4] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 158

[5] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Thụy Điển, Nxb. Công an nhân dân, 2010.

[6] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

[7] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 159 – 160.

[8] Trường Đại học Luật Hà Nội, Bộ luật hình sự Liên Bang Nga, Nxb. Công an nhân dân, 2011.

[9] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160.

[10] Xem: Đinh Bích Hà (Dịch và giới thiệu): Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nxb. Tư pháp,Hà Nội, 2007, tr 41 – 42.

[11] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 160 – 161.

[12] Xem: Hồ Sỹ Sơn, tlđd, tr 92.

[13] Xem: Nguyễn Tuyết Mai, “Khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ vài nét so sánh với pháp luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Luật học số 1/2011, tr. 63 – 64.

[14] Xem: Trịnh Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2013.

[15] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2010.

[16] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 171.

[17] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 168.

[18] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa, sđd, tr 20.

[19] Xem: Trần Quang Tiệp, Lịch sử Luật hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr 136.

[20] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 165.

[21] Xem: Nguyễn Ngọc Hòa và các tác giả khác, “Sửa đổi Bộ luật hình sự Việt Nam với việc chuẩn hóa các thuật ngữ và các định nghĩa khái niệm trong phần chung”, Tạp chí Luật học, số 7/2014, tr 20.

[22] Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1997, tr. 472

[23] Xem: Tổ biên tập Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi), Dự thảo Phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi), ngày 12/10/2014 .

[24] Xem: Lê Văn Cảm - Đinh Hoàng Quang, “Những kiến giải lập pháp cụ thể về chế định đạo luật hình sự trong Chương I Dự thảo phần chung Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 19 tháng 10/2014, tr 26.

[25] Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam Tập I, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr 136

[26] Trường Đại học Luật Hà Nội, sđd, tr 136

[27] Xem: Trương Quang Vinh, “Bàn về khái niệm tội phạm trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999”, Tạp chí luật học, số 03/2003.

[28] Xem: Trịnh Tiến Việt, Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu mới của đất nước, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội, 2012, tr 82.

[29] Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999.

[30] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 161 – 163.

[31] Xem: Trương Quang Vinh, tlđd

[32] Xem: Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, sđd, tr 167.

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi