Cần hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi phù hợp các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013

 

Ths. Đinh Hoàng Quang

Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 là một văn kiện pháp lý đặc biệt quan trọng trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt ở đó có chứa đựng rất nhiều chế định mới liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, trong đó có chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Vấn đề quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những nội dung quan trọng đối với chế độ một Nhà nước. Ở nước ta, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận sau khi Nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam ra đời. Bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đã ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và ngày càng được ghi nhận một cách đầy đủ và phát triển hoàn thiện hơn trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 nhưng "quyền con người" lần đầu tiên được nhắc đến ở Hiến pháp 1992. Hiến pháp năm 1992 thừa nhận thuật ngữ "quyền con người", không đồng nhất quyền con người với quyền công dân, nhưng ở đó chưa phân biệt được quyền con người, quyền cơ bản của công dân trong các quy định của Hiến pháp. Khắc phục thiếu sót đó, Hiến pháp sửa đổi năm 2013 đã có sự phân biệt khác nhau giữa "quyền con người" và "quyền công dân", tạo ra nhận thức mới trong tư tưởng, đồng thời là cơ sở để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các đạo luật để cụ thể hóa trực tiếp những quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, trong đó có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Việc nhận thức rõ về "quyền con người, quyền công dân" phải được ghi nhận trong các nguyên tắc của tố tụng hình sự và được cụ thể hóa trong các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi một số quy định tại Chương II – Những nguyên tắc cơ bản Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

Thứ nhất, sửa đổi Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.

Điều 14 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:

"1. Ở nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng"

Như vậy, bên cạnh các quyền công dân được bảo đảm thì quyền con người cũng phải được đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật, đặc biệt trong tố tụng hình sự. Đây là một nguyên tắc hiến định, bởi vì ngoài những chủ thể là công dân của nước Việt Nam thì những chủ thể khác (người không có quốc tịch Việt Nam) khi tham gia tố tụng hình sự phải được đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Quyền con người, quyền công dân phải được đảm bảo một cách toàn diện, không chỉ những quyền cơ bản của công dân mà toàn bộ những quyền về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội không bị hạn chế phải được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Theo đó, Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 phải ghi nhận những nội dung này; cụ thể,  chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

" Điều 4. Tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân

Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa.

Chỉ có thể áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân quy định tại Bộ luật này trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng"

Thứ hai, sửa đổi Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật

Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật" và tại khoản 3 Điều 26 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới"; như vậy, quyền bình đẳng của con người phải được pháp luật bảo vệ, đặc biệt bảo đảm không phân biệt đối xử về giới tính. Việc chỉ quy định bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật cho công dân theo như quy định Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 là bó hẹp. Theo chúng tôi, cần phải mở rộng đối tượng được bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật là mọi người (bao gồm cả công dân nước Việt Nam và người không mang quốc tịch Việt Nam); do đó cần sử dụng thuật ngữ “mọi người” thay cho “công dân” trong quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Đồng thời, trong điều luật cần bổ sung quy định cấm phân biệt về giới tính. Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành:

" Điều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật

Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng, tôn giáo, giới tính, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật."

Thứ ba, sửa đổi Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân và Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phầm, tài sản của công dân

Khoản 1, 2 Điều 20 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:

" 1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định"

Theo đó, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền con người (bao gồm quyền của công dân Việt Nam và quyền của những người không mang quốc tịch Việt Nam), không phải chỉ riêng là quyền công dân như quy định tại Điều 6, 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm...”, theo đó đã bao hàm nội dung nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người như Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người như Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Việc đưa nội dung hai nguyên tắc này thành một có những điểm hợp lý, bởi vì, trên thực tế, quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người thường đi cùng với quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của con người, ví dụ như: hành vi bức cung, nhục hình xâm phạm thân thể của con người đồng thời cũng xâm hại đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người hoặc như hành vi bắt, giam giữ người trái pháp luật vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể con người nhưng cũng ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm của người bị bắt... rất khó để tách bạch hành vi chỉ xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân mà không xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân và ngược lại. Do đó, chúng tôi cho rằng nên nhập hai điều 6, 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành một điều luật quy định chung với tên gọi Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể và bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người.

 

Mặt khác, cũng tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định “nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”, tuy nhiên, với hành vi tra tấn, bạo lực xâm phạm tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người thì chưa được quy định như tại khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013. Do đó, cần phải bổ sung quy định nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực trong quy định này. Đồng thời, với lập luận nhập hai điều 6 và 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như trên, chúng tôi cho rằng quy định chung cho việc nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và quy định “mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản đều bị xử lý theo pháp luật” tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành quy định “nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”  như tại khoản 1 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 là hoàn toàn hợp lý.

Ngoài ra, tại Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”; theo đó, đối tượng cần được bảo vệ ở đây bao gồm người bị hại, người làm chứng, người tham gia tố tụng khác và người thân thích của họ. Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài những đối tượng này ra thì người tố giác tội phạm là người cần được bảo vệ theo pháp luật, điều này được quy định tại Thông tư liên tịch số 13/2013/TTLT-BCA-BQP-VKSNDTC-TANDTC ngày 26/12/2013 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người thân thích của họ trong tố tụng hình sự. Do đó, cần phải bổ sung cụm từ “người tố giác tội phạm” trong quy định của điều luật.

Trên cơ sở đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 6,7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành một điều 6 như sau:

" Điều 6. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể và bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.

Nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của Bộ luật này.

3. Người bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật."

 Thứ tư, sửa đổi Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân

Điều 21 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:

"1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.

Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

2. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.

Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư của người khác."

Khoản 2, 3 Điều 22 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:

"2. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý.

3. Việc khám xét chỗ ở do luật định."

Như vậy, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác là quyền của mỗi cá nhân, không phụ thuộc cá nhân đó có phải là công dân hay không. Do đó, Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 phải sửa đổi, mở rộng chủ thể được đảm bảo ở đây là cá nhân chứ không chỉ công dân; đồng thời, mở rộng đối tượng được đảm bảo là đời sống riêng tư, bí mật gia đình và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác cho phù hợp với quy định tại Điều 21, 22 Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 8 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành:

" Điều 8. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân

 Không ai được xâm phạm chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của con người.

Việc khám xét chỗ ở, bóc mở, kiểm soát, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác khi tiến hành tố tụng phải theo đúng quy định của Bộ luật này."

 Thứ năm, sửa đổi Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"

Điều luật khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự và cần được ghi nhận thành nguyên tắc trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cũng đã thể hiện nguyên tắc này nhưng trong quy định có những nội dung chưa hợp lý như tên điều luật dài, gần như trùng với nội dung trong điều luật, việc quy định "phải chịu hình phạt" trong điều luật cũng không hợp lý vì trên thực tế, không phải người phạm tội nào cũng phải chịu hình phạt, vì những điều kiện cụ thể, người phạm tội có thể được miễn hình phạt theo Điều 54 BLHS, được miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 19, 25 và khoản 2 Điều 69 BLHS, hoặc người bị kết án phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo Điều 60 BLHS hoặc được áp dụng biện pháp tư pháp). Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 9 với tên gọi Suy đoán vô tội, đồng thời nội dung bên trong điều luật thể hiện rõ theo khoản 1 Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013; cụ thể như sau:

"Điều 9. Suy đoán vô tội

Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh có tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. "

Thứ sáu, sửa đổi Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Khoản 4 Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa"

Như vậy, theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 thì quyền bào chữa phải được đảm bảo thực hiện từ khi người bị tình nghi phạm tội bị bắt, đây là quy định hợp lý, đảm bảo quyền con người, do đó cần bổ sung quy định này trong nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đồng thời bổ sung quy định nhờ luật sư bào chữa; cụ thể sửa đổi Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành:

" Điều 11. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo

Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này."

 Thứ bảy, sửa đổi Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định bảo đảm quyền được  bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan

Khoản 5 Điều 31 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật"

Theo đó, quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và khôi phục danh dự được mở rộng hơn, chủ thể được bảo đảm các quyền này không chỉ bao gồm người bị oan như trong Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự mà bao gồm những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật. Quy định này rộng hơn, bao hàm cả các trường hợp bị oan và những trường hợp không bị oan nhưng bị áp dụng các Quyết định, các biện pháp ngăn chặn trái pháp luật. Do đó, Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 cần phải sửa đổi cho phù hợp, cụ thể sửa đổi Điều 29 thành:

" Điều 30. Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử trái pháp luật

Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi.

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự vi phạm pháp luật trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị thiệt hại; người đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật"

 Thứ tám, sửa đổi Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Điều 30 Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định:

"1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác."

Theo đó, quyền khiếu nại, tố cáo không chỉ dành riêng cho công dân mà đây là quyền của mọi người, ai cũng có quyền khiếu nại, tổ cáo về việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân và trong tố tụng hình sự cũng vậy, quyền được khiếu nại, tố cáo phải được đảm bảo cho mọi người. Trong hoạt động tố tụng hình sự, chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo chỉ gồm cơ quan và cá nhân có thẩm quyền, không bao gồm tổ chức không phải là các cơ quan tiến hành tố tụng. Theo đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 31 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thành:

" Điều 31. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khiếu nại, cá nhân tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

Trình tự, thủ tục và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định"./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Số 15 – tháng 8/2014)

            

 

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi