Một số ý kiến góp ý vào Phần thứ năm Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)

 

ĐINH HOÀNG QUANG*

Tháng 10/2014, Tổ biên tập của Ban soạn thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao vừa đưa ra Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) (sửa đổi) để gửi xin ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp. Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định về thi hành bản án và quyết định của Tòa án đã khắc phục nhiều hạn chế của BLTTHS năm 2003 như: các quy định đã được sửa đổi cho phù hợp với Luật thi hành án hình sự (Luật THAHS)và phù hợp với thực tế; sửa các tên điều luật để làm rõ thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án, đảm bảo tính khoa học, phù hợp với nội dung quy định…[1] Tuy nhiên, khi nghiên cứu Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi), chúng tôi có một số góp ý sau:

Thứ nhất, Điều 356 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

Khoản 1 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định những bản án, quyết định được thi hành trong đó bao gồm: Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; Bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; Quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài; Quyết định thi hành án đối với công dân Việt Nam trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ và tiếp tục thi hành án tại Việt Nam

Điều luật đã được sửa đổi cho phù hợp với Luật THAHS hiện hành, phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, đối với bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng mặc dù được quy định thuộc bản án, quyết định được thi hành theo khoản 1 Điều 2 Luật THAHS nhưng không được quy định trong khoản 1 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi). Việc không quy định bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng là một trong những bản án, quyết định được thi hành là mâu thuẫn khi khoản 4, 5 Điều 358 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định: Cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần được Tòa án chỉ định có trách nhiệm thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh; Trường giáo dưỡng được Tòa án chỉ định có trách nhiệm thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Khoản 2 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định trường hợp bị cáo đang bị tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.  Tuy nhiên, tại Điều 227 BLTTHS năm 2003 và hiện nay là Điều 320 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định về trả tự do cho bị cáo; theo đó, Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác trong trường hợp bị cáo không có tội; bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt; bị cáo bị xử phạt bằng các hình phạt không phải là hình phạt tù; bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo; Thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Đối chiếu với quy định trên thì có thể thấy khoản 2 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) cũng chính quy định việc hủy bỏ biện pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Do đó, chúng tôi cho rằng việc quy định tại khoản 2 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) không thuộc quy định tại Điều 356 về bản án, quyết định được thi hành.

Khoản 3 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định: “Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định nêu tại khoản 1 và khoản 2 điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự”. Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án được thi hành theo khoản 1 Điều 356 còn bao gồm việc thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, quyết định dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án hình sự mà việc thi hành bản án, quyết định này được thực hiện theo Luật THADS năm 2008[2]. Điều này phù hợp với khoản 6 Điều 358 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định “Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, quyết định dân sự và việc xử lý vật chứng trong vụ án hình sự...”. Do đó, chúng tôi cho rằng cần mở rộng quy định việc thực hiện thi hành bản án , quyết định theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự và pháp luật thi hành án dân sự.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) thành:

Điều 356. Bản án, quyết định được thi hành

1. Những bản án, quyết định được thi hành là những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành, bao gồm:

a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;

b) Bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;

d) Quyết định của Tòa án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài; Quyết định thi hành án đối với công dân Việt Nam trong trường hợp Tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ và tiếp tục thi hành án tại Việt Nam.

e) Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.

2. Nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, quyết định nêu tại khoản 1 và khoản 2 điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự và pháp luật thi hành án dân sự.

Thứ hai, Điều 357 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

Khoản 2 Điều 357 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định: “…Trường hợp Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm ủy thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án, thì thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày, kể từ ngày tòa án nhận ủy thác nhận được quyết định ủy thác thi hành án” là không hợp lý. Tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ năm “Thi hành bản án và quyết định của Tòa án” của Bộ luật tố tụng hình sự hướng dẫn Điều 256 BLTTHS; theo đó trong trường hợp Toà án được uỷ thác đã ra quyết định thi hành án và được cơ quan Công an thông báo là người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn hành chính khác thì trả lại hồ sơ uỷ thác thi hành án cho Toà án đã uỷ thác. Như vậy, nếu người bị kết án đã chuyển nơi cư trú đi địa bàn hành chính khác thì Tòa án nhận ủy thác không thực hiện được việc ra quyết định thi hành án. Và do đó, quy định này cần phân ra thành hai trường hợp: Tòa án nhận ủy thác phải thông báo cho Tòa án đã ủy thác nếu người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn hành chính khác hoặc ra quyết định thi hành án nếu thực hiện được.   

Khoản 3 Điều 357 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định “Trình tự, thủ tục đưa bản án, quyết định ra thi hành; việc gửi quyết định thi hành án, trích lục bản án hoặc quyết định được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự” là chưa đúng, vì như trên đã phân tích, đối với việc thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, quyết định dân sự và việc xử lý vật chứng trong vụ án hình sự thì được thực hiện theo Luật THADS. Tại nội dung này chúng tôi cho rằng cần phân định rõ việc thi hành theo Luật THAHS và Luật THADS.

Khoản 4 Điều 357 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định các trường hợp không phải ra quyết định thi hành, bao gồm: “Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay;  Thi hành hình phạt cảnh cáo” chưa thực sự chính xác. Khoản 1 Điều 71 Luật THAHS quy định: “hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa do Tòa án tuyên” và như vậy, thi hành cảnh cáo thuộc trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay; do đó, không cần thiết phải tách thành hai nội dung trong trường hợp này.

Mặt khác, trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay được giải thích theo khoản 2 Điều 356 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) bao gồm: Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị, kháng cáo. Tuy nhiên, trong trường hợp Tòa án tuyên hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì Tòa án vẫn phải ra Quyết định thi hành án theo quy định của Luật THAHS. Do đó, cần phải loại bỏ các trường hợp này ra khỏi trường hợp không phải ra quyết định thi hành.

Một trường hợp khác trên thực tế hiện nay, quyết định được thi hành ngay, đó là trường hợp người bị kết án tử hình được Chủ tịch nước ân giảm xuống tù chung thân. Vấn đề này hiện pháp luật chưa điều chỉnh có ra quyết định thi hành án phạt tù hay không? Do đó, theo chúng tôi cần bổ sung trường hợp này thuộc trường hợp được thi hành ngay mà không cần phải ra quyết định thi hành án.

Khoản 5 Điều 357 Phần 5 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định “Trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan Công an để thi hành án” chưa thực sự cụ thể. Bởi vì, theo quy định khoản 1 Điều 21 Luật THAHS thì trường hợp người bị kết án đang tại ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc. Như vậy, cần quy định rõ người bị kết án có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng cần sửa đổi Điều 357 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) thành:

“Điều 357. Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án

1. Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.

2. Thời hạn ra quyết định thi hành án là bảy ngày, kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.

Trường hợp Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm ủy thác cho Toà án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án, thì trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày tòa án nhận ủy thác nhận được quyết định ủy thác thi hành án thì Tòa án nhận ủy thác phải ra quyết định thi hành án hoặc thông báo cho Tòa án đã ủy thác biết việc người bị kết án đã chuyển đi cư trú tại địa bàn hành chính khác

3. Trình tự, thủ tục đưa bản án, quyết định ra thi hành; việc gửi quyết định thi hành án, trích lục bản án hoặc quyết định được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự và Luật thi hành án dân sự.

4. Các trường hợp không phải ra quyết định thi hành, bao gồm:

a) Tòa án quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam.

b) Thi hành hình phạt cảnh cáo

c) Thi hành quyết định ân giảm án tử hình xuống tù chung thân của Chủ tịch nước.

5. Trong trường hợp người bị kết án đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó làm việc.

Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn, thì Chánh án Toà án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.”

Thứ ba, Điều 358 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

Điều 358 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án; theo đó đã phân rõ việc các cơ quan thi hành án theo từng loại hình phạt và các biện pháp tư pháp được thi hành. Tuy nhiên, đối chiếu với các quy định trong Luật THAHS và Luật THADS thì có những quy định chưa hợp lý; cụ thể như:

Khoản 1 Điều 358 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định: “Cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân thi hành hình phạt trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình theo quy định của Bộ luật này”. Việc thi hành hình phạt trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình không phải chỉ thực hiện theo BLTTHS mà còn được thực hiện theo Luật THAHS. Việc quy định Cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân thi hành hình phạt trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình cũng chưa thể hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thi hành án hình sự, bởi vì đối với việc thi hành những hình phạt khác thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, quản chế và án treo thì cơ quan thi hành án hình sư công an cấp huyện có nhiệm vụ tiếp nhận bản án, quyết định thi hành án, các tài liệu có liên quan, lập hồ sơ thi hành án để chuyển giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, quản chế và án treo theo quy định của Luật này[3]

Để đảm bảo BLTTHS chỉ điều chỉnh những vấn đề có tính nguyên tắc chung nhất của hoạt động thi hành án[4], chúng tôi cho rằng việc quy định cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án chỉ cần chỉ dẫn các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành theo Luật THAHS và Luật thi hành án dân sự (Luật THADS). Cụ thể, Điều 358 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) được quy định như sau:

 

Điều 358. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của Toà án

1. Việc thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp do các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án hình sự thực hiện.

2. Việc thi hành bản án, quyết định về hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự do các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự thực hiện.

Thứ tư, Điều 360 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)

Điều 360 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi) quy định về điều kiện miễn chấp hành hình phạt tù còn lại có điều kiện. Tuy nhiên, hiện nay, Điều 57 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về miễn chấp hành hình phạt; trong đó quy định các điều kiện để miễn chấp hành hình phạt. Như vậy, việc quy định về điều kiện miễn chấp hành hình phạt tù còn lại có điều kiện ở BLTTHS sẽ dẫn đến sự chồng chéo giữa BLTTHS với BLHS. Thật ra, chúng tôi cho rằng Luật hình sự là luật nội dung quy định về điều kiện để được miễn chấp hành hình phạt còn Luật tố tụng hình sự là luật hình thức quy định việc thi hành việc miễn chấp hành hình phạt. Do đó, cần bỏ quy định tại Điều 360 Dự thảo BLTTHS (sửa đổi)./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 07 (tháng 4/2015)

 

* Thạc sỹ, Giảng viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội.

[1] Xem: phần thuyết trình sửa đổi, bổ sung Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự, Tháng 10/2014.

[2] Điều 1 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

[3] Khoản 2 Điều 15 Luật thi hành án hình sự năm 2010.

[4] Báo cáo kết quả tổng kết việc thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và đề xuất những vấn đề sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi