Sửa đổi phần thứ năm của Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án và quyết định của Tòa án


Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kì họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2004 đã góp phần có hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thi hành những vướng mắc, bất cập trong các quy định của BLTTHS cũng như trong khâu tổ chức thi hành pháp luật đã bộc lộ. Để khắc phục những vướng mắc, bất cập này đòi hỏi phải sửa đổi BLTTHS trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS, tiếp tục kế thừa những quy định đang phát huy tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta.

Luật thi hành án dân sự (Luật THADS) năm 2008 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2009) và Luật thi hành án hình sự (Luật THAHS) năm 2010 (có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2011) quy định khá cụ thể các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án. Tuy nhiên, khi nghiên cứu các luật này, chúng tôi thấy rằng có nhiều quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành án vẫn cần được điều chỉnh bởi BLTTHS, cụ thể như: việc ra quyết định thi hành án; thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành; thẩm quyền của toà án khi ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù; việc xoá án tích... Bên cạnh đó, một số quy định của BLTTHS không còn phù hợp khi đặt trong mối quan hệ với các luật này. Do đó, việc sửa đổi Phần thứ năm của BLTTHS về thi hành bản án và quyết định của toà án để bảo đảm việc phân định hợp lí giữa phạm vi điều chỉnh của BLTTHS với các luật trên là vấn đề cần thiết.

Trên cơ sở so sánh giữa BLTTHS và Luật THAHS, Luật THADS, chúng tôi đề xuất góp ý sửa đổi Phần thứ năm của BLTTHS như sau:

Thứ nhất, cần sửa đổi, bổ sung Điều 255 BLTTHS quy định về những bản án và quyết định được thi hành.

Khoản 1 Điều 255 BLTTHS quy định về những bản án và quyết định được thi hành bao gồm: bản án và quyết định của toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; bản án và quyết định của toà án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của toà án.

Điều 2 Luật THAHS quy định về bản án, quyết định được thi hành bao gồm: bản án hoặc phần bản án của toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; bản án của toà án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của toà án. Bản án hoặc quyết định của toà án được thi hành ngay theo quy định của BLTTHS. Quyết định của toà án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài; bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng.

So sánh hai quy định trên cho thấy quy định về bản án, quyết định được thi hành có sự khác nhau. Theo đó, Điều 2 Luật THAHS đã bổ sung quy định "và đã có quyết định thi hành" (do chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm hoặc chánh án toà án được uỷ thác ra quyết định) so với khoản 1 Điều 255 BLTTHS. Rõ ràng, trên thực tế, thời điểm bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật với thời điểm chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm hoặc chánh án toà án được uỷ thác ra quyết định thi hành là khác nhau. Vì vậy, chúng tôi cho rằng đối với quan hệ xã hội phát sinh trong khoảng thời gian từ khi bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa có quyết định thi hành thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật THAHS mà thuộc phạm vi điều chỉnh của BLTTHS. Do đó, cần phải xác định hoạt động thi hành án được bắt đầu ngay khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật bởi việc thi hành án bao gồm cả hoạt động toà án ra quyết định thi hành án, chứ không phải bắt đầu từ khi toà án ra quyết định thi hành án; điều này hoàn toàn phù hợp với quy định viện kiểm sát nhân dân có quyền yêu cầu toà án cùng cấp và cấp dưới ra quyết định thi hành án hình sự theo khoản 1 Điều 141 Luật THAHS.

Ngoài ra, Điều 2 Luật THAHS cũng bổ sung các trường hợp bản án, quyết định của toà án được thi hành so với quy định tại Điều 255 BLTTHS đó là: quyết định của toà án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng. Trong đó, vấn đề thi hành án hình sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại phần thứ tám (Hợp tác quốc tế) của BLTTHS, Luật THAHS và Thông tư liên tịch của Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao số 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC ngày 22/02/2013 hướng dẫn việc tiếp nhận, chuyển giao, tiếp tục thi hành án đối với người đang chấp hành án phạt tù. Theo quy định khoản 4 Điều 4 Thông tư này thì toà án nhân dân cấp tỉnh, nơi người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam có nơi cư trú cuối cùng hoặc nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam xem xét, quyết định việc tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao. Như vậy, quyết định tiếp nhận của toà án Việt Nam là cơ sở để thi hành án phạt tù và do đó, quyết định của toà án trong trường hợp này cũng thuộc quyết định được thi hành theo Điều 255 BLTTHS.

Một trong những nguyên tắc cần xem xét trong việc thi hành bản án của toà án là việc xác định thời hiệu thi hành án. Chỉ những bản án còn trong thời hiệu thi hành bản án thì mới có đủ điều kiện thi hành hình phạt tù và do đó cần quy định trường hợp bản án còn thời hiệu thi hành án là căn cứ để thi hành án trong Điều 255 BLTTHS.

Do đó, chúng tôi cho rằng việc quy định: “Quyết định của toà án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài và bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng” và “bản án còn thời hiệu thi hành án là cơ sở để thi hành án hình sự” là cần thiết tại các khoản 3, 4 Điều 255 BLTTHS.

Từ những phân tích trên, để thống nhất quy định của pháp luật về thi hành án, chúng tôi đề xuất bổ sung Điều 255 BLTTHS như sau:

“Điều 255. Những bản án và quyết định được thi hành

3. Quyết định của toà án Việt Nam tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và đã có quyết định thi hành; quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài;

4. Bản án, quyết định về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng”.

Thứ hai, sửa đổi Điều 256 BLTTHS quy định về thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của toà án

Trên thực tế, một bản án, quyết định của tòa án có thể quyết định về một hình phạt chính và một hoặc một số hình phạt bổ sung hoặc biện pháp tư pháp, án phí, quyết định dân sự...

Theo quy định tại Điều 1 Luật THADS thì Luật THADS quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự....

Theo quy định tại Điều 1 Luật THAHS thì Luật THAHS quy định nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp...

Như vậy, nếu so sánh hai quy định này thì đối với những quyết định hình sự (hình phạt tiền, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm và phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự) việc thi hành được thực hiện theo Luật THADS, những loại quyết định khác được thực hiện theo Luật THAHS. Việc quy định thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo Luật THAHS, Luật THADS là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì hoạt động thi hành án hình sự, thi hành án dân sự mang tính chất là các hoạt động chấp hành, cho dù căn cứ để thi hành là bản án và quyết định của Tòa án, nhưng quá trình thi hành án hình sự, thi hành án dân sự được thực hiện với những hoạt động, biện pháp, cách thức không mang tính tố tụng. Các quy định liên quan đến thủ tục thi hành án, chế độ thi hành án được Luật THAHS và Luật THADS điều chỉnh, BLTTHS chỉ điều chỉnh những nguyên tắc chung nhất của hoạt động thi hành án. Do đó, Điều 256 BLTTHS quy định về thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của tòa án cần quy định rõ về việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo Luật THAHS và theo Luật THADS.

Ngoài ra, đối với trường hợp người bị kết án tử hình sau khi được Chủ tịch nước ân giảm xuống tù chung thân, tuy pháp luật không quy định việc toà án ra quyết định thi hành án phạt tù nhưng chúng tôi cho rằng, về mặt logic, chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành hình phạt tù (tù chung thân) đối với bị án trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ân giảm của Chủ tịch nước. Bởi vì, đây là quyết định quan trọng đánh dấu thời điểm người bị kết án chấp hành án phạt tù để xác định việc xét giảm thời hạn chấp hành án khi phạm nhân được giảm thời hạn chấp hành án xuống 30 năm tù, đồng thời đảm bảo được yêu cầu về hồ sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án theo quy định tại Điều 25 Luật THAHS. Thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận được quyết định ân giảm của Chủ tịch nước, Chánh án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành án trong trường hợp này cũng phù hợp với thời hạn ra quyết định thi hành án trong trường hợp thông thường khác. Ngoài ra, đối với người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam cũng được trừ vào thời gian chấp hành án trong trường hợp được xét ân giảm từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 256 BLTTHS, đối với “trường hợp người bị kết án phạt tù tại ngoại mà bỏ trốn thì chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan công an cùng cấp ra quyết định truy nã”. Quy định “cơ quan công an cùng cấp ra quyết định truy nã” không còn phù hợp với quy định của Luật THAHS vì theo các điều 10, 13, 14, 15 Luật THAHS, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện có trách nhiệm áp giải việc thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm ra quyết định truy nã đối với các trường hợp bỏ trốn. Ngoài ra, trên thực tế, việc yêu cầu cơ quan có trách nhiệm thi hành bản án, quyết định của toà án (cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh và cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu) áp giải hoặc truy nã người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn cũng được viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện nhằm đảm bảo việc tuân theo pháp luật của các cơ quan này trong việc đưa bản án, quyết định của toà án ra thi hành theo quy định tại khoản 6 Điều 141 Luật THAHS. Do đó, cần quy định viện kiểm sát nhân dân cũng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu truy nã người bị kết án đối với người bị kết án phạt tù bỏ trốn cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Từ những phân tích trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi, bổ sung các khoản 2, 3, 4, 5, 6 Điều 256 BLTTHS như sau:

“Điều 256. Thủ tục đưa ra thi hành bản án và quyết định của toà án

“2. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được quyết định ân giảm của Chủ tịch nước chuyển từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân, chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án.

3. Việc thi hành bản án và quyết định của toà án về hình phạt tiền, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm và phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự được thi hành theo quy định cuả Luật THADS năm 2008.

4. Việc thi hành các bản án và quyết định của toà án ngoài thi hành bản án và quyết định của toà án về hình phạt tiền, tịch thu tài sản và biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và Luật THAHS năm 2010.

5. Trong trường hợp Chủ tịch nước ân giảm chuyển từ hình phạt tử hình xuống tù chung thân thì chánh án toà án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ân giảm của Chủ tịch nước.

6. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án, viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cùng cấp yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã.”

Thứ ba, cần sửa đổi Điều 257 BLTTHS quy định về cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của toà án.

Luật THAHS đã quy định những cơ quan chuyên trách nằm trong hệ thống cơ quan thi hành án hình sự, do đó việc quy định cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của toà án theo Điều 257 BLTTHS không còn phù hợp. Chúng tôi cho rằng Điều 257 BLTTHS chỉ cần quy định những nội dung mang tính nguyên tắc chung nhất của hoạt động thi hành án. Cụ thể, cần quy định các bản án và quyết định được thi hành theo Luật THAHS; các bản án và quyết định được thi hành theo Luật THADS  và việc thi hành bản án, quyết định của toà án quân sự với các bản án và quyết định của toà án không thuộc lĩnh vực quân sự.

Cụ thể, các khoản 1, 2 Điều 257 BLTTHS cần sửa đổi như sau:

“Điều 257. Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án và quyết định của toà án

1. Việc thi hành bản án và quyết định của toà án về hình phạt tiền, tịch thu tài sản và biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm do các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự đảm nhiệm.

2. Việc thi hành bản án và quyết định của toà án, trừ việc thi hành bản án và quyết định của toà án về hình phạt tiền, tịch thu tài sản và biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền liên quan đến tội phạm do các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án hình sự đảm nhiệm”.

Thứ tư, cần sửa đổi Chương XXI BLTTHS về thi hành hình phạt tử hình, trong đó bỏ Điều 259 về thi hành hình phạt tử hình vì vấn đề này đã được thực hiện theo Chương IV Luật THAHS. Tuy nhiên, việc cần lưu ý thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành là hết sức cần thiết, do đó vấn đề này cần được quy định trong BLTTHS như hiện nay.

Thứ năm, cần sửa đổi Chương XXVII về thi hành hình phạt tù và các hình phạt khác và Chương XXVIII về giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt.

Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù và việc thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù được quy định khá cụ thể tại Điều 23, 24 Luật THAHS, nội dung quy định này không khác so với Điều 261 BLTTHS. Tuy nhiên, ở các điều 23, 24 Luật THAHS không quy định về điều kiện hoãn chấp hành hình phạt tù phải được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 61 BLHS và trường hợp Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện áp giải người bị kết án đi chấp hành án phạt tù nếu quá bảy ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù mà người bị kết án không có mặt tại Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được chỉ định. Do đó, chúng tôi cho rằng Điều 261 BLTTHS chỉ quy định những nội dung mang tính nguyên tắc về hoãn chấp hành hình phạt tù và những nội dung chưa được quy định tại Luật THAHS; cụ thể, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 261 BLTTHS như sau:

“Điều 261. Hoãn chấp hành hình phạt tù

1. Người bị xử phạt tù đang được tại ngoại có thể được hoãn chấp hành án phạt tù trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 61 của Bộ luật hình sự.

2. Nếu quá thời hạn bảy ngày, kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù.”

Mặc dù việc thi hành hình phạt tù và các hình phạt khác được quy định khác cụ thể trong Luật THAHS, Luật THADS, tuy nhiên đối với quy định hoãn chấp hành hình phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, cần quy định về điều kiện áp dụng và thẩm quyền của toà án ra các quyết định này như Điều 261 và Điều 262 BLTTHS. Tuy nhiên, cách hiểu về sự khác nhau giữa hoãn chấp hành án phạt tù với tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cũng cần phải có nhận thức lại. Điều 61 Bộ luật hình sự (BLHS) quy định “người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt...”, Điều 62 BLHS quy định “người đang chấp hành hình phạt tù... có thể được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù”, từ đó có thể hiểu người bị kết án có đủ điều kiện mà chưa chấp hành án thì có thể được hoãn chấp hành án; nếu đang chấp hành án phạt tù thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Riêng Điều 261 BLTTHS lại quy định: “Đối với người bị xử phạt tù đang được tại ngoại, chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án có thể... cho hoãn chấp hành hình phạt tù”. Vấn đề đặt ra là trong trường hợp người bị xử phạt tù bị tạm giam để chờ thi hành án, có đủ điều kiện thì được hoãn chấp hành án phạt tù hay tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù? Mặt khác, thời điểm để xác định người đó chấp hành án là từ khi chánh án toà án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hay cơ quan quản lí thi hành án hình sự (Bộ công an hoặc Bộ quốc phòng) ra quyết định đưa người bị kết án đi chấp hành án hay thời điểm cơ sở giam giữ (trại giam, trại tạm giam) nhận người bị kết án? Vấn đề này đã được giải quyết tại Điều 10 Thông tư liên tịch của Bộ công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, toà án nhân dân tối cao, Bộ quốc phòng, Bộ y tế số 03/2010/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT ngày 15/5/2013 hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân. Theo đó, đối với người bị kết án đang chờ đi chấp hành án có đủ điều kiện thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

Mặt khác, thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù theo quy định tại khoản 1 Điều 262 BLTTHS cũng không còn chính xác. Khoản 1 Điều 31 Luật THAHS, Điều 5 Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT ngày 15/5/2013 quy định trại giam, trại tạm giam (đối với bị án đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Bộ công an, trại tạm giam thuộc Bộ quốc phòng), cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cấp quân khu (đối với bị án đang chấp hành án tại nhà tạm giữ công an huyện, trại tạm giam công an tỉnh, trại tạm giam thuộc quân khu), viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, viện kiểm sát nhân dân cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù có thẩm quyền đề nghị tạm đình chỉ cho người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù.

Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa các khoản 1, 2 Điều 262 BLTTHS như sau:

 “Điều 262. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù

1. Theo đề nghị của viện kiểm sát hoặc của trại giam, trại tạm giam (đối với bị án đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Bộ công an, trại tạm giam thuộc Bộ quốc phòng), cơ quan thi hành án hình sự công an cấp tỉnh, cấp quân khu (đối với bị án đang chấp hành án tại nhà tạm giữ công an huyện, trại tạm giam công an tỉnh, trại tạm giam thuộc quân khu) nơi người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù:

a) Chánh án toà án cấp tỉnh nơi người đang chấp hành hình phạt tù có thể cho người đó được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 61 và Điều 62 của BLHS;

b) Chánh án toà án đã ra quyết định thi hành án có thể cho người đang chấp hành hình phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù trong các trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 61 và Điều 62 của BLHS.

Chậm nhất là 7 ngày trước khi hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, chánh án toà án đã cho tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù phải ra quyết định thi hành án đối với phần hình phạt còn lại và phải gửi ngay quyết định đó cho cơ quan công an cùng cấp nơi toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ và người bị kết án.

Nếu quá thời hạn 7 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người bị kết án không có mặt tại Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đi chấp hành hình phạt tù mà không có lý do chính đáng, thì Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải áp giải người bị kết án đi chấp hành hình phạt tù.

3. Người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam để chờ đi thi hành án nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 61 và Điều 62 của BLHS thì có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù”.

Ngoài ra, việc quy định: “Nếu trong thời gian được hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt mà người bị kết án có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì chánh án toà án đã cho hoãn hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù huỷ bỏ quyết định đó và ra quyết định thi hành án để bắt họ đi chấp hành hình phạt tù” tại khoản 2 Điều 263 BLTTHS là không phù hợp vì theo quy định của Luật THAHS năm 2010 thì đối với những trường hợp này, cơ quan thi hành án hình sự công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị chánh án toà án đã ra quyết định hoãn huỷ bỏ quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ (khoản 4 Điều 24 và khoản 4 Điều 32 Luật THAHS năm 2010) mà không ra quyết định thi hành án để bắt họ đi chấp hành hình phạt.

Trên cơ sở đó, chúng tôi đề nghị bỏ các điều 260, 263, 264, 265, 266 và 267 BLTTHS; bổ sung quy định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án đang chờ đi chấp hành án tại Điều 262 BLTTHS./.

ThS. Đinh Hoàng Quang - Trường ĐHKSHN

Nguồn: Tạp chí Luật học số 12/2013

 

Ý kiến bạn đọc
Tham gia ý kiến về bài viết trên
Ý kiến của bạn:
Mã xác nhận:   Gửi